Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
Đề tài: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG
TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THẺ
CỦA NGÂN HÀNG VIETINBANK.
LỜI MỞ ĐẦU
Khoa học công nghệ tiến bộ không ngừng, đặc biệt là Công nghệ thông tin phát
triển như vũ bão trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 đã đưa nền kinh tế thế
giới lên một tầm cao mới với sự cạnh tranh ngày càng trở lên khốc liệt. Ngân hàng
cũng là một trong những ngành kinh doanh có sự cạnh tranh hết sức khốc liệt và luôn
ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất vào các hoạt động kinh doanh của mình. Nền
kinh tế ngày càng phát triển, khách hàng cũng ngày càng dễ dàng tiếp cận với nguồn
thông tin mình cần do những tiến bộ trong ngành công nghệ thông tin mang lại. Do đó
khách hàng ngày càng có nhiều lựa chọn trong việc mua ban hàng hóa và dịch vụ,
đồng thời khách hàng ngày càng khó tính hơn trong việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ
cho mình. Đặc điểm của ngân hàng là cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, trong khi
đó khách hàng ngày càng khó tính và luôn muốn các dịch vụ đó đáp ứng một cách
thuận lợi và nhanh chóng nhất.
Dịch vụ thẻ ngân hàng cũng là một trong các dịch vụ mà ngân hàng mong muốn
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Vì vậy phát triển khách hàng sử dụng dịch
vụ của ngân hàng nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng không chỉ là các biện pháp gia
tăng số lượng khách hàng sử dụng mà còn nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ có chất
lượng tốt nhất cho khách hàng trên nền tảng ứng dụng các công nghệ hiện đại ngày
nay. Dịch vụ thẻ xuất hiện trên thế giới từ khá lâu và đang phát triển mạnh mẽ. Ở Việt
Nam thị trường thẻ mới ra đời được khoảng 15 năm, nhưng 10 năm trở lại đây thì dịch
vụ thẻ thanh toán mới phát triển mạnh mẽ và có nhiều ngân hàng tham gia vào thị
trường thẻ trong nước, trong đó có ngân hàng Vietinbank.
Nhóm 7 lựa chọn sản phẩm thẻ của ngân hàng Vietinbank để hoàn thành đề tài thảo
Trong đó
-Nhóm 1: đại diện cho đối tác truyền tin bao gồm có ngừời gửi tin và người nhận tin.
Đây là hai đối tượng thực hiện chu trình
-Nhóm 2: biểu thị công cụ truyền tin. Thông tin sau khi được người gửi mã hóa thành
các thông điệp thì sẽ thông qua công cụ truyền tin là các kênh truyền tin sẽ giải mã các
thông điệp đó để chuyển đến cho người nhận
-Nhóm 3: chức năng của truyền tin bao gồm mã hóa, giải mã, đáp ứng và phản hồi.
- Nhóm 4: nhiễu là các yếu tố môi trường tác động ảnh hưởng đến việc người nhận
nhận được thông tin sai lệch so với mục đích truyền tin của người gửi
1.1.2. Xây dựng chương trình xúc tiến thương mại
2
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
Bước 1: Nhận dạng công chúng mục tiêu: công chúng mục tiêu bao gồm người mua
tiềm năng, NSD hiện tại, người quyết định, hoặc có thể là người ảnh hưởng. Tập công
chúng mục tiều có thể là cá nhân, tổ chức, công chúng cụ thể hoặc công chúng nói
chung. Vì vậy ở bước này nhà Marketers( Người gửi ) phải xác định tập công chúng
mục tiêu của mình là ai, họ có thái độ và tri thức, mức độ nhận biết thế nào với hình
ảnh ngân hàng để từ đó xây dựng hình ảnh xúc tiến hợp lí.
Bước 2: Xác định mục tiêu: mục tiêu gồm 2 nhóm mục tiêu chính là mục tiêu ảnh
hưởng nhu cầu và mục tiêu hình ảnh ngân hàng.Với từng mục tiêu tăng sức thu hút
khách hàng về nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng với mục tiêu xây
dựng hình ảnh của ngân hàng với khách hàng mà nhà Marketers sẽ phải áp dụng một
chiến lược xúc tiến phù hợp.
Bước 3: Hình thành thông điệp: thông điệp là các ý tưởng đã được người gửi mã hóa
tiêu, vị thế của ngân hàng và sản phẩm mà ngân hàng cung cấp mà có thể lựa chọn một
phối thức xúc tiến phù hợp. Cụ thể như:
Bước 6: Thực thi và theo dõi: sau khi đã xây dựng hoàn thiện kế hoạch xúc tiến
thì ngân hàng đi vào triển khai và theo dõi đánh giá kế hoạch xúc tiến đề ra. Các nhà
quản trị trong ngân hàng cần phân bổ nhiệm vụ, nguồn lực và thời gian cần để thực
hiện kế hoạch xúc tiến. Sau khi đã triển khai kế hoạch thì cần theo dõi, đánh giá việc
thực thi kế hoạch để có thể kịp thời nhận dạng, sửa chữa những lĩnh vực cần thay đổi.
1.2.Các công cụ xúc tiến của NHTM
1.2.1.Quảng cáo
Quảng cáo là hình thức ngân hàng giao tiếp đại chúng phả trả tiền nhằm trình bày
phi cá nhân về sản phẩm, dịch vụ. Nó bao gồm quảng cáo ngân hàng và quảng cáo sản
phẩm dịch vụ và được thực hiện qua các phương tiện truyền hình, phát thanh, internet,
quảng cáo, in ấn, quảng cáo qua thư trực tiếp và quảng cáo truyền hình trực tiếp....
Quảng cáo ngân hàng là hoạt động ngân hàng phải trả phí cho các đại lí quảng cáo.
Hoạt động quảng cáo này có ưu thế là sẽ tiếp cận được lượng khách hàng lớn, đa dạng
và vì vậy dẫn tới chi phí bình quân trên khán giả mục tiêu thấp. Việc quảng cáo ngân
hàng còn giúp cho ngân hàng dễ dàng kiểm soát được nội dung, hình thái trình bày và
thời điểm phát thông điệp. Tuy nhiên điểm hạn chế của nó là quảng cáo theo hình thức
này đòi hỏi tính tiêu chuẩn hóa của thông điệp phải cao, đôi khi dẫn tới lãng phí.
Quảng cáo sản phẩm dịch vụ thì hoạt động quảng cáo này không phải trả phí đại lí
quảng cáo, bao gồm hoạt động như: quảng cáo qua thư trực tiếp, truyền hình đối thoại
trực tiếp, trưng bày tài liệu,...Tuy nhiên, cách tiếp cận này thi có tính tập hợp và tiếp
cận với số ít khách hàng và từ đó dẫn tới chi phí quảng cáo trên đầu người cao hơn.
1.2.2.Giao dịch cá nhân
Giao dịch cá nhân là hình thức xúc tiến mà ngân hàng sử dụng trực tiếp các hoạt
động giao tiếp cá nhân để truyền tải các thông tin về sản phẩm, dịch vụ đến khách
hàng để từ đó có thể thuyết phục được khách hàng tiêu dùng sản phẩm của mình.
Phương thức xúc tiến này đòi hỏi phải có đội ngũ nhân viên tiếp xúc khách hàng như
nhân viên giao dịch quầy, các bộ tín dụng, nhà tư vấn tài chính độc lập, nhà môi giới
và đội ngũ bán hàng trực tiếp. Đây là hình thức xúc tiến hai chiều nên giúp cho ngân
1.2.5. Tài trợ
Là hoạt động xúc tiến mà ngân hàng tham gia tài trợ cho các sự kiện và từ đó gắn
liền thương hiệu của ngân hàng với hoạt động được tài trợ như tài trợ cho các hoạt
động thể thao, đào tạo, tài trợ nghệ thuật,bảo vệ môi trường, các hoạt động văn hóa xã
hội,... Ngân hàng thực hiện hình thức xúc tiến này nhằm thông qua các sự kiện được
tài trợ để gửi hình ảnh mong muốn của ngân hàng tới công chúng. Việc thực hiện hình
thức xúc tiến này sẽ giúp tăng cường sự hiểu biết của khách hàng về ngân hàng cùng
những sự đổi mới của ngân hàng,thu hút được sự chú ý của giới thông tin đại chúng và
từ đó tăng cường mối quan hệ cộng đồng xã hội.
CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG
TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THẺ CỦA
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM VIETINBANK
2.1. Giới thiệu về ngân hàng Vietinbank và sản phẩm thẻ (Nguyễn Ngọc Thúy)
2.1.1. Giới thiệu về ngân hàng Vietinbank
•
Lịch sử hình thành và phát triển:
5
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (VietinBank) được thành lập từ năm 1988 sau
khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Là Ngân hàng thương mại lớn, giữ vai
trò quan trọng, trụ cột của ngành Ngân hàng Việt Nam. Có hệ thống mạng lưới trải
rộng toàn quốc với 3 Sở Giao dịch, 141 chi nhánh và trên 700 điểm/phòng giao
dịch. Có 4 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công ty TNHH
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
thuận lợi tối đa cho khách hàng gửi tiền (tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tích luỹ, phát
hành kỳ phiếu và trái phiếu ..)
+ Nghiệp vụ "Có":
Nguồn vốn huy động NHCT được sử dụng hợp lý thông qua các hoạt động
cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, đồng tài trợ và cho vay hợp vốn (đối
với những dự án lớn, thời gian thu hồi vốn dài), góp vốn liên doanh, đầu tư trên thị
trường vốn, thị trường tiền tệ trong và ngoài nước, tài trợ thương mại (nhờ
thu xuất, nhập khẩu (Collection), nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu
chấp nhận hối phiếu (D/A))…Trong lĩnh vực đầu tư, ngân hàng đã tích cực tận dụng
vốn tạm thời nhàn rỗi mua tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân hàng, công trái quốc gia
để thu lợi nhuận, đồng thời ngân hàng tham gia thị trường mở để đảm bảo vốn
đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng ngày.
+ Nghiệp vụ trung gian:
Với hệ thống SWIFT và hệ thống thanh toán điện tử, Vietinbank cung cấp cho
khách hàng những dịch vụ chuyển tiền nhanh chóng trong nước và quốc tế, dịch vụ
tiền tự động ATM, thẻ tiền mặt (Cashcard), phát hành và thanh toán các thẻ quốc tế
(Visa Card, Master Card) góp phần phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở
nước ta. Ngoài những hoạt động mới được ứng dụng và phát triển trên, NHCT cũng
không ngừng phát triển các dịch vô tài chính (môi giới, chiết khấu, bảo lãnh, ủy
thác ..), dịch vô thanh toán quốc tế (tín dụng thư L/C, hối phiếu, uỷ nhiệm thu, uỷ
nhiệm chi..), dịch vụ ngân quỹ (Mua bán ngoại tệ: Spot, Forward, Swap; mua bán các
chứng từ có giá: trái phiếu chính phủ tín phiếu kho bạc, thương phiếu; thu chi VND,
ngoại tệ)
Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn đầu tư: do hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá
nhân và doanh nghệp đã nhờ Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính
hộ. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán
và sáp nhập doanh nghiệp.
5.
Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: với trình độ của đội ngũ cán bộ
công nhân viên và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách
hàng các thông tin về chứng khoán và đầu tư chứng khoán như các danh mục đầu tư,
quản lý tài khoản, mua bán hộ, bảo quản chứng khoán…
6.
Cung cấp dịch vụ đại lý: nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể
thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thường là các
Ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ,
phát hành chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
2.1.2. Sản phẩm thẻ của Ngân hàng Vietinbank
Với các sản phẩm thẻ đa dạng từ thẻ ghi nợ E-Partner đến thẻ thanh toán quốc tế
Visa, Master; VietinBank cung cấp nhiều dịch vụ giúp chủ thẻ thực hiện nhiều loại
giao dịch từ máy ATM, Điện thoại di động cho đến Internet. Ngân hàng Công thương
tham gia thị trường thẻ bắt đầu từ năm 2001, thời gian này số lượng thẻ chỉ cung
cấp cho cán bộ công nhân viên thuộc hệ thống NHCT, đến tháng 3/2002 mới
được phát hành rộng rãi. Tháng 9/2004 Ngân hàng đã cung ứng trên thị trường thêm
hai loại thẻ mới: S – card và G – Card. Hai loại thẻ này xuất hiện làm đa dạng hóa sản
8
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
Đối với khách hàng là sinh viên khi sử dụng sản phẩm thẻ S – Card tiết kiệm rất
nhiều thời gian :
Thứ nhất : không mất thời gian chờ người thân chuyển tiền mà có thể nhận tiền
ngay tại các máy rút tiền tự động ATM ngay sau khi người thân chuyển tiền vào tài
9
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
khoản
Thứ hai : Không còn rắc rối khi xin xác nhận của trường và không có rủi ro khi
đến nhận tiền và gửi tiền .
Thứ ba : Không mất phí chuyển tiền
Ví dụ: VietinBank E-Partner S-Card
“Hoà Cùng Sức Trẻ - Nâng Tầm Tương Lai”
E-Partner S-Card là thẻ GHI NỢ với phí dịch vụ đặc biệt ưu đãi phù hợp với nhu
cầu sử dụng của nhiều đối tượng khách hàng, đặc biệt dành cho các bạn HỌC SINH SINH VIÊN - GIỚI TRẺ
Với E-Partner S-Card, VietinBank ước muốn cùng với các bạn trẻ xây đắp và nâng
cánh cho mỗi khát vọng được bay cao, bay xa.
* Thẻ G – Card : đối tượng chủ yếu hướng tới là khách hàng có thu nhập cao (VIP)
với nhiều dịch vụ ưu đãi hoàn hảo :
Thứ nhất : Hưởng các dịch vụ chăm sóc khách hàng : Các dịch vụ liên quan đến thẻ:
phát hành thẻ nhanh, thẻ mất, thẻ háng, in sao kê giao dịch hàng tháng . Các dịch vụ
chăm sóc riêng tư: chăm sóc mừng sinh nhật, năm mới, giáng sinh .. Dịch vụ thông tin
khách hàng miễn phí: sản phẩm dịch vụ ngân hàng, thông tin tài khoản, tỷ giá, lãi suất,
chương trình khuyến mãi.
Thứ hai : Hưởng các dịch vụ ưu đãi khác biệt
Ví dụ: VietinBank E-Partner G-Card
giao thông của Chính quyền địa phương.
Trên một địa bàn không mấy thuận lợi, phát triển kinh tế còn ở dạng tiềm năng, dân
cư nghèo, nhưng sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn diễn ra
rất gay gắt. Hiện nay trên địa bàn Q.8 đã có hơn 40 Chi nhánh, Phòng giao dịch của
các NHTM đang hoạt động. Các NHTM thường xuyên đưa ra các chính sách ưu đãi,
khuyến mại nhằm thu hút khách hàng đã tạo áp lực lớn cho hoạt động của CN 8.
Việc quảng bá thương hiệu VietinBank của CN8 được thực hiện một cách sinh động,
phong phú, sâu rộng dưới rất nhiều hình thức:
- Phối hợp với Trung tâm Văn hóa Quận tài trợ treo băngrôn, banner trên các tuyến
đường chính, mỗi năm thực hiện từ 4 đến 5 đợt (Mỗi đợt ít nhất 2 tháng).
- Phát loa phóng thanh trên xe lưu động chạy trên tất cả các tuyến đường, khu dân cư,
kết hợp với phát tờ rơi quảng cáo cho từng đợt, từng chương trình khuyến mại của
VietinBank. Phối hợp với UBND của 16 phường phát trên loa phóng thanh theo nội
dung quảng cáo của VietinBank – CN 8.
- Phối hợp với Phòng Văn hóa thông tin Quận thực hiện tài trợ các chương trình video
clip phóng sự, tiểu phẩm tuyên truyền chủ đề “Thực hiện nếp sống văn minh đô thị”,
trong đó lồng ghép để giới thiệu về hoạt động của VietinBank. Các video clip này
được phát liên tục tại phòng chờ nơi tiếp dân của UBND Quận, UBND Phường, Khu
phố, tại các hội nghị lớn của Quận.
11
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
- Hàng năm, phối hợp với Phòng Quản lý kinh tế Q.8 tài trợ tổ chức hội nghị DN trên
địa bàn nhân ngày Doanh nhân Việt Nam. Tại đây, ngoài việc tự giới thiệu, CN8 cùng
với DN đã tổ chức mạn đàm, trao đổi, giải đáp những vướng mắc, những vấn đề các
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
Đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp tại các điểm phân phối trở thành kênh
marketing trực tiếp của ngân hàng. Thông thường vào những dịp nhu cầu sử dụng thẻ
ATM như sinh viên nhập học ngân hàng thường sử dụng đội ngũ bán hàng tại các
điểm trường đại học để giới thiệu sản phẩm và tiến hành làm thẻ cung cấp cho sinh
viên hàng năm. Đội ngũ nhân viên bán hàng trở thành nguồn cung cấp thông tin hai
chiều hiệu quả bao gồm truyền tải thông điệp về sản phẩm tới khách hàng và thu thập
thông tin, ý kiến phản hồi của khách hàng tới ngân hàng để ngân hàng hoàn thiện sản
phẩm và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Ưu điểm khi sử dụng công cụ giao dịch cá nhân trong ngân hàng:
- Nhân viên công ty trở thành kênh marketing trực tiếp hiệu quả.
- Tiết kiệm chi phí quảng cáo, khuyến mại…
- Tạo sự tin tưởng hơn đối với khách hàng.
- Thông tin phản hồi thu được có độ chính xác cao
Nhược điểm: Chi phí sử dụng nhân viên cao.
Mục tiêu của VietinBank từ nay đến 2015 là phát triển hệ thống ngân hàng đa năng,
đa tiện ích trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ, cải tiến thủ
tục giao dịch trong đó đặc biệt là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tiếp cận toàn diện hoạt
động ngân hàng hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng tốt nhất nhu cầu nền
kinh tế.
Trên con đường phấn đấu trở thành một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng mạnh trong
khu vực, trong năm mới 2012, VietinBank sẽ tiếp tục thực hiện công tác cổ phần hóa,
hiện đại hóa, chuẩn hóa các hoạt động, nghiệp vụ ngân hàng và đặc biệt là coi trọng
yếu tố con người. Đồng thời, VietinBank cũng tiếp tục triển khai và từng bước hoàn
thiện tổ chức Tập đoàn tài chính Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam hoạt động
theo mô hình Tập đoàn Tài chính ngân hàng; Thực hiện việc chào bán ra công chúng
Tạo dựng mối quan hệ với khách hàng còn chứa đựng những ý nghĩa và mục đích
sâu xa hơn là việc giữ khách hàng. Bởi vì mỗi khách hàng đều có những mối quan hệ
xã hội của họ nên chắc chắn những thông tin về sản phẩm của ngân hàng sẽ được nhắc
đến trong một lúc nào đó. Thực tế cho thấy nếu không vừa ý với sản phẩm, dịch vụ
của ngân hàng, khách hàng sẽ phàn nàn với những người bạn của họ về việc họ cho là
đã bị ảnh hưởng, bị thiệt thòi trong giao dịch, còn nếu được phục vụ thoả mãn thì họ
chỉ cho một ít người biết về điều đó mà thôi. Vì vậy, ngân hàng cần phải cố gắng phục
vụ tốt ngay từ đầu trong tất cả các khâu để biến khách hàng trở thành những tuyên
truyền viên tích cực cho mình. Khách hàng luôn là những tuyên truyền viên hiệu quả
nhất, rẻ nhất nhưng cũng có thể trở thành những kẻ phá hoại mạnh nhất cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Thực hiện Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua
tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước (NSNN), dưới sự chỉ
đạo của VietinBank, các Chi nhánh đã triển khai mạnh mẽ dịch vụ thẻ và đạt những
kết quả khả quan, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tạo sự chuyển
biến tích cực về tập quán thanh toán tại địa phương. Ban đầu là tiếp cận những đối
tượng thuộc cán bộ công chức, những người có trình độ, tri thức hoặc đã có điều kiện
tiếp xúc với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đội ngũ công nhân các khu công nghiệp,
học sinh sinh viên, rồi sau đó mở rộng tuyên truyền đến các khu vực dân cư,…
Tổ chức hội nghị khách hàng: Trong hội nghị phải có mặt những khách hàng lớn,
quan trọng. Ngân hàng phải có nội dung gợi ý để khách hàng nói về những ưu nhược
điểm của các sản phẩm ngân hàng, những vướng mắc, thiếu sót trong giao dịch, yêu
cầu của họ về sản phẩm và nhu cầu trong thời gian tới.
14
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
-
Ngân sách cho các hoạt động tuyên truyền còn cao
Chưa Vẫn tồn tại những hình thức tuyên truyền hiệu quả chưa cao
Đẩy mạnh tuyên truyền tại những vùng sâu vùng xa, miền núi
Từ kết quả trên, có thể khẳng định: Hoạt động kinh doanh ngân hàng trong giai
đoạn hiện nay ngoài những phương thức tiếp thị truyền thống, để những thông tin về
ngân hàng đến được với khách hàng cần vận dụng, khai thác và kết hợp chặt chẽ công
tác tuyên truyền cổ động nhiệm vụ chính trị xã hội của chính quyền với việc quảng bá
thương hiệu, giới thiệu sản phẩm trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng,
coi đây là một yêu cầu không thể thiếu trong phát triển kinh doanh.Trong đó cần đặc
biệt chú trọng đến mối quan hệ gắn kết qua lại giữa nhà kinh doanh với bộ máy quản
lý nhà nước, chính quyền địa phương.
15
Marketing Ngân Hàng Thương Mại
Nhóm 7
2.2.4. Xúc tiến bán hàng
Ngân hàng VietinBank tìm cách biến mỗi nhân viên nghiệp vụ của mình thành một
thế mạnh thực sự của ngân hàng, bởi vì hầu hết khách hàng đều giao dịch trực tiếp với
nhân viên ngân hàng, mọi cử chỉ, tác phong, hành động của nhân viên đều nằm trong
mắt của khách hàng và thường được khách hàng đánh giá.
VietinBank đã ký kết hợp tác với nhiều cơ quan đơn vị để cung cấp dịch vụ thanh
toán lương qua thẻ, thanh toán tiền điện thoại, điện, nước sinh hoạt,… triển khai rộng
rãi các chương trình khuyến mại về thẻ với mục tiêu mang đến lợi ích tối đa cho chủ
Nhóm 7
đoàn 3 triển khai, quản lý sử dụng các dịch vụ phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng…
Tham gia các hoạt động từ thiện: ủng hộ đồng bào bị thiên tai, nạn nhân nhiễm chất
độc màu ra cam, trẻ em nghèo vượt khó và các loại quỹ do Ủy ban MTTQVN và các
cơ quan, đoàn thể phát động. Rồi thăm hỏi các gia đình chính sách, các bà Mẹ Việt
Nam Anh hùng nhân ngày Thương binh Liệt sỹ và dịp Tết Nguyên đán là việc làm
không thể quên dù Chi nhánh có bận rộn đến đâu.
Tham gia tài trợ các hoạt động thể thao: giải bơi lội, bóng đá, các cuộc thi viết, thi
ảnh.
Tại Lễ trao giải Sao Vàng Đất Việt 2011, VietinBank là Ngân hàng duy nhất được
vinh danh 2 lần với giải thưởng TOP 10 Thương hiệu Việt Nam và TOP 10 Doanh
nghiệp tiêu biểu trách nhiệm xã hội. Việc VietinBank được bình chọn và tôn vinh là
doanh nghiệp tiêu biểu trách nhiệm xã hội là góp phần thực hiện chủ trương của Nghị
Quyết 11/NQ-CP về đảm bảo an sinh xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực
vượt qua khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hướng đến mục tiêu phát
triển bền vững.
KẾT LUẬN
Dịch vụ thẻ ngân hàng cũng là một trong các dịch vụ mà ngân hàng mong muốn
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Vì vậy phát triển khách hàng sử dụng dịch
vụ của ngân hàng nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng không chỉ là các biện pháp gia
tăng số lượng khách hàng sử dụng mà còn nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ có chất
lượng tốt nhất cho khách hàng trên nền tảng ứng dụng các công nghệ hiện đại ngày
nay. Để giữ và phát triển thị phần trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt giữa các
NHTM, phát huy lợi thế thương hiệu mạnh VietinBank cùng với mạng lưới trải đều
trên khắp Việt Nam, VietinBank triển khai nhiều giải pháp khác nhau nhằm tăng hiệu
quả kinh doanh, phát triển nhanh chóng và vượt trội hơn. Đẩy mạnh quảng bá thương