LUẬN VĂN: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam - Pdf 12

1 LUẬN VĂN:

Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận
và thực tiễn trong sự nghiệp phát
triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam
Lời mở đầu
Có thể nói, “lý luận” và “thực tiễn” là hai phạm trù thường xuyên được đề
cập đến trong các hoạt động của con người. Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan
hệ rất chặt chẽ với nhau và nó là một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác
– Lênin nói chung và của lý luận nhận thức macxit nói riêng.
Trong bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của con người thì những vấn đề về
lý luận và thực tiễn phải được đưa ra xem xét trong mối liên hệ với nhau. Có như
vậy hoạt động của con người mới có thể đi đúng hướng và đạt được hiệu quả cao.
Lịch sử phát triển đã chứng minh rằng phải luôn kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
trong mọi hoạt động. Nếu có sự vi phạm nguyên tắc này thì kết quả thu được sẽ
không được như mong muốn.
Đối với Việt Nam, chúng ta đã từng đi qua những cuộc chiến tranh để bảo vệ
nền độc lập của đất nước.Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bắt tay
vào khôi phục nền kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình này,

Chủ thể không phải là một vài cá nhân mà là cả xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất
định. Cho nên xét về nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính
lịch sử xã hội.
Thực tiễn là hoạt động vật chất gắn liền với sự biến đổi tiến bộ của tự nhiên
xã hội loài người nhằm cải tạo tự nhiên xã hội. Nhưng hoạt động vật chất nào đi
ngược lại với khoa học tự nhiên và xã hội thì không goị là hoạt động thực tiễn.
Thực tiễn có ba dạng cơ bản:
- Hoạt động sản xuất vật chất: đây là hoạt động thực tiễn cơ bản và quan trọng nhất
vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Hoạt động chính trị – xã hội: nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ
xã hội, chế độ xã hội.
- Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động nhằm rút ngắn độ dài của quá trình
con người nhận thức và biến đổi thế giới.
1.1.2.Vai trò:
Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở của nhận thức. Mọi nhận thức đều bắt nguồn
từ thực tiễn, tác động vào sự vật hiện tượng buộc nó bộc lộ thuộc tính trên cơ sở đó
khái quát, rút ra bản chất của sự vật hiện tượng, biến nó thành vật cho ta.
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm nhận thức, thước đo để đánh giá
nhận thức. Thước đo không cố định, luôn luôn vận động, phát triển, nhưng vẫn đủ
để kiểm nghiệm nhận thức và lý luận, vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương
đối. Từ thực tiễn mà con người sáng tạo ra các phương pháp để cải tạo chính thực
tiễn
1.2.Lý luận:
1.2.1.Khái niệm:
Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh
mối liên hệ bản chất những quy luật của thế giới khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp

Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới buộc con ngươì phải nhận
thức thế giới do đó mà lý luận của con người mới được hình thành và phát triển.
Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới buộc thế giới khách quan
phải bộc lộ những tính chất quy luật của nó trên cơ sở đó mà con người nhận thức
được chúng. Thực tiễn cung cấp những tài liệu cho lý luận. Do đó không có thực
tiễn thì không có lý luận và không có cả khoa học. Hiểu biết của con người xét đến
cùng phải bắt nguồn từ thực tiễn.
Quá trình biến đổi thế giới là quá trình con người ngày càng đi sâu vào nhận
thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới làm phong phú sâu sắc tri thức
của mình về thế giới. Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và giới hạn phát triển của
lý luận và sự phát triển của các ngành khoa học. Nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải
có tri thức mới. Tổng kết kinh nghiệm, khái quát nhận thức, thúc đẩy sự ra đời và
phát triển của các ngành khoa học.
Thực tiễn còn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người. Nó là cơ
sở để chế tạo ra những dụng cụ máy móc hỗ trợ cho nhận thức của con người.
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng từ hoat
động thực tiễn mà có tri thức và khoa hoc. Lý luận khoa học sau khi ra đời phải
quay về phục vụ thực tiễn hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn, chỉ có ý nghĩa thực sự khi
chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục vụ mục tiêu phát triển
chung.
Tóm lại sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiễn đối với lý luận đòi hỏi
phải quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu lý luận phải xuất phát
từ thực tiễn, dựa trên cơ sơ thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải
liên hệ với thực tiễn. Nếu xa rời thực tiễn thì sẽ dẫn tới sai lầm của bệnh chủ quan,
giáo điều, máy móc, quan liêu.
1.3.2.Sự tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn:
Triết học Mác - xít chỉ ra rằng coi trọng thực tiễn không có nghĩa là coi nhẹ

Hợp tác xã hoá ở miền Bắc bắt đầu thực hiện từ năm 1958, đến năm 1960 cơ
bản hoàn thành. Khi đó chúng ta cho rằng làm ăn tập thể ưu việt hơn làm ăn cá thể,
kinh tế cá thể tự phát dẫn đến phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp. Làm ăn tập
thể sẽ tạo ra sức mạnh, sẽ giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội của cộng
đồng nông thôn. Do vậy, hợp tác xã hoá được thực hiện đồng nhất với tập thể hoá,
xoá bỏ sản xuất theo hộ, chỉ cho phép tồn tại dưới hình thức kinh tế phụ gia đình,
mọi tư liệu sản xuất đều thuộc về tập thể, tổ chức lao động tập trung dưới sự chỉ huy
điều hành của ban chủ nhiệm hợp tác xã và ban chỉ huy đội, phân phối theo ngày
công, sau khi trừ chi phí sản xuất, khấu trừ nộp cho nhà nước và phúc lợi xã hội ở
nông thôn, ban chủ nhiệm làm cả chức năng của chính quyền cơ sở. Tuy vậy nhờ
lao động tập thể và sử dụng tập trung các nguồn lực nên đã xây dựng được những
công trình thuỷ lợi, kiến thiết đồng ruộng, đường giao thông, trường học bộ mặt
miền Bắc cũng có những thay đổi đáng kể.
Song tổ chức hợp tác xã ấy vốn chứa đựng những khuyết tật:
- Chế độ công hữu dưới hình thức tập thể dường như không có ai là chủ đích thực
dẫn đến tư liệu sản xuất không được sử dụng có hiệu quả và bị huỷ hoại.
- Quản lý lao động, sản xuất tập trung làm cho người lao động phụ thuộc, bị động,
thiếu chủ động, sáng tạo.
- Của cải làm ra dùng để bao cấp cho phúc lợi xã hội nông thôn, chi dùng phung
phí, phân chia cho người lao động quá ít, không khuyến kích người lao động hăng
say sản xuất.
- Các hợp tác xã lại tồn tại tương đối biệt lập với nhau, trao đổi sản phẩm lại gắn
liền với hệ thống quốc doanh mang tính giao nộp cấp phát, phi thị trường.
- Hệ thống quốc doanh ấy lại được tổ chức theo cấp hành chính. Mỗi xã, phường
còn có hợp tác xã mua bán tín dụng, nơi có nghề truyền thống còn có hợp tác xã tiểu
thủ công nghiệp.
Những khuyết tật trên của hợp tác xã nông nghiệp đã phát sinh những tiêu

cấm vận kinh tế, điều kiện thực tiễn đã thay đổi, mô hình kinh tế đó dần dần bộc lộ
những mâu thuẫn, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng ngày càng trầm
trọng. Thực tiễn đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đổi mới đường lối phát triển kinh
tế – xã hội. Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta vẫn
vận hành nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp, đã mắc phải những
khuyết điểm như:
- Quá nóng vội trong tiến trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần gọi
là phi xã hội chủ nghĩa tại các tỉnh, thành phố phía Nam. Đối với các địa phương
phía Bắc, việc nóng vội đưa hàng loạt hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao chẳng những
đã không đạt được mục đích đẩy quan hệ sản xuất đi trước để thúc đẩy lực lượng
sản xuất lên theo mà ngược lại đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Trên mặt trận nông nghiệp, mặc dù tỷ lệ nông dân tham gia vào hợp tác xã tăng
nhanh qua mỗi năm, nhưng sản lượng lương thực từ 13,5 triệu tấn năm 1976 cũng
chỉ tăng lên được 18,2 triệu tấn năm 1985. Đến năm 1985, mặc dù cả nước có tới
14052 hợp tác xã nông nghiệp nhưng một bộ phận không nhỏ các hợp tác xã ở trong
tình trạng “treo biển hợp tác xã” một bộ phận không nhỏ xã viên hợp tác xã đã quay
về làm kinh tế gia đình, và đa số đã chăm chút cho việc sản xuất và thu hoạch trên
phần đất 5% của mình. Trên thực tế đời sống kinh tế xã hội nông thôn ngày càng
xuất hiện nhiều sự so sánh giữa kinh tế tập thể, kinh tế gia đình, kinh tế hộ với nhau.
Tuy chưa có tuyên bố chính thức, nhưng đã xuất hiện tình trạng tự giải thể của mô
hình hợp tác xã với những quy mô, hình thức và phạm vi khác nhau không chỉ trong
nông nghiệp mà cả trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại, dịch vụ…
- Phát triển tràn lan các xí nghiệp quốc doanh trong hầu hết các ngành của nền kinh
tế quốc dân, vượt quá khả năng của Nhà nước về nhiều phương diện. Mặc dù tăng
mạnh các cơ sở quốc doanh trong nền kinh tế như vậy nhưng tổng sản phẩm xã hội
được tạo ra từ thành phần kinh tế quốc doanh trong giai đoạn này chỉ tăng 1,5 lần.

duy kinh tế thể hiện ở sự chấp nhận và có phần khuyến khích kinh tế cá thể, kinh tế
tư nhân và quan hệ thị trường tự do đến một mức độ nhất định trong khi đó vẫn giữ
quan điểm lâu dài là chế độ công hữu và cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Nhưng dù
sao sự chấp nhận đó có thể coi là nấc thang mới, hơn nữa là bước đột phá trong tư
duy, vì sự thay đổi nhận thức đã bắt đầu vượt qua hai điều tối kị trong mô hình kinh
tế xã hội chủ nghĩa theo quan điểm chính thống lúc đó: kinh tế tư nhân và quan hệ
thị trường tự do. Bước đột phá đó đã bước đầu chấp nhận cơ cấu kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Trước đó, mọi cải tiến trên mặt trận kinh tế chỉ trong giới hạn cơ
chế quản lý, do đó đã gặp nhiều bế tắc, luẩn quẩn không thể tháo gỡ được. Sau nghị
quyết 6 của Ban chấp hành Trung ương khoá IV là chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung
ương về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, quyết định 25CP về quản lý xí nghiệp,
chủ trương kế hoạch hoá từ đơn vị cơ sở, ba phần kế hoạch, bốn nguồn cân đối, xuất
nhập khẩu tự cân đối, tự trang trải, chấp nhận thị trường tự do bên cạnh thị trường
có tổ chức Tất cả các nghị quyết đó đều dựa trên cơ sở chấp nhận và triển khai cơ
cấu kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, dù còn nhiều hạn chế.
Chính nhờ đó, sản xuất lưu thông đã bung ra rất sôi động, rộng khắp. Trên
thực tế, một mặt đã diễn ra tình hình chưa từng có, một phong trào quần chúng năng
động phát triển sản xuất lưu thông, phong trào nông dân nhận khoán, phong trào
phát huy tự chủ năng động của đơn vị cơ sở và địa phương với những điển hình làm
ăn có hiệu quả nổi bật. Mặt khác sự bung ra của thị trường tự do với sự tham gia
của nhiều thành phần kinh tế ngày càng lấn át kinh tế quốc doanh và thị trường có
kế hoạch. Hợp tác xã ngày càng rệu rã, mặt trận giá -lương- tiền, phân phối lưu
thông cực kỳ rối loạn nóng bỏng. Nhà nước bị tổn thất về của cải và ngày càng rời
vào tình thế gần như mất khả năng điều khiển. Trước thực trạng đó, đã diễn ra cuộc
tranh luận kéo dài và rất gay gắt về lý luận và chính sách kinh tế trên tất cả các vấn
đề. Cuộc tranh luận ấy có hai xu hướng trái ngược nhau: xu hướng chấp nhận kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần như là chiến lược lâu dài và xu hướng chấp nhận như
bước lùi sách lược tạm thời, gắn với những nhận thức khác nhau về mô hình xã hội
chủ nghĩa và con đường xây dựng nền kinh tế. Hiện tượng đặc trưng cho hai xu Những nét mới trong đường lối và quan điểm của Đảng về cơ cấu thành phần
kinh tế như trên chính là sự điều chỉnh có tính chiến lược, làm cho quan hệ sản xuất
ngày càng phù hợp hơn với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
phát huy mọi tiềm lực kinh, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
Hơn 10 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết
quả và thành tựu đáng mừng, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra
khỏi khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội
ngày càng nhiều, hàng hoá ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước những
chấn động lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong
nước (GDP) tăng bình quân 7%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm.
Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Các ngành dịch vụ, xuất nhập khẩu phát
triển. Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở
rộng Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mới đặt ra cần được nghiên cứu và giải
quyết.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian qua và căn cứ vào yêu
cầu phát triển trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần tổng kết lại kinh nghiệm
và tiếp tục nghiên cứu đưa ra để thực hiện một số vấn đề có tính lý luận sau:
- Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế
nhiều thành phần
- Giữ vững và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của
Đảng Cộng Sản
- Giải quyết các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã
hội, thực hiện công bằng xã hội

Danh mục tài liệu tham khảo
1-Đảng Cộng Sản Việt Nam:”Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX”,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2001
2-C.Mác – Ph.Ăngghen:”Biện chứng tự nhiên”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội –
1994
3-Nguyễn Văn Linh:” Đổi mới tư duy”, NXB Sự Thật, Hà Nội - 1998
4-Phạm Ngọc Quang – Trần Đình Nghiêm:” Thời kỳ mới và sứ mệnh của Đảng ta”,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 1993
5-Tạp chí Cộng Sản, số 3 – 2002
6-Tạp chí Cộng Sản, số 11 – 2002
7-Tạp chí Cộng Sản, số 9 – 2003
8-Tạp chí Cộng Sản, số 11 - 2003
9-Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 – 2003
10-Tạp chí Lý luận chính trị, số 12 – 2003

Mục lục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status