1
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Thế
Vĩnh đó tận tình giúp đỡ tôi về mặt chuyên môn, hƣớng nghiên cứu, cách tổ
chức, triển khai và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trƣờng
Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học
tại Trƣờng.
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và ngƣời
thân đó giúp đỡ, tạo điều kiện giúp cho tôi rất nhiều mặt trong khóa học
của mình.
Hà nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Nhƣ Nguyệt
2
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp của tôi đƣợc hoàn thành dƣới sự hƣớng dẫn của
Th.S. Trần Thế Vĩnh. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi chƣa đƣợc công bố trên bất kỳ công trình nào.
Hà nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Nhƣ Nguyệt
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NỘI DUNG ........................................................................................................ 9
Chƣơng 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ
TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ .......... 9
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, VI LÊNIN ....................... 9
1.2. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ ............................................................................................. 14
Chƣơng 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRONG NHỮNG NĂM TƢ̀ 1996 ĐẾN 2006 ............................................... 21
2.1. NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ LÃNH ĐẠO SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ......................................................................................................... 21
2.2. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRƢỚC NĂM 1996 .......................................................... 22
2.2.1. Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1945- 1954 ................... 23
2.2.2. Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1954- 1975 ................... 26
2.2.3. Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1975 - 1985 ................. 28
2.2.4. Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1985 - 1995 .................. 32
2.3. CHỦ TRƢƠNG, ĐƢỜNG LỐI CỦA ĐẢNG ĐỂ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2006 .................... 37
2.4. MỘT SỐ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ QUA QUÁ TRÌNH ĐẢNG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM (1996
- 2006) .............................................................................................................. 56
2.4.1. Thành tựu ....................................................................................... 56
2.4.2 Hạn chế ........................................................................................... 61
2.4.3. Một số bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo phát triển kinh tế
................................................................................................................. 63
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
nhiều góc độ. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc và các nhà khoa học đã
có những tác phẩm, những bài viết về công cuộc lãnh đạo phát triển kinh tế
nhƣ: “Đổi mới tư duy nông nghiệp phải thực sự là mặt trận kinh tế hàng đầu”
của Hữu Thọ (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987); “Một số quan điểm về đổi mới
chính sách và cơ chế quản lý kinh tế” của GS. TS. Phạm Văn Nghiêm (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993); “Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính
6
sách, cơ chế quản lý kinh tế”của tập thể tác giả tham gia biên soạn: GS. TS.
Vũ Đình Bách, GS. TS. Ngô Đình Giao, GS. TS. Phạm Văn Nghiêm, GS.
Hoàng Đạt… (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Đổi mới chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững” của Vũ Đình
Bách, Ngô Đình Giao (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); “Đổi mới
chính sách và cơ chế quản lý tiêu dùng xã hội trong ngân sách nhà nước” của
Nguyễn Văn Châu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đổi mới cơ chế
quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
của PGS Nguyễn Hải Hữu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đổi mới
kinh tế và phát triển” của Vũ Tuấn Anh, Tạp chí Khoa học - xã hội, 1994;
“Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam” của Lê Đăng
Doanh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Đảng Cộng sản Việt Nam
trong tiến trình đổi mới kinh tế” của TS. Hồ Sĩ Lộc, Tạp chí Khoa học - Công
nghệ, 2001; “Quản lý thị trường đối với nền kinh tế nước ta” của Luật gia
Nguyễn Đức Thịnh, Tạp chí Thƣơng mại, 2001; …
Các tác phẩm và bài viết trên đề cập đến nhiều góc độ, khía cạnh khác
nhau về quá trình Đảng lãnh đạo kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Nhƣng chƣa tác phẩm, bài viết nào nghiên cứu một cách có
hệ thống, dƣới góc độ lịch sử về quá trình lãnh đạo kinh tế của Đảng Cộng sản
Việt Nam suốt từ 1996 đến 2006. Bởi vậy, khóa luận là sự kế thừa với mong
muốn đƣợc góp phần bổ sung những khoảng trống còn lại đó.
lãnh đạo của Đảng và con đƣờng đổi mới kinh tế mà Đảng đang tiến hành.
* Giới hạn đề tài
Lãnh đạo kinh tế là một lĩnh vực rộng và sâu, nó bao hàm rất nhiều
những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng. Nhƣng do trình độ bản thân còn
hạn chế nên khóa luận chỉ giới hạn vấn đề ở việc Đảng lãnh đạo kinh tế trong
những năm 1996 đến 2006. Trong đó, tập trung chủ yếu nghiên cứu đƣờng lối
8
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc của Đảng và đƣờng lối lãnh đạo ở các
lĩnh vực khác có liên quan đến phát triển kinh tế cùng với quá trình hiện thực
hóa đƣờng lối đó trong cuộc sống.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, ngƣời viết sử dụng những phƣơng pháp sau:
Kết hợp phƣơng pháp logic với phƣơng pháp lịch sử. Kết hợp phƣơng
pháp khái quát, hệ thống với những phƣơng pháp khác nhƣ: mô tả, phân tích,
chứng minh.
Ngoài ra, còn dùng những phƣơng pháp thống kê, so sánh, sử dụng các biểu
đồ, biểu bảng để thấy rõ quá trình phát triển đƣờng lối lãnh đạo kinh tế của Đảng.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2
chƣơng:
Chương 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về phát triển kinh tế
Chương 2: Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế trong những năm tƣ̀
1996 đến 2006
8. Đóng góp của khoá luận
Khẳng đị nh vai trò của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới đã đƣa nền kinh tế nƣớc tavƣợt qua khó khăn thử thách tiến lên theo
đị nh hƣớng XHCN, tạo nền tảng tƣ tƣởng để phát triển kinh tế cho những thời kỳ
chủ nghĩa tƣ bản, phải bắt tay vào xây dựng một nền đại công nghiệp cơ khí
10
hóa hiện đại và nền đại công nghiệp cơ khí ấy phải đƣợc xây dựng có kế
hoạch, phải tạo ra khả năng vô hạn sản xuất xã hội, phá bỏ lối phân công lao
động xã hội, xóa bỏ cách biệt giữa nông thôn và thành thị, đào tạo ra những
ngƣời phát triển toàn diện, thỏa mãn những nhu cầu phát triển về vật chất và
tinh thần ngày càng tăng lên của con ngƣời. Rõ ràng, quan điểm của Mác hoàn
toàn không đơn thuần chỉ có tính chất kinh tế mà nó bao hàm cả kinh tế và xã
hội, hƣớng vào phát triển nhiều mặt, trong đó con ngƣời là trung tâm.
Nhắc đến những đóng góp của Mác-Ăngghen trong lĩnh vực kinh tế thì ta
không thể không nhắc tới bộ “Tƣ bản”. Tác phẩm nổi tiếng này đã đóng góp
những lý luận về kinh tế quan trọng cho cả thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam.
Trong đề tài này, tôi xin đƣợc đƣa ra một số luận điểm của bộ “Tƣ bản” về
kinh tế mà nó có ý nghĩa với kinh tế nƣớc ta trong quá trình hội nhập mở cửa
trong xu thế toàn cầu hóa.
Quan tâm đầu tiên trong quản lý kinh tế ở Việt Nam là chú ý quán triệt
sâu sắc quy luật tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu
quả của Mác. Có thể coi đây là xu thế phát triển kinh tế của tất cả các nƣớc
XHCN. Mác viết: “tiết kiệm thời gian, kể cả việc phân phối một cách có kế
hoạch, thời gian lao động và những ngành sản xuất khác nhau vẫn là quy luật
kinh tế hàng đầu trên cơ sở sản xuất cộng đồng. Nó lại còn là quy luật ở một
mức độ cao hơn nhiều” [2, tr.89]. Tiết kiệm đƣợc Mác coi là một quy luật, là
vấn đề trung tâm để phát triển kinh tế, phát triển xã hội và con ngƣời mới.
Mác vạch rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiết kiệm thời gian với phát triển
sức sản xuất thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời một cách hợp lý nhất. Trong
thực tế thì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ta cũng đã khẳng
định: Tiết kiệm là một quốc sách lớn, lâu dài phải đƣợc quy định thành chính
sách, chế độ, chỉ tiêu, biện pháp cụ thể,….
12
tốt những nhu cầu trƣớc mắt mà còn phù hợp với sự phát triển lâu dài của
đất nƣớc.
Có thể nói gọn lại là học thuyết kinh tế của Mác-Ănghen chỉ ra sự gắn
liền mối quan hệ xã hội với nền sản xuất lớn, nghĩa là: nền sản xuất lớn đƣợc
hình thành và phát triển trong lòng chủ nghĩa tƣ bản với tất cả những mâu
thuẫn gay gắt của nó, trƣớc hết là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản
xuất với hình thức chiếm hữu tƣ nhân tƣ bản, chủ nghĩa về tƣ liệu sản xuất
khiến cho CNXH trở thành tất yếu. Và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đƣợc xác
lập và củng cố trên cơ sở một nền sản xuất tƣơng ứng; nền sản xuất này là kết
quả của việc cải tạo hoàn chỉnh và phát triển thêm nền sản xuất lớn TBCN,
trong trƣờng hợp cách mạng xã hội chủ nghĩa giành đƣợc thắng lợi ở một
nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển, hoặc nó là kết quả của một công cuộc xây
dựng tự giác từ đầu, hoặc gần nhƣ từ đầu thông qua con đƣờng công nghiệp
hóa XHCN. Trong học thuyết kinh tế của mình, Mác-Ănghen đã giành nhiều
thời gian tâm huyết để bàn về nền sản xuất lớn cho tƣơng lai.
Thấm nhuần sâu sắc và phát triển một cách toàn diện tƣ tƣởng của MácĂnghen về mối liên hệ giữa nền sản xuất lớn với CNXH. Lênin đã xác lập học
thuyết về công nghiệp hóa XHCN, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của
CNXH. Bộ phận chủ đạo trong cái cơ sở vật chất, kỹ thuật này là nền đại công
nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Lênin đã tuyên bố rằng: “Cơ sở kinh
tế duy nhất có thể có đƣợc của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí. Ai quên
điều đó, ngƣời đó không phải là ngƣời cộng sản” [38, tr.60]. Lênin nhấn
mạnh: công nghiệp hóa XHCN phải tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH
đó là đại công nghiệp cơ khí, có khả năng dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế quốc
dân phát triển, ngƣời khẳng định: không có một nền đại công nghiệp đƣợc tổ
chức cao thì không thể nói đến CNXH nói chung đƣợc mà lại càng không thể
nói đến CNXH đối với một nƣớc nông nghiệp. Vì vậy, Lênin cho rằng: sau khi
giai cấp vô sản giành đƣợc chính quyền phải chuyển trọng tâm vào xây dựng
với
hoàn cảnh.
Song sẽ rất thiếu hụt khi đề cập tới những đóng góp về lý luận kinh tế của
Lênin mà không nhắc đến chính sách “Kinh tế mới” của ông. Có thể nói,
những quan điểm về kinh tế mà Lênin đề cập trong NEP là quy luật kinh tế chỉ
đạo cho suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Bao gồm tất cả các biện pháp để
phát triển lực lƣợng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới khác hẳn về
chất so với quan hệ sản xuất tƣ bản cũ. Sau đây, tôi xin đƣợc nêu ra một số
quan điểm cơ bản trong “Chính sách kinh tế mới” làm cơ sở lý luận cho
đề tài.
Trƣớc tiên, là những chính sách chủ yếu để phát triển lực lƣợng sản xuất.
Phát triển lực lƣợng sản xuất cũng là cái đích hƣớng tới của cả xã hội tƣ bản
và của xã hội XHCN. Quan điểm của Lênin là nhà nƣớc chỉ quản lý những
ngành công nghiệp nặng then chốt nhƣ: điện, đƣờng sắt, khoáng sản… còn
những cơ sở xí nghiệp vừa và nhỏ có thể cho tƣ bản nƣớc ngoài thuê bằng
hình thức tô nhƣợng. Có thể thuê các chuyên gia tƣ sản điều hành quản lý kinh
tế qua đó để học tập kinh nghiệm quản lý của họ. Tập trung cho cả phát triển
nông nghiệp để đảm bảo an ninh về lƣơng thực, thực phẩm và nguyên liệu cho
công nghiệp. Khuyến khích tiêu dùng thông qua các chính sách: đổi tiền, mở
chợ, chính sách tiền tệ, chế độ lƣơng thƣởng khuyến khích ngƣời
lao động…
14
Tiếp theo, là một loạt các chính sách mà Lênin đƣa ra hƣớng vào xây
dựng quan hệ sản xuất mới. Đó là ở nƣớc Nga cần duy trì nhiều thành phần
kinh tế: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tƣ bản
nhà nƣớc, kinh tế tƣ bản tƣ nhân trong một thời gian dài của thời kỳ quá độ.
Chính sách kinh tế nhiều thành phần sẽ góp phần kích thích sức sản xuất, nâng
nhấn mạnh: Muốn có CNXH phải làm gì? Ngƣời giải thích: “Nhiệm vụ quan
trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Muốn có CNXH thì không có cách nào
khác là phải dốc lực lƣợng của mọi ngƣời ra để sản xuất. Sản xuất là mặt trận
chính của chúng ta hiện nay ở miền Bắc” [27, tr.312].
Hồ Chủ tịch đã nói rõ: “Nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là một
nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ
thuật tiên tiến”. Trên cơ sở kinh tế XHCN ngày càng phát triển, cách bóc lột
theo CNTB đƣợc xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày
càng đƣợc cải thiện… Nền kinh tế XHCN phải đƣợc tạo lập trên cơ sở chế độ
sở hữu công cộng về tƣ liệu sản xuất. Tuy nhiên, ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế
đó còn tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: sở hữu của Nhà nƣớc tức là của toàn
dân. Sở hữu hợp tác xã tức là sở hữu của tập thể, của nhân dân lao động. Sở hữu
của ngƣời lao động riêng lẻ. Một ít tƣ liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tƣ bản.
Trong đó, kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền
kinh tế quốc dân và Nhà nƣớc phải đảm bảo nó phát triển ƣu tiên.
Bác nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phát triển kinh tế, song trong
kinh tế thì nông nghiệp là quan trọng. “Tất cả các ngành từ công nghiệp,
thƣơng nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục,
y tế… đều cần phải phát triển toàn diện nhƣng các ngành này phải lấy phục vụ
nông nghiệp làm trọng tâm”[25, tr.277]. Đây là cơ sở lý luận ban đầu cho
công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn sau này của Đảng ta. Bác chỉ rõ mối
quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp hóa: nếu muốn công nghiệp hóa
16
gấp thì là chủ quan. Cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp, rồi
tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng.
Bàn về kinh tế, một mảng quan trọng khác của nó mà Bác đề cập tới đó
là lĩnh vực tài chính. Ngƣời nói: “Muốn xây dựng kinh tế thì phải có tiền để
công nghệ. Không có một nền công nghiệp hiện đại thì không thể có CNXH.
Đối với các nƣớc lạc hậu, chƣa trải qua chế độ tƣ bản chủ nghĩa, thì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến đến nay vẫn hoàn
toàn đúng với tình hình nƣớc ta, tuy công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thời đại
hiện nay có thể đƣợc thực hiện bằng nhiều con đƣờng khác nhau.
Việt Nam xuất phát từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên
CNXH, không qua giai đoạn phát triển tƣ bản chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đƣa ra
quan điểm kinh tế có tính chất bao trùm: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết
kiệm”. Theo Ngƣời, đó “là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ
nhân dân tiến dần lên CNXH” [25, tr.349]. Nhận thức về quan điểm này, có
ngƣời cho rằng Hồ Chí Minh chỉ nhấn mạnh tăng gia sản xuất, tức là chỉ nói
về sản xuất nông nghiệp. Thực tế thì “có thực mới vực đƣợc đạo”, nhƣng
không chỉ là nhƣ vậy, bởi “tăng gia sản xuất” theo ý Ngƣời còn nói đến lĩnh
vực sản xuất công nghiệp. Hay nói một cách khái quát: “Tăng gia sản xuất” là
một khái niệm hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực sản xuất trong nền
kinh tế quốc dân, trong đó hai lĩnh vực quan trọng nhất là nông nghiệp và
công nghiệp. Điều đó thể hiện ở lời giải thích sau đây của Hồ Chí Minh:
“Muốn tiến lên CNXH thì phải thế nào? Không phải cứ ngồi mà chờ. Nƣớc
XHCN Liên Xô đang bƣớc lên chủ nghĩa cộng sản, thế mà vẫn thi đua tăng
gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, huống chi ta, hòa bình mới lập lại chƣa
đƣợc ba năm, kinh tế ta lạc hậu mà không lo tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì
không bao giờ tiến lên CNXH đƣợc” [25, tr.411]. Nhƣ vậy, theo tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh, “tăng gia sản xuất” là phƣơng sách đúng đắn nhất để phát triển tối
18
đa lực lƣợng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Chỉ có nhƣ thế, trƣớc
mắt và lâu dài mới giải quyết đƣợc sự nghèo đói của dân, đem lại hạnh phúc
cho dân, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc xây dựng chế độ mới.
Còn thuật ngữ “tiết kiệm” cũng cần phải đƣợc hiểu theo nghĩa đen và
tham
ô,
lãng
phí,
quan liêu.
Từ quan điểm kinh tế bao trùm, Hồ Chí Minh đi đến việc lựa chọn cơ cấu
kinh tế hợp lý, đó là cơ cấu công nghiệp và nông nghiệp hiện đại: “Tiến lên
CNXH phải đi bằng hai chân: công nghiệp và nông nghiệp” [27, tr.61]. Ngƣời
lý giải quan hệ biện chứng giữa hai ngành này là: “công nghiệp và nông
19
nghiệp là nhƣ hai chân của nền kinh tế nƣớc nhà. Cần phải thật vững, thật
khỏe, thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi và nhanh chóng” [25, tr.84].
Ở hoàn cảnh nƣớc ta, trong hai ngành kinh tế đó, Ngƣời xem nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu. Việc cung cấp đủ nguyên liệu và lƣơng thực cho
sự phát triển công nghiệp hóa và ngƣợc lại sự trang bị khoa học kỹ thuật cho
nông nghiệp là điều đảm bảo vững chắc cho nền kinh tế phát triển. Hồ Chí
Minh luôn đòi hỏi chúng ta phải ra sức phát triển lực lƣợng sản xuất trong
nông nghiệp và công nghiệp. Ngƣời khẳng định: “Nông nghiệp phải cung cấp
đủ lƣơng thực và nguyên liệu để phát triển, để đảm bảo công nghiệp hóa
XHCN” [27, tr.379], “Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát
triển mạnh hơn nữa. Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nƣớc
mạnh” [27, tr.406]. Thiết nghĩ, đấy là những quan điểm về kinh tế rất cơ bản,
mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc, nó quyết định phƣơng hƣớng đầu tƣ,
21
Chƣơng 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRONG NHỮNG NĂM TƢ̀ 1996 ĐẾN 2006
2.1. NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ LÃNH ĐẠO SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ
Kinh tế là một trong những lĩnh vực vô cùng quan trọng cấu thành nên
đời sống xã hội. Đây là một thuật ngữ mà chúng ta bắt gặp vô cùng nhiều
trong cuộc sống. Đã có rất nhiều những quan niệm khác nhau về thuật ngữ
kinh tế, sau đây tôi xin đƣa ra một số quan niệm về nó để làm cơ sở lý luận và
khái niệm công cụ khi đi vào lý giải đề tài.
Kinh tế theo gốc ngôn ngữ Latinh của nó là Economy nghĩa là tiết kiệm,
làm sao bỏ ra chi phí ít nhất để thu lại hiệu quả cao nhất, tối ƣu hóa hoạt động
sản xuất kinh doanh cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô.
Quan niệm khác lại cho rằng: kinh tế là tổng thể nói chung những hoạt
động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất. Hay kinh tế là tổng thể
những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong lịch
sử: cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội, chế độ hoạt động kinh doanh của một
nƣớc nhất định, bao gồm các ngành và các loại hình sản xuất tƣơng ứng. Các
nhân tố quyết định nền kinh tế của một nƣớc là quan hệ sở hữu về tƣ liệu sản
xuất, mục đích phát triển của sản xuất, hình thức và phƣơng pháp kinh doanh.
Các nhân tố này dựa trên nền tảng vật chất là lực lƣợng sản xuất. Ngày nay,
ngƣời ta đề cập đến một nhân tố mới có ý nghĩa thời đại của nên kinh tế hiện
đại là con ngƣời, là trí tuệ của con ngƣời. Mỗi nền kinh tế xã hội đều bao gồm
lĩnh vực sản xuất tƣơng ứng và những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nƣớc,
nhƣ vị trí địa lý, truyền thống lịch sử và một trình độ của lực lƣợng sản xuất
nhất định. Nền kinh tế xã hội thƣờng đƣợc hiểu là đồng nghĩa với nền sản xuất
xã hội. Ngày nay, thuật ngữ kinh tế lại đƣợc bổ sung bằng những thuật ngữ
thời tổng kết thƣ̣c tiễn để rút ra nhƣ̃ng bài học kinh nghiệm , trên cơ sở đó mà
đề ra những chính sách phát triển.
23
Trong quá trì nh lãnh đạo sƣ̣ phát triển kinh tế của đất nƣớc
giai đoạn
1996-2006 Đảng ta đã kế thƣ̀a và kị p thời rút ra nhƣ̃ng kinh nghiệm quý báu
của giai đoạn trƣớc đó . Chúng ta sẽ nghiên cứu khái quát quá trình lãnh đạo
kinh tế của Đảng trƣớc 1996.
2.2.1. Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng lên nắm chính quyền, trong tay
Đảng lúc này là một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, lạc
hậu. Hậu quả của chính sách kìm hãm kinh tế của thực dân Pháp rất nặng nề,
chính sách “nhổ lúa trồng đay” của phát xít Nhật làm hơn 2 triệu ngƣời chết
đói, đất nƣớc nông nghiệp nhƣng nông nghiệp thì tiêu điều, xơ xác, vỡ đê, lũ
lụt thƣờng xuyên xảy ra… Bên cạnh đó, ngân hàng Đông Dƣơng nơi điều tiết
nền kinh tế của ba nƣớc Đông Dƣơng thì ta không thu đƣợc, tài chính bị lũng
đoạn. Quân Tƣởng lại đem tiền quan kim, quốc tệ vào tiêu nên càng khó quản
lý kinh tế. Ngân sách quốc gia còn hơn một triệu đồng thì quá nửa bị rách nát
không tiêu đƣợc. Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhà
máy, hầm mỏ đều bị đình đốn dẫn đến hàng vạn công nhân không có việc làm.
Hàng hóa tiêu dùng trên thị trƣờng khan hiếm, việc buôn bán trao đổi, đi lại vô
cùng khó khăn… Khó khăn về kinh tế cộng với các khó khăn về chính trị - xã
hội - văn hóa đã đƣa cách mạng Việt Nam lâm vào hoàn cảnh “ngàn cân treo
sợi tóc”.
Trƣớc tình hinh đó, Đảng non trẻ phải gánh vác cái vốn kinh tế eo hẹp
của đất nƣớc, phát triển và làm hƣng thịnh nó lên. Giải pháp tổng thể đầu tiên
phát triển, thƣơng nghiệp đảm bảo hàng hóa và nhu yếu phẩm phục vụ cho
sinh hoạt và chiến đấu. Những mầm mống kinh tế XHCN cũng bắt đầu đƣợc
hình thành trong giai đoạn này tiêu biểu là sự ra đời của công tƣ hợp doanh
(1951). Sự đóng góp về kinh tế đã giúp cho công cuộc kháng chiến chống
Pháp giành thắng lợi to lớn.
25
Để bồi dƣỡng sức dân củng cố hậu phƣơng kháng chiến năm 1952 Đảng
phát động cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm đạt kết quả
tốt.Chỉ tính từ liên khu V trở ra, Sản lƣợng lƣơng thực năm 1953 đạt 2, 7 triệu
tấn. Nhà nƣớc đã ban hành một số sắc lệnh về thuế nông nghiệp, thuế công
thƣơng, xuất khẩu, nhập khẩu… Tháng 6 năm 1951 ngân hàng Quốc gia đƣợc
thành lập và sau đó mậu dịch quốc doanh ra đời. Thực hiện chính sách ruộng
đất, từ năm 1949 đến 1953 nông dân đã đƣợc tạm cấp gần 180.000ha ruộng
đất của thực dân, địa chủ việt gian, ruộng bỏ hoang, ruộng vắng chủ … Ngay
từ giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến Đảng đã chủ trƣơng không tịch thu
ruộng đất của địa chủ mà chỉ tịch thu ruộng đất và tài sản của đế quốc, việt
gian phản quốc chia cho dân cày. Từ năm 1947 đến 1953 đã thực hiện giảm tô
25%, chia ruộng đất cho nông dân, ban hành chính sách thuế nông nghiệp,
hoãn nợ, xoá nợ nhằm hạn chế sự bóc lột của bọn địa chủ. Tháng 1 năm 1953
hội nghị TW lần thứ IV của Đảng đã kiểm điểm tình hình thực hiện chính sách
ruộng đất, đề ra chủ trƣơng thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị tiến tới cải
cách ruộng đất, Tháng 11 năm 1953 Hội nghị TW lần thứ V của Đảng quyết
định phát động triệt để giảm tô và phải thực hiện cải cách ruộng đất ngay
trong kháng chiến. Sau đó tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua luật cải
cách ruộng đất, tiến hành cải cách ruộng đất ở vùng tự do nhằm đẩy mạnh
kháng chiến đƣa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Trong gần 1 năm từ
1953-1954 chúng ta đã thực hiện 5 đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất
ở một số xã vùng tự do. Chính sách triệt để giảm tô và chia ruộng đất cho dân