TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CLC & POHE
----------------
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015
Tên công trình: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHỦ NGHĨA VẬT
CHẤTVÀ KHUYNH HƯỚNG THÍCH MUA SẮM ĐẾNHÀNH VI
MUAHÀNG NGẪU HỨNG CỦA SINH VIÊN TẠI HÀ NỘI
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 2 (KD2)
HÀ NỘI, 2015
1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
Bảng biểu:
Biểu đồ:
GIỚI THIỆU
Những đổi thay trong các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, Trung
Quốc và một số nước Đông Âu khiến rất nhiều người quan tâm về những
thách thức marketing đặc thù cho những quốc gia này (Batra 1997). Theo đó,
các vấn đề marketing, đặc biệt hành vi của người tiêu dùng trong các thị
trường này đang nhận được sự quan tâm ngày càng gia tăng từ cả các nhà
đang định hướng tới mục tiêu trừu tượng và ít vật chất hơn (Burroughs &
Rindfleisch, 2002; Sharma, 2011).
Trong nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các điều kiện cần thiết
cho chủ nghĩa vật chất tồn tại đều được đáp ứng. Ở Việt Nam, trong thời kỳ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (trước đổi mới), con người có thể có một
cuộc sống hạnh phúc mà không đặt tầm quan trọng vào giá trị vật chất. Hiện
nay, vật chất đã trở thành mong muốn mạnh mẽ của nhiều người (Tambyah &
cộng sự, 2009). Có nhiều lý do để giải thích cho thực tế này. Cụ thể, có thể là
do các tiêu chuẩn sống được cải thiện và nhu cầu mua bán tăng mạnh của
người tiêu dùng, đặc biệt là ở các khu vực đô thị. Ngoài ra, như là kết quả của
chính sách "mở cửa", các sản phẩm không phổ biến trước đây đều đã có sẵn
trên thị trường. Người tiêu dùng bây giờ có cơ hội tiếp cận phương tiện truyền
thông toàn cầu, và do đó được tiếp xúc với thế giới thời trang và phong cách
sống hiện đại. Theo đó, người tiêu dùng, đặc biệt là những người thuộc tầng
lớp trung lưu, có xu hướng đánh giá cao về vật chất hơn so với trước đây, và
những hàng hóa dường như đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc
sống của họ.
Hầu hết các nghiên cứu về mua hàng ngẫu hứng trước đây đã được tiến
hành trong bối cảnh của các nước phát triển, chủ yếu là sử dụng các mẫu
nghiên cứu ở Mỹ. Trong nghiên cứu này, với bối cảnh của Việt Nam – một
nền kinh tế chuyển đổi ở Châu Á, các mục tiêu nghiên cứu chính của nhóm
tác giả được đưa ra như sau:
4
-
Thực trạng và tác động của chủ nghĩa vật chất (bao gồm 3 thành phần:
sự thành đạt ‘success’, mục tiêu trung tâm ‘centrality’ và yếu tốhạnh
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
5
1.1 Khái niệm mua ngẫu hứng
Đã có nhiều khái niệm về hành vi mua ngẫu hứng được đề cập trong
các nghiên cứu trước. Theo Stern (1962), hành vi mua ngẫu hứng là sự phá vỡ
quá trình mua hàng bình thường. Theo Antoni và Shenson (1973), mua hàng
ngẫu hứng có thể được phân biệt với các loại hành vi mua bình thường của
người tiêu dùng qua sự nhanh chóng hoặc sự bốc đồng của người tiêu dùng
thông qua các giai đoạn quyết định mua hàng, “một quyết định mà trong đó
giai đoạn xử lý thông tin được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn hơn
bình thường”.
Theo Belleger (1978), hành vi mua ngẫu hứng là kết quả của việc quyết
định mua sau khi bước vào cửa hàng. Weinberg và Gottward (1982) đã miêu
tả hành vi mua ngẫu hứng như là hành vi mua bao gồm trạng thái cảm xúc
cao, kiểm soát nhận thức thấp, và hành vi chủ yếu là phản ứng trước tác động
của môi trường xung quanh.
Theo Rook và Hoch (1985), hành vi mua ngẫu hứng là hành vi liên
quan đến một mong muốn bất ngờ, hành động tự phát và là sự mâu thuẫn về
tâm lý. Rook (1987) đã đưa ra một định nghĩa về hành vi mua ngẫu hứng
mang tính bước ngoặt, tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu về mua ngẫu hứng về
sau. Theo định nghĩa này, mua ngẫu hứng xảy ra “khi người tiêu dùng trải
nghiệm một cảm giác bất chợt, mang tính thôi thúc mua một cái gì đó ngay
lập tức. Sự mua ngẫu hứng này thể hiện một trạng thái cảm xúc khá phức tạp
và có thể tạo ra những mâu thuẫn nhất định trong suy nghĩ, tình cảm của
người tiêu dùng. Ngoài ra, khi mua ngẫu hứng, người tiêu dùng thường có
khuynh hướng ít quan tâm tới hậu quả của việc mua hàng của mình”.
Trên cơ sở định nghĩa của Rook (1987), các nhà nghiên cứu Beatty và
Ferrell (1998) đã định nghĩa mua ngẫu hứng là hành vi mua ngay lập tức,
Như vậy, hành vi mua ngẫu hứng khác với hành vi mua không có kế
hoạch và cũng khác với hành vi nghiện mua sắm của người tiêu dùng (Flight
và cộng sự, 2012).
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua ngẫu hứng
7
Các học giả sử dụng các lý thuyết khác nhau để giải thích hành vi mua
ngẫu hứng của người tiêu dùng. Ví dụ, lý thuyết về xử lý thông tin (Simon,
1955) hay lý thuyết tự kiểm soát bản thân (Verplaken và Sato, 2011) được sử
dụng để lý giải hành vi mua quan trọng này. Dựa trên các lý thuyết khác nhau,
nhiều yếu tố đã được xác định và phân tích mức độ ảnh hưởng tới mua hàng
ngẫu hứng như các yếu tố về môi trường bán lẻ (ví dụ: các yếu tố văn hóa qua
nghiên cứu của Kacen và Lee, 2000, Nguyen và cộng sự, 2003), hay các yếu
tố về tâm trạng, điều kiện và đặc điểm nhân khẩu học của người mua (ví dụ:
yếu tố tâm trạng, sự sẵn có về tiền nong, thời gian mua hàng qua nghiên cứu
của Beatty và Ferrell (1998), Wells, Parboteeah và cộng sự (2011), niềm vui
và sự phấn khích qua nghiên cứu của Herabadi và cộng sự (2009), Flight và
cộng sự (2012), sự căng thẳng qua nghiên cứu của Sneath và cộng sự (2009),
tâm trạng tiêu cực qua nghiên cứu của Rook và Gardner (1993), yếu tố tuổi
tác, giới tính và thu nhập qua nghiên cứu của Bellenger và cộng sự (1978),
Nguyen và cộng sự (2003).
1.3 Chủ nghĩa vật chất,khuynh hướng thích mua sắm và tác động tới
hành vi mua ngẫu hứng
Nhiều nghiên cứu trước cả ở trên thế giới và ở Việt Nam đã xem xét và
kiểm định tác động của khuynh hướng thích mua sắm tới hành vi mua ngẫu
hứng của người tiêu dùng (ví dụ: Beatty & Ferrell, 1998; Nguyen & cộng sự,
2013). Khuynh hướng thích mua sắm đã được nhắc đến như một niềm vui,
hoạt động thú vị, dẫn đến cảm giác "sung sướng" cho người tiêu dùng (Jin và
Sternquist, 2004). Những hình ảnh tích cực được biểu lộ để tạo ra mức độ cao
độ về chủ nghĩa vật chất cũng như những tác động của nó tới các hành vi mua
của người tiêu dùng, trong đó có mua ngẫu hứng là một trong những chủ đề
quan trọng và hấp dẫn của nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi
người tiêu dùng. Nghiên cứu của Podoshen & Andrzejewski (2012) đã xem
xét tác động của chủ nghĩa vật chất tới một số hành vi mua, trong đó có hành
vi mua ngẫu hứng. Kết quả nghiên cứu của các tác giả này đã chỉ ra chủ nghĩa
vật chất có tác động thuận chiều tới hành vi mua ngẫu hứng.
9
Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây trên thế giới nghiên cứu về hành
vi mua hàng ngẫu hứng được thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển. Vì vậy,
nghiên cứu về hành vi mua ngẫu hứng của người Việt Nam nói chung và giới
sinh viên nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về
tác động của nhiều yếu tố khác nhau tới hành vi mua ngẫu hứng, tác động của
một yếu tố quan trọng là chủ nghĩa vật chất vẫn còn ít được xem xét. Ở Việt
Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào xem xét tác động của chủ nghĩa vật chất
tới hành vi mua ngẫu hứng.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung tìm hiểu ảnh hưởng của
chủ nghĩa vật chất, mà cụ thể là của 03 yếu tố cấu thành của chủ nghĩa vật
chất tới hành vi mua ngẫu hứng của nhóm đối tượng sinh viên tại các trường
đại học thuộc Hà Nội. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng tìm hiểu về mức độ tác
động của khuynh hướng thích mua sắm tới hành vi mua ngẫu hứng trong giới
sinh viên. Từ đó, nghiên cứu này đưa ra các kiến nghị làm cơ sở cho giáo dục
về lối sống, hướng dẫn hành vi mua sắm cho giới trẻ, đặc biệt với sinh viên tại
Hà Nội, là đối tượng mà nhóm tác giả hướng đến. Mô hình nghiên cứu và các
giả thuyết nghiên cứu được trình bày chi tiết trong phần sau.
1.4 Những hạn chế trong các nghiên cứu trước và đóng góp của nghiên
cứu này
Từ tổng quan nghiên cứu trên về mua ngẫu hứng, có hai vấn đề nổi lên.
giới. Điều này gợi mở nhu cầu nghiên cứu về khái niệm này nhiều hơn ở nước
ta. Tuy nhiên, tính cho đến thời điểm hiện tại, chưa có nhiều học giả Việt
Nam đi sâu vào nghiên cứu khái niệm này cũng như tác động của chủ nghĩa
vật chất đối với hành vi mua sắm nói chung và mua ngẫu hứng nói riêng. Đặc
biệt, nghiên cứu về chủ nghĩa vật chất và tác động của nó tới hành vi mua và
tiêu dùng của lớp người trẻnhư sinh viên dường như chưa có.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tập trung tìm hiểu ảnh hưởng của
chủ nghĩa vật chất, mà cụ thể là của 03 yếu tố cấu thành của chủ nghĩa vật
chất tới hành vi mua ngẫu hứng của nhóm đối tượng sinh viên tại các trường
đại học thuộc Hà Nội. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng tìm hiểu về mức độ tác
11
động của xu hướng thích mua sắm tới hành vi mua ngẫu hứng trong giới sinh
viên. Từ đó, nghiên cứu này đưa ra các kiến nghị làm cơ sở cho giáo dục về
lối sống, hướng dẫn hành vi mua sắm cho giới trẻ, đặc biệt với sinh viên tại
Hà Nội, là đối tượng mà nhóm tác giả hướng đến. Mô hình nghiên cứu và các
giả thuyết nghiên cứu được trình bày chi tiết trong phần sau.
12
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1. Bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam
Những thập kỷ vừa qua đã đánh dấu bước chuyển mình đáng kể của
các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, cũng
như một số nước Đông Âu. Điều đó thể hiện qua sự chuyển dịch đáng kể từ
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyen, 2009). Chính sự
chuyển dịch này đã mở rộng cơ hội cho những công ty đa quốc gia như
mua sắm để giải trí, họ sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền và nhiều thời gian hơn cho
mua sắm (Nguyen và Rose, 2006). Với những thay đổi đáng kể trong các giá
trị tiêu dùng, thái độ và hành vi, số lượng người tiêu dùng Việt Nam tham gia
vào mua sắm ngẫu hứng cũng gia tăng tương ứng.
2.2. Các yếu tố tác động tới hành vi mua ngẫu hứng
Tính đến nay, nhiều học giả đã nghiên cứu về các yếu tố tác động tới
hành vi mua sắm ngẫu hứng. Các biến được xem xét trong accs nghiên cứu
trước đây như trạng thái, tâm trạng và cảm xúc (Rook và Gardner, 1993), ảnh
hưởng của yếu tố mang tính quy phạm (Rook và Fisher, 1995), danh mục sản
phẩm (Bellenger, 1978), ảnh hưởng trong nội bộ cửa hàng (McGoldrick,
1982), các biến nhân khẩu học (ví dụ, Dittmar, 1995),các biến về sự khác biệt
cá nhân (Beatty và Ferrell, 1998; Rook và Fisher, 1995). Tuy nhiên, kiến thức
của chúng ta về các biến ảnh hưởng đến mua sắm ngẫu hứng, đặc biệt là trong
bối cảnh của một nền kinh tế chuyển đổi ở châu Á như Việt Nam vẫn còn hạn
chế. Trong các phần dưới đây, nhóm tác giả sẽ thảo luận về một số biến cá
nhân khác biệt và tác động của chúng tới hành vi mua sắm ngẫu hứng ở Việt
Nam - một nền kinh tế đang chuyển đổi ở châu Á. Những yếu tố này bao gồm
chủ nghĩa vật chất (với các yếu tố cấu thành: quan điểm về sự thành đạt, mục
tiêu trung tâm, yếu tố hạnh phúc) và khuynh hướng thích mua sắm.
2.2.1 Chủ nghĩa vật chất
Trong nghiên cứu về người tiêu dùng, các nhà nghiên cứu đã xem chủ
14
nghĩa vật chất như một đặc điểm tính cách (Belk năm 1984, 1985; Ger &
Belk,1993), và giá trị người tiêu dùng (Fournier & Richins, 1991; Richins,
1994; Richins & Dawson, 1992).
Belk (1985) định nghĩa chủ nghĩa vật chất là "tầm quan trọng mà một
người tiêu dùng gắn vào của cải vật chất họ sở hữu”. Ở cấp độ cao nhất của
chủ nghĩa vật chất, của cải được giả định nắm giữ vị trí trung tâm trong cuộc
các khía cạnh của HSV xem xét trong nghiên cứu này bao gồm sự vui thích,
mới lạ, sự thoát ly và sự tương tác xã hội. Khái niệm của chúng ta về khuynh
hướng thích mua sắm tập trung vào các kết quả của các khía cạnh như vậy.
Như đã nhắc tới trong phần tổng quan tài liệu, khuynh hướng thích mua
sắm đã được coi như là một yếu tố tác động tới mua sắm ngẫu hứng (Betty và
Ferrell, 1998). Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xem xét tác động của
khuynh hướng thích mua sắm trong bối cảnh nghiên cứu đối tượng sinh viên
ở Hà Nội - Việt Nam.
Sự thành đạt
Mục tiêu trung tâm
Hành vi mua sắm ngẫu hứng
Yếu tố hạnh phúc
Khuynh hướng thích mua sắm
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
2.4. Giả thuyết nghiên cứu
Mặc dù các nghiên cứu trước đây, khi xem xét sự tác động của chủ
nghĩa vật chất và hành vi mua sắm ngẫu hứng đã sử dụng những thang đo
khác nhau để đo lường chủ nghĩa vật chất. Tuy nhiên, ở các cấp độ thang đo
17
phụ của chủ nghĩa vật chất, những phát hiện trong quá khứ không phải lúc
nào cũng nhất quán và rõ ràng. Vì vậy, trong bối cảnh của Việt Nam, nhóm
tác giả mong đợi tìm thấy một số kết quả khác nhau và thú vị liên quan đến sự
ảnh hưởng của chủ nghĩa vật chất đối với hành vi mua sắm ngẫu hứng của
Dựa vào cuộc thảo luận ở trên, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết
nghiên cứu sau đây:
H1: 'Sự thành đạt' tác động thuận chiều tới khuynh hướng mua sắm
ngẫu hứng và tần suất mua ngẫu hứng của sinh viên Hà Nội.
H2: 'Mục tiêu trung tâm' tác động thuận chiều tới khuynh hướng
mua sắm ngẫu hứng và tần suất mua ngẫu hứng của sinh viên trên địa bàn
Hà Nội.
H3: 'Yếu tố hạnh phúc' tác động thuận chiều tới
khuynh hướng mua sắm ngẫu hứng và tần suất mua
ngẫu hứng của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
Ở Việt Nam, việc mua sắm tại các siêu thị ở các thành phố lớn là một
sở thích và một thói quen giải trí (McDonald , 2000). Theo đó, người ta có thể
xem mua sắm như là một cách tìm kiếm niềm vui và giảm stress. Những
người có khuynh hướng thích mua sắm cao thường đi mua sắm thường xuyên
hơn và có xu hướng dành nhiều thời gian hơn trong việc mua sắm và quyết
định mua hàng. Theo đó, họ có nhiều khả năng để đáp ứng các khuyến khích
bên trong các môi trường mua sắm để hành động theo ý muốn đột ngột rồi
mua sản phẩm. Vì vậy, những người thích mua sắm sẽ thường xuyên có hành
vi mua sắm ngẫu hứng hơn.
Theo kinh nghiệm cho thấy, những người Trung Quốc thích mua sắm
cho vui, để tìm kiếm sự mới lạ và nhận được lời khen ngợi thường là những
người có khuynh hướng mua sắm ngẫu hứng cao hơn(Yu và Bastin, 2010). Vì
vậy, nhóm nghiên cứu chính thức đưa ra giả thuyết nghiên cứu cho bối cảnh
Việt Nam rằng:
H4: Khuynh hướng thích mua sắm có tác động thuận chiều tới khuynh
hướng mua sắm ngẫu hứng và tần suất mua ngẫu hứng của sinh viên trên
địa bàn Hà Nội.
19
thang đo sử dụng trong nghiên cứu định lượng gồm:
Mua sắm ngẫu hứng (Impulse Buying):
Đây là biến trung tâm trong mô hình nghiêncứu. Trong đề tài này các
tác giả sử dụng 02 thang đo về mua sắm ngẫu hứng: tầnsuất mua ngẫu hứng
với thang đo được điều chỉnh từ thang đo của Kacen và Lee (2002), các đối
tượng được phỏng vấn được yêu cầu ước lượng tần suất mua ngẫu hứng với
các sản phẩm nói chung và với sản phẩm cụ thể là quần áo -sản phẩm được
đánh giá là sản phẩm hay mua ngẫu hứng nhất (tham khảo Nguyễn và các
cộng sự, 2003), và khuynh hướng mua ngẫu hứng (thang đo này được thừa kế
từ thang đo với 05 chỉ báo của Weun và các cộng sự, 1998).
Khuynh hướng thích mua sắm (Shopping Enjoyment Tendency):.
Nghiên cứu nàysử dụng thang đo khuynh hướng thích đi mua sắm được
sử dụng trong nghiên cứu củaBeatty and Ferrell (1998) với 4 câu hỏi.
Chủ nghĩa vật chất (Materialism):
Thang đo chủ nghĩa vật chất được phát triển bởi Richins & Dawson
(1992) đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Thang đo bao gồm ba thành
phần của vật chất, bao gồm sự thành đạt, mục tiêu trung tâm và yếu tố hạnh
phúc, trải dài trong 18 câu hỏi. Các mục được ghi trên 5 điểm Likert loại định
dạng từ toàn không đồng ý đến đồng ý mạnh mẽ.
Định dạng câu trả lời cho mẫu đầu tra đều trên thang đo Likert 5 điểm,
xác định bởi "Rất phản đối” và "Đồng ý", ngoại trừ tần suất mua sắm ngẫu
hứng được đo bằng thang 5 điểm từ "Rất hiếm khi” đến “Rất thường xuyên”.
Tất cả thang đo và các câu hỏi tương ứng được báo cáo trong phần Phụ lục.
3.2.2 Mẫu điều tra và thu thập số liệu:
Quy mô mẫu gồm 317 sinh viên Đại học tại Hà Nội, thủ đô của Việt
Nam. Hà Nội là thành phố lớn thứ hai tại Việt Nam, đồng thời là một khu vực
chuyển đổi kinh tế mạnh mẽ, (Nguyen và Smith, 2012), rất thích hợp với
nghiên cứu khoa học này.
21
182
57.4%
Nơi sinh sống Thành phố lớn
177
55.8%
chủ yếu từ khi Thị trấn nhỏ
46
14.5%
sinh ra đến
Nông thôn
67
21.1%
hiện tại
Miền núi
14
Làm thêm
64
20.2%
hàng tháng
Tự kinh doanh
19
6%
Khối trường
22
Đặc điểm
Tần suất
Phần trăm
< 500.000 Đ
49
3.5%
lớn giữa sinh viên khối trường kinh tế và sinh viên khối trường kĩ thuật được
khảo sát.
Trước khi kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, các tác giả đã phân tích
nhân tố khám phá (EFA) và đánh giá độ tin cậy của các thang đo trong nghiên
cứu này.
24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kết quả nghiên cứu định tính
Nghiên cứu của các tác giả tập trung vào phát triển kiểm định mô hình
và các giả thuyết nghiên cứu sự tác động của chủ nghĩa vật chất tới của hành
vi mua sắm ngẫu hứng của sinh viên Đại học ở Hà Nội. Trước khi thử nghiệm
các mô hình nghiên cứu và giả thuyết, nhóm tác giả đã tiến hành một nghiên
cứu định tính sơ bộ.
Qua phỏng vấn với 10 sinh viên Đại học thuộc khối ngành kinh tế hoặc
kĩ thuật tại Hà Nội, bao gồm 6 nữ và 4 nam, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu sơ
bộ được về tác động của chủ nghĩa vật chất lên hành vi mua sắm ngẫu hứng.
Cụ thể, tất cả các sinh viên đều thừa nhận đã từng mua ngẫu hứng ít nhất 3 lần
trong khoảng 6 tháng trở lại đây, và người nào càng thích đi mua sắm, người
đó càng có khả năng mua sắm ngẫu hứng lớn. Ba thành phần trong chủ nghĩa
vật chất bao gồm sự thành đạt (success), mục tiêu trung tâm (centrality) và
yếu tố hạnh phúc (happiness) cũng được thể hiện rõ trong câu trả lời của các
sinh viên được phỏng vấn. 7 trong 10 sinh viên cho rằng càng ý thức về sự
thành đạt và mưu cầu yếu tố hạnh phúc, hành vi mua sắm ngẫu hứng sẽ càng
giảm, trái ngược với những nghiên cứu và giả thuyết trước đây. 100% sinh
viên này đều đồng ý về nếu có mục tiêu trung tâm lớn, hành vi mua sắm ngẫu
hứng cũng sẽ phát triển thuận chiều, thể hiện mong muốn sở hữu của cải vật
chất là mục tiêu của cuộc sống. Với nhân khẩu học khác nhau, các tác giả