Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: “ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP Ở
VIỆT NAM”.
: GS.TS Đặng Đình Đào
GVHD
Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Thuỳ Liên.
SV: Ngô Thị Thùy Liên
Mã sinh viên
: CQ532085
Lớp
: QTKD thương mại 53B
1
2.3.Địa điểm (vị trí). ................................................................................ 30
2.4.Vận tải. .............................................................................................. 30
2.5.Thông tin. .......................................................................................... 31
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT
KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. ............................................................... 32
I.Đặc điểm của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu........................................... 32
SV: Ngô Thị Thùy Liên
2
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
1. Đặc điểm ................................................................................................. 32
2. Điều kiện vận chuyển và tài trợ. ............................................................ 34
II.Thực trạng của chuỗi cung ứng sản phẩm gạo ở nước ta hiện nay. .... 36
1.Tình hình sản xuất chế biến và dự trữ lúa gạo của Việt Nam. ............ 36
2.Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam thời gian qua. ........................ 39
2.1.Sản lượng gạo xuất khẩu ................................................................... 39
2.2.Thị trường xuất khẩu. ........................................................................ 39
3.Hình thức chuỗi cung ứng xuất khẩu gạo của Việt Nam ..................... 45
III.Kết luận đánh giá qua nghiên cứu thực trạng. ..................................... 47
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUÔI CUNG
ỨNG GẠO XUẤT KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. .............................. 51
I.Mục tiêu đinh hướng phát triển của ngành nông nghiệp. ...................... 51
1.Mục tiêu chung........................................................................................ 51
Bảng 2.5: Xuất khẩu gạo của Việt Nam mùa vụ 2011/2012 (tấn). ................. 43
Bảng 2.6:Giá gạo xuất khẩu trung bình của Việt Nam và Thái Lan (USD/tấn)
......................................................................................................................... 44
SV: Ngô Thị Thùy Liên
4
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
DANH MỤC VIẾT TẮT
SCM
: Supply Chain Management
RFID
tuyến)
: Radio Frequency Identification (Nhận dạng tần số sóng vô
GĐLH
: Gặt đập liên hợp.
ĐBSCL
của khách hàng…làm cho hiệu quả kinh doanh thấp.
Việc ra đời của logistic và hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm đã giúp cho
các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực một cách tối ưu. Chính nhờ hoạt động
hậu cần mà giá trị sản phẩm được tăng lên, đồng thời nhờ sự kết hợp chặt chẽ
từ khâu nguyên liệu đầu vào tới khâu tiêu thụ sản phẩm đẩu ra đã giảm thiểu
chi phí sản xuất kinh doanh tạo lợi thế cạnh tranh.Việc các doanh nghiệp xây
dựng cho mình một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh sẽ tạo nền tảng cho doanh
nghiệp tiết kiệm chi phí không cần thiết, nâng cao giá trị cho sản phẩm, tăng
sức cạnh tranh trên thị trường.
Về ngành nông nghiệp ở nước ta, trong các sản phẩm của ngành nông
nghiệp thì lúa gạo là ngành sản xuất truyền thống của ta, xuất khẩu gạo chiếm
vị trí quan trọng trong nền Kinh tế quốc dân, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng
của đất nước vì kim ngạch xuất khẩu gạo hiện đang đứng đầu trong kim
ngạch xuất khẩu hàng nông sản. Sản phẩm gạo của nước ta do hàng triệu hộ
nông dân sản xuất ra, là một mặt hàng có vị trí hết sức quan trọng bảo đảm an
ninh lương thực quốc gia. Từ chỗ là nước nhập khẩu gạo, Việt Nam đã vươn
lên sản xuất đủ ăn, có thừa để xuất khẩu. Từ đầu thập niên 1990s đến nay,
Việt Nam đã trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Song, vị thế cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới vẫn thường
SV: Ngô Thị Thùy Liên
6
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
đây không phải lỗi của nhà sản xuất riêng lẻ, người nông dân mà chủ yếu là
lỗi mang tính hệ thống, của quản lý, của nhà hoạch định.
SV: Ngô Thị Thùy Liên
7
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
Tuy nhiên, khi thực sự mở cửa thị trường bán lẻ, khi hàng loạt các đại gia
bán lẻ, siêu thị nước ngoài “nhảy vào”, nếu không có chính sách quản lý tốt,
chuỗi cung ứng nông sản cũng khó mà hoạt động một cách minh bạch, công
khai. Và khi đó, nông sản khó mà đến tay người dùng với giá tiệm cận giá
thành sản xuất.
Vấn đề đặt ra là, có phải những bất cập trong cơ chế quản lý đã làm cho
ngành lúa gạo Việt Nam chưa thực sự phát triển hướng vào xuất khẩu một
cách đúng nghĩa? Dưới đây, chúng ta sẽ cùng điểm lại tình hình sản xuất, chế
biến, xuất khẩu gạo để có thể nhận diện rõ những hạn chế đó và tìm ra những
điểm cần hoàn thiện, bổ sung để nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng này
trên thị trường thế giới trong tương lai trên căn bản tham gia tích cực hơn vào
chuỗi cung ứng gạo toàn cầu.
2.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liêu tham khảo, phụ lục đề án
được trình bày thành 3 chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về chuỗi cung ứng sản phẩm.
thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sống
ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng
đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trung nhiều vào chuỗi cung
ứng của nó. Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ truyền
thông và vận tải (ví dụ, truyền thông di động, Internet và phân phối hàng qua
đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ
thuật để quản lý nó.
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một
hoặc nhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc
nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung
gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí
và cải tiến mức
phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự
tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng,
cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung
tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng
SV: Ngô Thị Thùy Liên
9
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành
dịch chuyển giữa các cơ sở.Vậy chuỗi cung ứng là gì?
"Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô
Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain
Management-SCM)
Theo Viện quản trị cung ứng mô tả quản trịchuỗi cung ứng là việc thiết kế
và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trịcho các tổchức để đáp ứng nhu
cầu thực sựcủa khách hàng cuối cùng. Sựphát triển và tích hợp nguồn lực con
người và công nghệ là then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành
công.
Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý
cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp,
kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân
phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.
SV: Ngô Thị Thùy Liên
11
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
Theo hội đồng quản trị hậu cần, một tổ chức phi lợi nhuận thì quản trị
chuỗi cung ứng là“…sự phối hợp chiến lược và hệ thống các chức năng kinh
doanh truyền thống và các sách lược xuyên suốt các chức năng này trong một
công ty cụthểvà giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với mục đích
cải thiện thành tích dài hạn của các công ty đơn lẻ và của cả chuỗi cung
ứng”.
Theo TS. Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài báo nghiên
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
cung cấp có thể không được các hãng mua đánh giá cao; thay vào đó, doanh
nghiệp có thể nhận thấy sẽ có lợi hơn trong việc thương lượng với người mua
tiềm năng khác và sau đó chấm dứt với người mua ban đầu. Thông qua ví dụ
này, chúng ta có thể nhận thấy rằng chuỗi cung cấp và động và linh hoạt và vì
thế nảy sinh nhiều vấn đề trong việc quản lý chúng một cách hiệu quả.
Trong khi quản trị chuỗi cung cấp có thể cho phép các tổ chức nhận thức
rõ thuận lợi của việc tích hợp dọc trên cơ sở những điều kiện chính yếu cho
việc quản trị hiệu quả việc này. Có lẽ một yếu tố quan trọng nhất đó chính là
sự thay đổi về văn hóa tổ chức của tất cả thành viên tham gia trong chuỗi
cung ứng làm cho họ có lợi hơn và quản lý hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng.
Với các công ty có văn hóa tổ chức theo kiểu truyền thống, quan tâm đến lợi
ích ngắn hạn vì thế hành động theo định hướng thành tích theo nhiều cách có
thể tạo ra xung đột với mục tiêu của việc quản trị chuỗi cung ứng. Quản trị
chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức giúp
cho tất cả các thành viên trong chuỗi đều được lợi. Vì thế, quản trị chuỗi cung
ứng một cách hiệu quả lệ thuộc rất lớn vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác, sự
cộng tác và thông tin một cách trung thực và chính xác.
Các nhà quản trị phụ trách thu mua, sản xuất, hậu cần và vận tải không chỉ
phải được trang bị những kiến thức cần thiết về các chúc năng chuỗi cung ứng
quan trọng mà còn phải đánh giá và am hiểu mức độ tương tác và ảnh hưởng
của các chức năng này đến toàn chuỗi cung ứng. Rebecca Morgan, chủ tịch
của Fulcrum Consulting Works, một công ty tư vấn về quản trị chuỗi cung
ứng có trụ sở ở bang Ohio, phát biểu rằng: "rất nhiều công ty đi đến các thỏa
chuỗi cung ứng (SCM) gắn liền với hầu như tất cả các hoạt động của các
doanh nghiệp sản xuất,từ việc hoạch định và quản lý quá trình tìm nguồn
hàng, thu mua, sản xuất thành phẩm,…đến việc phối hợp với các đối tác, nhà
cung ứng,các kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ cho đến khách hàng.
- SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách có hiệu
quả nhờ vào thay đổi các nguồn nguyên vật liêu đầu vào hoặc tối ưu hoá quá
trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ (có thể tiết kiệm chi phí,
tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp).
Có không ít doanh nghiệp đã gặt hái thành công lớn nhờ soạn thảo chiến
lược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại có nhiều doanh nghiệp gặp khó
khăn thất bại do đưa ra quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp
nguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp,
tổ chức vận chuyển chồng chéo.
- SCM hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp.
SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phâmt đến đúng nơi cần
đến và vào đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp
sản phẩm,dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất.
-Từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều
kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển.
-Điều phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện lên kế hoạch sản
xuất nhằm làm cho kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất.
SV: Ngô Thị Thùy Liên
14
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
thác tài nguyên nhằm sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng kể cả
công đoạn trung gian như vận tải, kho bãi, bán buôn, bán lẻ và bản thân khách
SV: Ngô Thị Thùy Liên
15
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
hàng. Bản thân mỗi doanh nghiệp cũng là một chuỗi cung ứng thu nhỏ bao
gồm các bộ phận sản xuất, các bộ phận có chức năng liên quan đến thoả mãn
nhu cầu khách hàng như tài chính,công nghệ thông tin, phát triển sản phẩm
mới, tiếp thị, bán hàng, phân phối, dịch vụ khách hàng.
Ba dòng luân chuyển được xem xét trong bất kì chuỗi cung ứng nào:
-Dòng vật liệu là dòng dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà bán lẻ trong
đó nguyên vật liệu được chuyển đổi thành sản phẩm và sau đó chuyển đến
khách hàng.
-Dòng thông tin bao gồm dữ liệu được lưu trữ và truy xuất mỗi khi trạng
thái hệ thống thay đổi.
-Dòng tiền bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tồn kho,....
*Các hoạt động của chuỗi cung ứng
Hoạt động của chuỗi cung ứng là một vòng quay gồm 5 giai đoạn:
-Lập kế hoạch
Trong hoạt động của chuỗi cung ứng, lập kế hoạch là khâu quan trọng nhất
bao trùm lên các hoạt động khác.Việc lập kế hoạch ở đâu được thực hiện ở
hai cấp độ: một là kế hoạch tổng thể cho toàn chuỗi mang tính trung hạn và
Thực hiện quá trình mua hàng gồm đặt hàng, nhận hàng, kiểm tra, thanh
toán trên cơ sở kế hoạch về nguồn hàng đã được lập, ngoài ra nó còn liên
quan đến việc tìm, lựa chọn và quản lý quan hệ với các nhà cung cấp. Mục
đích của hoạt động này là tìm được nguồn hàng có chất lượng ổn định, phù
hợp với những yêu cầu trong sản xuất của doanh nghiệp, tiết giảm chi phí
thông qua lợi thế về quy mô, tăng khả năng linh hoạt trong sản xuất nhờ mối
quan hệ tốt với nhà cung cấp- hỗ trợ về điều kiện giao hàng, thanh toán…
-Sản xuất
Là công đoạn biến nguyên vật liệu thành thành phẩm theo quy cách, chất
lượng đã đề ra. Ngày nay, để tăng khả năng linh hoạt của doanh nghiệp, giảm
chi phí, ngày càng nhiều doanh nghiệp sử dụng các đối tác bên ngoài gia công
một phần hoặc sản xuất hoàn thiện toàn bộ sản phẩm. Trong hoạt động này
mục tiêu không chỉ là chi phí thấp mà còn là yêu cầu về tốc độ và mức độ linh
hoạt. Bên cạnh đó, một yêu cầu cũng không kém phần quan trọng là kiểm soát
chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ngành nghề đăng kí hoặc do doanh
nghiệp tự đề ra.
-Giao hàng
Quá trình giao hàng được bắt đầu từ việc nhận đơn hàng bao gồm cả
những hoạt động cần thiết để có được đơn hàng đó như chào giá cho đến thu
được tiền của khách hàng. Giai đoạn này cần chú ý: mức độ dịch vụ phải
tương xứng với chi phí. Do đó những khách hàng có thế mang lại nhiều lợi
nhuận cho doanh nghiệp hơn những khách hàng khác.Vì vậy điều đầu tiên là
phải phân khúc thị trường, sau đó đưa ra những mức độ dịch vụ cho các đối
tượng khách hàng khác nhau. Giảm thời gian và chi phí nhờ hệ thống trao đổi
thông tin, thiết lập hệ thống truy xuất về tình trạng hàng hoá tại những khâu
khác nhau trong chuỗi.
SV: Ngô Thị Thùy Liên
17
biệt các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ. Các hoạt động chính là những
hoạt động hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sản phẩm hoàn
thành để cung cấp cho khách hàng. Hậu cần đến và hậu cần ra ngoài là các
thành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, đây chính là yếu tố tạo ra
“giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính cho
công ty. Việc tích hợp một cách sâu rộng các chức năng sản xuất, bán hàng,
marketing với hậu cần cũng là một tiêu thức quan trọng của chuỗi giá trị. Các
hoạt động của Chuỗi giá trị chung
SV: Ngô Thị Thùy Liên
18
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
-Hình 1Porter phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính:
• Hậu cần đến(inbound logistics): những hoạt động này liên quan đến việc
nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị
nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản
phẩm cho nhà cung cấp.
• Sản xuất: các họat động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành
sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo
trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất.
• Hậu cần ra ngoài(outbound logistics): đây là những hoạt động kết hợp
với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người
trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm. Đa phần các họat động giá trị sử dụng
một công nghệ kết hợp một số lượng lớn các tiểu công nghệ khác nhau liên
quan đến các lĩnh vực khoa học khác nhau.
• Quản trị nguồn nhân lực: đây chính là những hoạt động liên quan đến
việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thể
nhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các họat động chính và hoạt động
bổ trợ.
• Cơ sở hạ tầng công ty: công ty nhìn nhận ở góc độ tổng quát chính là
khách hàng của những hoạt động này. Chúng không hổ trợ chỉ cho một hoặc
nhiều các hoạt động chính-mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho cả tổ chức. Các
ví dụ của những hoạt động này chính là việc quản trị, lập kế hoạch, tài chính,
kế toán, tuân thủ quy định của luật pháp, quản trị chất lượng và quản trị cơ sở
vật chất. Trong các doanh nghiệp lớn, thường bao gồm nhiều đơn vị hoạt
động, chúng ta có thể nhận thấy rằng các hoạt động này được phân chia giữa
trụ sở chính và các công ty hoạt động. Cơ sở hạ tầng chính là đề tài được bàn
cải nhiều nhất về lý do tại sao nó thay đổi quá thường xuyên đến vậy.
Ta đã biết quản trị chuỗi cung ứng trở nên thịnh hành trong suốt thập niên
1990 và tiếp tục là tâm điểm giúp các tổ chức nâng cao khả năng cạnh tranh
trong thị trường toàn cầu. Quản trị chuỗi cung ứng được xem như đường ống
hoặc dây dẫn điện nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sản
phẩm/nguyên liệu, dịch vụ, thông tin và tài chính từnhà cung cấp của nhà
SV: Ngô Thị Thùy Liên
20
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
1.3. Phân biệt chuỗi cung ứng và logictics.
Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương
mại 2005, và được phiên âm theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”. Điều 233 Luật
thương mại nói rằng:
SV: Ngô Thị Thùy Liên
21
Lớp: QTKD Thương mại 53B
Đề án môn học
GVHD: GS.TS Đặng Đình Đào
“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức
thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho,
lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng,
đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên
quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”
Xét trên góc độ học thuật thì hiện có nhiều định nghĩa học thuật về thuật
ngữ logistics. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung
ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP), thì
thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Quản trị logistics là một
phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm
soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những
thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của
khách hàng. Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải
hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện
đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu,
năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và
của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết
dính. Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị
logistics đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp
về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản
phẩm, tài chính, công nghệ thông tin.”
Nếu so sánh hai định nghĩa trên, có thể thấy sự khác nhau cơ bản. Khái
niệm chuỗi cung ứng rộng hơn và bao gồm cả logistics và quá trình sản xuất.
Ngoài ra, chuỗi cung ứng chú trọng hơn đến hoạt động mua hàng
(procurement) trong khi logistics giải quyết về chiến lược và phối hợp giữa
marketing và sản xuất.
Khi nói đến logistics, bạn có thể hay nghe các công ty dịch vụ nhận mình
là 3PL (Third Party Logistics provider), nghĩa là Công ty cung cấp dịch vụ
logistics bên thứ 3. Câu hỏi đặt ra là: 3PL là gì nếu họ là bên thứ 3, vậy còn
các bên thứ nhất (1PL), thứ hai (2PL), hay bên thứ tư (4PL) là gì?
1PL: là người cung cấp hàng hóa, thường là người gửi hàng (shipper),
hoặc là người nhận hàng (consignee). Các công ty tự thực hiện các hoạt động
logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết
bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt
động logistics. Đây là những tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng
lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa
phương.
2PL: là người vận chuyển thực tế, chẳng hạn như hãng tàu, hãng hàng
không, hãng xe tải.
3PL: là người cung cấp giải pháp tổng thể cho dịch vụ logistics cho khách
hàng, họ thường đảm nhiệm một phần, hay toàn bộ các công đoạn của chuỗi
cung ứng.
4PL: Thuật ngữ 4PL lần đầu tiên được công ty Accenture sử dụng, và
công ty này định nghĩa như sau: “A 4PL is an integrator that assembles the
giá, nâng hoa hồng để giành việc vận chuyển nhưng, lại có 1 chữ “nhưng”,
cạnh tranh thế thì khó lắm, công ty đang làm vận tải cho may 10 họ phải dán
tem mã, đánh số từng sản phẩm, từng thùng hàng, từng đơn hàng, từng lô
hàng, còn 1 số động tác nữa xin được bỏ qua, họ phải quét mã để có số liệu
hàng hóa để đưa lên mạng của công ty vận tải và để cùng quản lý lượng hàng,
phụ liệu vào/ ra với May 10 nữa. Hàng chuẩn bị ra lò rồi thì kế hoạch phân
phối đi nội địa bao nhiêu, nước ngoài bao nhiêu, cửa hàng này bao nhiêu sản
phẩm, cửa hàng kia bao nhiêu sản phẩm thì các anh vận tải cũng có rồi, lúc
này thì công ty vận tải sẽ lên kế hoạch đóng đơn nào, đi đâu trước, có thể có
hàng lẻ, hàng cont, hàng bộ, hàng Air nhưng các anh hàng không hoặc các
anh hãng tàu hay các anh bảo là có Contract giá tốt đợi đấy mà vào cạnh tranh
được (các anh có thể làm sub-contract thôi thì được) vì công ty vận tải người
ta đã làm bao nhiêu công đoạn có lãi rồi, nếu cần cạnh tranh bằng giá, họ sẵn
sàng cạnh tranh giá thấp hơn và sẽ sử dụng dịch vụ của hãng vận tải giá cao/
dịch vụ tốt hơn ông giá rẻ/ dịch vụ kém và hơn nữa họ có 1 loạt công cụ mà
hãng vận tải trực tiếp không bao giờ cạnh tranh được thì chắc chắn May 10 sẽ
không bỏ công ty vận tải trọn gói kia được và lúc đó hãng vận tải trực tiếp chỉ
đi săn đón các ông làm vận tải trọn gói cho các nhà máy như May 10.Hàng
chuyển đến cảng đích rồi việc của công ty logistics lại tiếp tục làm thủ tục hải
quan, chuyển hàng đến kho phân phối hoặc chuyển trực tiếp đến từng cửa
hàng đặt sản phẩm hoặc đại lý bán hàng cho May 10...v.v.....Công ty logisitcs
có thể thu tiền, ghi lại báo cáo lượng hàng tiêu thụ, hàng tồn, hàng đổi, bảo
hành, yêu cầu chuyển thêm hàng vào ngày mai,....v.v... cho may 10 từ đó May
10 có kế hoạch sản xuất, phân phối, thu đổi, bảo hành, khiếu nại nhà cung cấp
vật liệu,.... và báo cho công ty vận tải kế hoạch vận chuyển, thị trường này
đang cần hàng này, không cần hàng kia, thị trường này bán ế move qua thị
trường khác để clear hàng. Đơn nào còn đang nằm trong kho, đơn nào đã ra
thị trường và nằm tại shop nào, ngày tháng nào thì Sale, promotion đơn nào,
SV: Ngô Thị Thùy Liên