Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Đặt vấn đề
Ngày nay đời sống con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu về
thực phẩm cũng tăng lên, ngành chăn nuôi cũng phát triển để đáp ứng cho con
người. Song, ngoài việc mang lại lợi ích về kinh tế, thoả mãn nhu cầu đời sống
con người, thì vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra cần được quan
tâm.Trong đó, đặc biệt là sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước ngầm, nước
mặt, hệ thống các sông, kênh rạch gần các xí nghiệp, trang trại chăn nuôi do các
chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khoẻ con
người.
Ở Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng, khía cạnh môi
trường của ngành chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá trình phát
triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện nay, một lượng chất
thải sinh ra gây tác hại xấu đến môi trường. Với mật độ gia súc cao có thể gây ô
nhiễm không khí bên trong chuồng trại, ô nhiễm từ hệ thống lưu trữ chất thải và ô
nhiễm từ nguồn nước thải sinh ra trong việc dội chuồng và tắm rửa gia súc thì chỉ
có một số ít các cơ sở, xí nghiệp chăn nuôi có trang bò hệ thống xử lý nước thải
nhưng hiệu quả xử lý thật sự chưa đảm bảo đối với tiêu chuẩn thảiû ra môi trường
và hầu hết là thải bỏ ra trực tiếp môi trường. Đặc biệt, ô nhiễm môi trường nước
mặt: sông, suối, kênh, rạch…
Vì các giải pháp trên thế giới cũng như Việt Nam ta thường áp dụng các
biện pháp kỷ thuật, đưa các trang thiết bò vào quá trình xử lý nhằm giữ lại các
chất ô nhiễm hoặc chuyển chúng từ dạng độc sang dạng không độc, thải ra môi
trường.Với giải pháp này, đòi hỏi chi phí đầu tư và vận hành lớn mà không phải
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
cơ sở sản xuất nào cũng thực hiện được. Trước tình hình đó, việc tìm ra những
phương pháp xử lý mà ít tốn kém và ít sử dụng hoá chất là vấn đề đang được các
nhà nghiên cứu tìm hiểu.
động xấu đến môi trường, trong đó môi trường đất, nước chòu ảnh hưởng nhiều
nhất. Trong những hoạt động sản xuất nông nghiệp thì hoạt động chăn nuôi cũng
góp phần không nhỏ ảnh hưởng môi trường.
Khác với những công nghệ hóa lý khác thì công nghệ sinh học sử dụng hệ
thống đất ngập nước để xử lý nước thải chăn nuôi heo có phần ưu thế hơn. Bởi vì
Đất ngập nước có vai trò xử lý chất ô nhiễm cao mà đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ
nhưng chi phí ít tốn kém hơn nhiều.
Trên thế giới, việc sử dụng hệ thống Đất ngập nước để xử lý nước thải đã
được áp dụng và mang lại kết quả tối ưu. Ở Việt Nam cũng đã có những ứng
dụng nhưng chỉ ở qui mô tự phát. Vì vậy, việc đưa ra những thông số cơ bản về
khả năng xử lý nước chăn nuôi heo và nước thải nói chung của thực vật Đất ngập
nước là cần thiết.
7. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là:
Đất ngập nước và thực vật Đất ngập nước
Nước thải chăn nuôi heo.
8.Mục đích nghiên cứu
Khảo sát khả năng xử lý nước thải chăn nuôi heo bằng Đất ngập nước tự
nhiên.
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
9.Nội dung nghiên cứu
Thu thập tài liệu về tình hình sản xuất chăn nuôi ; đất ngập nước và thực
vật đất ngập nước.
Tìm hiểu khả năng xử lý nước của một số thực vật đất ngập nước.
Tiến hành thực hiện thí nghiệm nhằm khảo sát khả năng xử lý nước thải
chăn nuôi heo bằng đất ngập nước tự nhiên.
Phân tích các thông số đầu vào và đầu ra của nước thải chăn nuôi sau khi
qua hệ thống đất ngập nước tự nhiên: pH, EC, COD, N-NO
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
Phương pháp kế thừa
Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp phân tích tính chất lý, hóa, sinh
Phương pháp thống kê phân loại
11. Phạm vi của đề tài
Về thời gian: Luận văn được thực hiện trong thời gian 3 tháng từ ngày
1/10/2007 đến ngày 25/12/2007.
Về nội dung: Khảo sát khả năng xử lý nước thải chăn nuôi heo đất ngập
nước tự nhiên.
Về đòa điểm:Thực hiện tại xã Phước Hiệp huyện Củ Chi
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về môi trường tự nhiên huyện Củ Chi
1.1.1 Vò trí đòa lý
Củ Chi là một huyện ngoại thành của Thành Phố Hồ Chí Minh có diện tích
tự nhiên 434,50 km
2
. Huyện Củ Chi cách Thành phố Hồ Chí Minh về phía Đông
Nam 45 km, và có toạ độ đòa lý:
- 106
0
21
’
22
’’
đến 106
nên nhìn chung thuận lợi cho sản xuất nông-lâm nghiệp.
(Hình 1.2: Mô hình 3 chiều độ cao và hệ thống dòng chảy huyện Củ Chi)
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 6
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
1.1.3 Khí hậu
Củ Chi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của đồng bằng Nam Bộ
nên khí hậu chia theo hai mùa tương phản rõ rệt: mùa mưa từ tháng V – tháng XI,
mùa khô từ tháng XII - tháng IV.
1.1.4 Tài nguyên đất
Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2003, huyện Củ Chi có diện tích
đất tự nhiên là 43.450 ha, diện tích và tỷ lệ đất trên đòa bàn được nêu trong bảng.
Bảng1.1 Cơ cấu sử dụng đất Huyện Củ Chi
Phân loại
Diện tích (ha) Tỷ lệ
Đất nông nghiệp 34.573,32 79,57%
Đất lâm nghiệp 534,43 1,23%
Đất chuyên dùng 4.562,27 10,50%
Đất thổ cư 2.228,99 5,13%
Đất chưa sử dụng 1.551,17 3,57%
Tổng cộng: 43.450,2 100%
Nguồn: Báo cáo KTXH huyện Củ Chi, năm 2004
1.1.4.1. Đất nông nghiệp
Diện tích đất trồng cây nông nghiệp của huyện năm 2003 là: 33.382,9ha.
Trong đó:
Cây lúa: 24.957 ha chiếm 74,76%
Cây lâu năm: 4.020,8 ha chiếm 12,04%
Cây hàng năm: 2.767,9 ha chiếm 8,30%
Hoa màu: 1.637,2 ha chiếm 4,90%
1.1.4.2 Đất rừng
Diện tích đất thổ cư huyện Củ Chi tính đến năm 2003 là 2.228 ha (giảm
672 ha so với năm 1995 là: 2.900ha). Diện tích phần giảm chủ yếu từ đất vườn
nhà ở chuyển sang làm đất công nghiệp, nông nghiệp, do đó việc giảm diện tích
đất thổ cư là điều hợp lý.
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
1.1.4.5 Đất chưa sử dụng
Đất chưa sử dụng (đất hoang, chua phèn và diện tích sông suối) có diện
tích 1.551ha, phân bố phân tán trên toàn diện tích của huyện.
1.1.5 Tài nguyên nước mặt và nước ngầm
Củ Chi là huyện có nguồn tài nguyên nước mặt phong phú với hơn 100 km
kênh rạch và lượng mưa lớn 2201 mm/năm.
Hiện nay nguồn nước mặt được sử dụng với mục đích cấp nước tưới, tiêu
thoát nước, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải và du lòch giải trí.
Năm 2002 toàn huyện phải sử dụng 480 triệu m
3
/năm để tưới cho khoảng
16.500 ha đất nông nghiệp (13.000 ha lúa và 3.500 ha cây hoa màu, cây ăn quả…).
Nước tưới chủ yếu được khai thác từ nguồn nước kênh Đông và một phần nước từ
các sông rạch, ao hồ hiện có cũng như khai thác nguồn nước ngầm tại chỗ. Do có
trữ lượng lớn, nên mặc dù lưu lượng khai thác khá lớn nhưng vẫn không ảnh
hưởng đến tiềm năng cấp nước của các nguồn này.
Vấn đề của các nguồn nước mặt tại Củ Chi là có dấu hiệu bò ô nhiễm do
hoạt động sản xuất. Tại Củ Chi nguồn nước mặt là nơi tiếp nhận các loại nước
thải sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi và công nghiệp. Cho đến nay, hầu hết các
loại nước thải này đều chưa được xử lý (ngoại trừ một số hộ gia đình tại xã Thái
Mỹ đã sử dụng hầm biogaz để xử lý nước thải chăn nuôi).
Huyện Củ Chi có mạng lưới sông rạch tương đối nhiều nhưng phân bố
không đều, chủ yếu tập trung ở phía Đông của huyện (Sông Sài Gòn) và trên các
nông nên dễ khai thác, kinh phí đầu tư không lớn.
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen trên (N
2
2
)
Nằm dưới tầng chứa nước Pleistoxen là tầng chứa nước Plioxen trên.
Tầng chứa nước có diện phân bố rộng khắp vùng, trải rộng lên tới Tây Ninh, qua
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 10
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
thành phố Hồ Chí Minh xuống Long An, Tiền Giang. Bề dày chung của tầng
tương đối ổn đònh, trung bình 82,2m. Khả năng chứa nước từ trung bình đến giàu.
Nước áp lực, chiều cao cột áp tính đến mái tầng chứa nước trung bình khoảng
45,0 m. Chất lượng đạt yêu cầu sử dụng phục vụ ăn uống, sinh hoạt và sản xuất.
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen dưới (N
2
1
)
Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen dưới (N
2
1
) có diện tích
phân bố rộng khắp vùng, không chỉ trong huyện Củ Chi mà còn phát triển ở khắp
thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Long An tới Tiền Giang. Mái
của tầng thường gặp ở độ sâu 82,0 m. Chiều dày tầng từ 65,4 m đến 94,0, trung
bình của tầng 84,3 m, chiều dày khá ổn đònh suốt từ Bắc xuống Nam và từ đông
Bắc xuống Tây Nam. Tầng chứa nước Plioxen dưới là đối tượng để khai thác
nước tập trung phục vụ sinh hoạt, sản xuất.
1.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Củ Chi
1.2.1 Dân số và đơn vò hành chính
(người/km
2
)
01 Tân An Hội 30,08 17.498 581,71
02 Phước Thạnh 15,05 15.156 1.007,04
03 Phước Hiệp 19,65 9.187 467,53
04 Thái Mỹ 24,02 10.545 439,01
05 Trung Lập Hạ 16,94 8.135 480,22
06 An Nhơn Tây 28,85 13.426 465,37
07 Phú Mỹ Hưng 24,44 6.922 283,22
08 Thò Trấn Củ Chi 3,82 11.986 3.137,70
09 Trung Lập Thượng 23,21 11.173 481,34
10 An Phú 24,35 9.587 393,72
11 Nhuận Đức 20,60 9.427 457,62
12 Phạm Văn Cội 23,44 5.719 243,98
13 Phú Hoà Đông 21,82 18.319 831,30
14 Trung An 20,10 10.061 500,55
15 HoàPhú 9,07 8.117 894,93
16 Bình Mỹ 25,42 13.921 547,64
17 Phước Vónh An 16,20 9.362 577,90
18 Tân Phú Trung 30,76 22.695 737,81
19 Tân Thông Hội 17,89 21.229 1.186,64
20 Tân Thạnh Đông 26,50 24.332 918,19
21 Tân Thạnh Tây 11,84 7.970 673,14
Tổng cộng
434,50 264.951 609,78
Nguồn: UBND huyện Củ Chi 2004
1.2.2 Cơ sở hạ tầng
1.2.2.1 Hệ thống giao thông
Huyện Củ Chi có thế mạnh là tuyến quốc lộ 22 chạy dọc suốt chiều dài
Hiện nay Củ Chi mới chỉ đầu tư xây dựng được hệ thống thoát nước cho
các khu trung tâm thò trấn thò tứ. Toàn huyện chỉ có 3.829 m cống bê tông và
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
mương hở, dọc theo 04 tuyến (không kể QL 22 và tỉnh lộ 8) là: tuyến cống hở khu
vực thò tứ – Tân Thông Hội và hệ thống cống hộp cuối đường Lê Vónh Huy. Trên
đòa bàn Huyện chưa có công trình xử lý tập trung các loại nước thải nhiễm bẩn.
1.2.2.5 Hệ thống kênh mương thủy lợi
Hệ thống thủy lợi đáng kể và quan trọng nhất của huyện Củ Chi là công
trình kênh Đông dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng. Ngoài ra là tuyến bờ bao cho vùng
trũng dọc sông Sài Gòn nhằm tưới tiêu cho 6.500 ha đất canh tác. Cho đến nay,
mạng lưới kênh mương thủy lợi của Củ Chi đã cơ bản ổn đònh, đáp ứng được nhu
cầu về tưới tiêu, thau chua, rửa mặn cho huyện Củ Chi.
1.2.2.6 Thông tin liên lạc
Theo số liệu của Chi nhánh Điện thoại Củ Chi thì hiện nay trên toàn huyện
có 09 đài, trạm là: Trạm Củ Chi, Tân Phú Trung, Phước Thạnh, Trung Lập
Thượng, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Phạm Văn Cội, Tân Trung và trạm Bình
Mỹ. Các trạm trên được phân bổ nhằm đảm bảo 100% xã trên đòa bàn đều có
mạng lưới thông tin liên lạc.
Năm 2003 huyện Củ Chi trung bình 8,2 máy/100 dân. Hệ thống điện thoại di
động được phủ sống tất cả các trung tâm thò trấn thò tứ và các tuyến đường giao
thông đi qua.
1.2.3 Hoạt động kinh tế
1.2.3.1. Sản xuất công nghiệp
Giá trò sản xuất công nghiệp năm 2003 (có tính các doanh nghiệp thuộc
Thành phố quản lý) là 2.280.749.000.000 đồng, trong đó doanh nghiệp do Thành
phố quản lý là: 1.754.605.000.000 đồng
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 14
nghiệp ô nhiễm trong nội thành ra ngoại thành.
1.2.3.2 Sản xuất nông nghiệp
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm (giai đoạn 2000 – 2003) là 2,59%.
Riêng năm 2003 giá trò sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản thực hiện
592.148 triệu đồng đạt 100,12% kế hoạch năm và tăng 3,88% so với cùng kỳ. Giá
trò sản xuất qua các năm thể hiện qua.
Bảng 1.5 Giá trò sản xuất nông nghiệp qua các năm (giá cố đònh 1994)
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Ước Năm 2003
- Trồng trọt 336.519 326.975 333.472 340.414
- Chăn nuôi 139.774 151.308 162.543 171.985
- Dòch vụ nông nghiệp 55.953 60.148 63.895 68.247
- Thủy sản 1.778 2.624 3.015 3.200
- Lâm nghiệp 5.322 6.000 7.108 8.302
Tổng giá trò sản xuất 539.346 547.055 570.033 592.148
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo KTXH của huyện qua các năm
Bảng 1.6 Tổng hợp tình hình trồng trọt qua các năm
TT Loại cây trồng Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Diện
tích (ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích (ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích (ha)
nhanh, đây là một trong những ngành sản xuất trọng điểm mang lại nhiều lợi
nhuận cao nhất trong ngành nông nghiệp. Chính vì thế nên hộ chăn nuôi gia đình
tăng quy mô đàn và nhiều trang trại hình thành với quy mô khá lớn.
Bảng 1.7 Diễn biến của ngành chăn nuôi qua các năm
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Heo (con) Bò sữa
(con)
Heo (con) Bò sữa
(con)
Heo (con) Bò sữa
(con)
52.294 7.800 58.689 11.314 71.600 12.318
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo KTXH của huyện qua các năm
Ngoài ra, trong năm 2002 đàn gia cầm đạt 1.055.000 con, trong đó gà công
nghiệp là 294.000 con, số còn lại là vòt đàn nuôi thả đồng. Mật độ chăn nuôi năm
2003 vẫn không tăng về số lượng. Tuy nhiên đến cuối năm 2003 do ảnh hưởng
chung của cơn sốt dòch cúm gia cầm, Củ Chi cũng bò ảnh hưởng chung và phải
tiêu hủy tất cả số gia cầm hiện có theo chủ trương chung của thành phố.
1.2.3.3 Thương mại - dòch vụ - xuất nhập khẩu
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
So với các năm trước ngành thương mại, dòch vụ có những bước phát triển,
ước tính năm 2003 đạt được trên 905.147 triệu đồng, diễn biến cụ thể qua các
năm như sau:
Bảng 1.8 Tổng doanh thu ngành thương mại, dòch vụ qua các năm
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Tổng doanh số Triệu
đồng
788.261 701.021 888.092 905.147
- Huyện có 55 học sinh giỏi cấp thành phố, 162 học sinh giỏi cấp huyện.
- Tốt nghiệp các cấp: tiểu học đạt 99,98% trong đó loại khá giỏi chiếm
91,79%; Trung học cơ sở đạt 98,85% trong đó loại khá giỏi chiếm 61,21%; trung
học phổ thông đạt 94,50%; trung tâm giáo dục thường xuyên có 84,02% thí sinh
đậu tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông.
Hiện cơ sở trường lớp đủ đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
Toàn huyện có:
29 trường mầm non.
37 trường tiểu học.
20 trường trung học cơ sở.
7 trường trung học phổ thông.
1 trung tâm giáo dục thường xuyên
1 trường dạy nghề.
Tất cả các trường học trên đã phục vụ cho 60.000 người theo học.
1.2.4.3 Y tế
Trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác só được nâng cao. Huyện đã đầu tư
nâng cấp mở rộng bệnh viện trung tâm và được thành phố chấp nhận tăng qui mô
trung tâm y tế từ 180 giường lên 300 giường bệnh. Đầu tư thiết bò chuyên dùng
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
trên 3 tỉ đồng. Tổ chức mạng lưới cấp cứu ở các trạm y tế, phòng khám khu vực,
các cơ quan, xí nghiệp và 365 chốt cấp cứu.
Tính đến nay toàn huyện có:
02 bệnh viện
100% phường xã đều có trạm y tế (21 trạm y tế),
Phòng khám do nhà nước quản lý: 02 cơ sở.
Phòng khám tư nhân: 30 cơ sở.
CHƯƠNG II
SẢN XUẤT CHĂN NUÔI VÀ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA
trọng trong cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng nhưng lại có ưu điểm là nơi
có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi, đồng thời được
nhà nước hỗ trợ nên có thể có điều kiện đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải nên ít
ô nhiễm môi trường hơn chăn nuôi gia đình. Tuy nhiên, quy mô càng lớn mức độ
tập trung chất thải càng cao, mức độ tác hại đến sức khoẻ con người và môi
trường càng lớn.
Chăn nuôi hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm
cho thành phố nói chung và các khu vực khác nói riêng. Ngoài việc cung cấp thực
phẩm cho đời sống con người, chăn nuôi hộ gia đình cũng góp phần cải thiện kinh tế
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 21
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
người dân. Trong đó, các hộ chăn nuôi tập trung vào chăn nuôi heo là chủ yếu, vì đây
là loại gia súc dễ nuôi, có thể tận dụng được lượng thức ăn thừa từ nhà bếp. Bên cạnh
đó do tập quán dùng thòt heo và giá thực phẩm nhu cầu thòt heo trong cuộc sống cao
hơn các loại thòt gia súc, gia cầm khác, nên sản phẩm từ chăn nuôi heo dễ dàng tiêu
thụ và ổn đònh hơn. Đối với chăn nuôi gia cầm, vốn đầu tư cho gia cầm tương đối
thấp hơn so với chăn nuôi bò, heo mà thời gian thu hoạch nhanh, thò trường tiêu thụ
lớn (trong giai đoạn 1995-2000) nên nhiều hộ chăn nuôi đầu tư vào chủng loại này.
Đặc biệt từ năm 2002-2005 do dòch cúm gia cầm nên số lượng đàn gia cầm bò giảm.
Năng suất sản phẩm chăn nuôi một số thực vật trong trong quá trình giết
mổ vật nuôi, chất thải sinh ra chưa được xử lý hoặc chưa được xử lý triệt để gây
lan truyền dòch bệnh và gây ô nhiễm môi trường .
Theo thống kê của Lê Hồng Mận, năm 2001 tổng đàn lợn cả nước đạt đến
21.1 triệu con, lợn nái 2.8 triệu con (13.20% tổng đàn), sản lượng thòt lợn 544.6
nghìn tấn, chiếm 70-80% tổng sản lượng thòt các loại, có số lượng lớn phân hữu cơ
cho đồng ruộng. Song song đó, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã có những
thành tựu phát triển khá, với tốc độ tăng trưởng đầu con hàng năm 5.66%, sản
lượng thòt 5.7%, đặc biệt sản lượng trứng tăng nhanh hơn đến 3.8 tỷ quả, bình
quân xấp xỉ 50 quả/người, trong đó chủ yếu là trứng gà.
3
nước
thải. Trong những năm tới để phát triển bền vững sản xuất và không làm ô nhiễm
môi trường, Thành Phố Hồ Chí Minh đã có chủ trương đưa các cơ sở chăn nuôi
hiện nay ra các huyện Củ Chi, Hốc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Bên cạnh đó, chăn nuôi được khuyến khích phát triển và tạo điều kiện
nâng cao tỉ trọng chăn nuôi công nghiệp, thực hiện tốt di dời các cơ sở chăn nuôi
SVTH:Nguyễn Thò Như Ly
Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD: TH.S:NGUYỄN VĂN ĐỆ
gây ô nhiễm, kết hợp với bố trí lại, di chuyển các trại chăn nuôi ra vùng nông
nghiệp ổn đònh lâu dài, kết hợp với công nghiệp hoá, hiện đại hoá các khâu sản
xuất giống, chuồng trại, thức ăn gia súc, xử lý nước thải…
Sau năm 2000, các cơ sở chăn nuôi công nghiệp được xây dựng chủ yếu ở
Củ Chi và một số vùng nông thôn ở Hóc Môn, Bình Chánh, Thủ Đức, Nhà Bè,
Cần Giơ …(tuỳ đối tượng nuôi và hạn chế tối đa ở các khu dân cư tập trung, vùng
đô thò hoá) và đạt mục tiêu phấn đấu giai đoạn 2000-2010 sẽ cung cấp sản phẩm
chăn nuôi cho khoảng 6 triệu người (hiện ngành chăn nuôi chỉ đáp ứng được 21-
37% nhu cầu thòt cho thành phố).
2.2 Ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi
2.2.1 Nguồn phát thải ô nhiễm
Khối lượng chất thải chăn nuôi: Chất thải sinh ra do hoạt động chăn nuôi
bao gồm chất thải ở dạng lỏng như phân, thức ăn, ổ lót, xác gia súc, gia cầm chết,
vỏ bao bì thuốc thú y, nước tiểu, nước rửa chuồng…và khí thải chăn nuôi.
Khối lượng chất thải sinh ra từ vật nuôi phụ thuộc vào chủng loại, giống,
giai đoạn sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng và phương thức vệ sinh chuồng trại.
Số lượng gia súc, gia cầm như hiện nay thì khối lượng chất thải hàng ngày
do ngành chăn nuôi tại Thành Phố Hồ Chí Minh thải ra đến vài trăm ngàn tấn
dưới nhiều dạng rắn, lỏng, khí.
Thành phần chất thải