MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………..2
NỘI DUNG ……………………………………………………………………..3
I. Định nghĩa dư luận xã hội …………………………………………………….3
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội …………………….3
1. Quy mô, cường độ, tính chất của các sự kiện, hiện tượng xã hội,
quá trình xã hội đang diễn ra trong xã hội ……………………………………4
2. Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm
thực tế xã hội của con người ………………………………………………….5
3. Thông tin đại chúng …………………………………………………………..6
4.
Những
nhân
tố
thuộc
về
tâm
lý
xã
hội
luật” để có thể tìm hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này.
2
NỘI DUNG
I. Định nghĩa dư luận xã hội
Dư luận xã hội là hiện tượng tinh thần của xã hội, là hiện tượng phức tạp
nên khó có thể lột tả hết nội hàm của nó trong một số dòng định nghĩa ngắn gọn.
Vậy nên, về mặt lý luận hầu như không tồn tại định nghĩa toàn diện về dư luận
xã hội được tất cả mọi người đồng tình. Trên các sách, báo, tạp chí xã hội học đã
có khá nhiều định nghĩa được nêu ra. Trong hầu hết các định nghĩa đó đều đề
cập đến nội dung chính của khái niệm dư luận xã hội: thứ nhất, dư luận xã hội là
tập hợp các ý kiến, quan đểm, thái độ mang tính phán xét, đánh giá của nhiều
người trước thực tế nhất định; thứ hai, sự phán xét, đánh giá đó chỉ nảy sinh khi
trong xã hội có những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung
của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội; thứ ba, vấn đề mang tính thời sự đó phải
thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều người, của đa số các thành viên trong
xã hội.
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về dư luận xã hội như sau: dư luận xã
hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm
xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên
quan đến lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể
hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
Khi nghiên cứu dư luận xã hội cần chú ý phân biệt dư luận xã hội với tin
đồn. Tin đồn là một hiện tượng tâm lý khác về bản chất so với dư luận xã hội ở
chỗ, tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó.
Tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật,
không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang
người khác chủ yếu bằng con đường truyền miệng.
gốc phát sinh dư luận xã hội thì xuất phát từ chính bản thân các sự việc, sự kiện,
hiện tượng xảy ra trong thực tế xã hội với quy mô, cường độ và tính chất của
chúng.
Ví dụ: Trường hợp xăng dầu tăng giá cao trong những ngày vừa qua đã gây
lên một làn sóng dư luận xã hội lớn trong cộng đồng dân cư. Xăng dầu cung cấp
nguyên liệu cho các phương tiện giao thông vận tải, máy móc, kỹ thuật,… phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Vì thế mà giá xăng dầu tăng
4
cao đã kéo theo nhiều mặt hàng khác cũng tăng lên, trong khi đó tiền lương của
người dân lại không được tăng theo, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho nhân
dân. Như vậy, việc tăng giá xăng vừa qua đã ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
đến quyền lợi của đại đa số người dân. Vì thế, nó nhanh chóng tạo nên làn sóng
dư luận lớn trong xã hội, chiếm được nhiều sự quan tâm của xã hội.
2. Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm
thực tế xã hội của con người
Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào trình độ học vấn, kiến thức,
hiểu biết, kinh nghiệm thực tế của các cá nhân, các nhóm xã hội trong xã hội.
Nói cách khác, nó phụ thuộc vào mức độ chuẩn bị của cộng đồng để tiếp nhận
các sự việc, sự kiện, hiện tượng cần thiết. Nếu thông tin không đầy đủ thì dẫn
đến khả năng tranh luận kéo dài, khó hình thành dư luận xã hội. Trình độ học
vấn của con người cũng ảnh hưởng quan trọng tới khuynh hướng, chiều sâu, tính
chất phản ánh đúng sai của các ý kiến, các quan điểm phán xét đánh giá đối với
sự việc, sự kiện. Chẳng hạn ở những nhóm xã hội có trình độ học vấn cao, các
cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, phân tích một cách khoa học cả nội
dung, bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân của sự việc, sự kiện; từ đó, đưa ra các
phán xét đánh giá phù hợp về sự việc, sự kiện, góp phần hình thành những dư
luận xã hội tích cực, có lợi cho cộng đồng, cho dân tộc hay quốc gia. Ngược lại,
ở những nhóm xã hội có trình độ học vấn thấp, sự hình thành dư luận xã hội
của công chúng được coi là một trong những tiền đề cơ bản cho sự phát triển của
hệ thống truyền thông đại chúng. Trên phương diện này, hệ thống truyền thông
đại chúng ở đất nước ta đã có những bước tiến nổi bật trong những năm đổi mới.
Các chương trình phát thanh, truyền hình, xuất bản phẩm đã trở nên đa dạng
hơn, phong phú hơn, cập nhật hơn với các thông tin về đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa xã hội của đất nước; sự phản ánh nội dung các thông tin cũng chân
thực và khách quan hơn. Những thông tin mà các phương tiện thông tin đại
chúng cung cấp là một trong những nguồn sống quan trọng của dư luận xã hội.
“Dư luận xã hội là sản phẩm của truyền thông”.
Thứ hai, các phương tiện thông tin đại chúng là diễn đàn ngôn luận công
khai dành cho công chúng. Ngày nay trình độ dân trí của người dân ngày càng
được nâng cao. Các tầng lớp nhân dân cũng ngày càng tham gia rộng dãi hơn
vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đó, các phương tiện
6
thông tin đại chúng có trách nhiệm truyền tải thông tin về các ý kiến, thái độ của
công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong đời sống xã hội. “Dư
luận xã hội chính là hơi thở của cuộc sống mà các phương tiện thông tin đại
chúng không thể bỏ qua”. Bằng cách này công chúng sẽ có cơ hội tham gia ngày
càng tích cực và có trách nhiệm hơn vào quá trình chuẩn bị, thực hiện, giám sát
và đánh giá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các
hoạt động cụ thể, thường xuyên của các cấp chính quyền.
Thứ ba, các phương tiện thông tin đại chúng định hướng và điều chỉnh sự
hình thành, phát triển của dư luận xã hội sao cho phù hợp với lợi ích của quốc
gia, dân tộc, cộng đồng. Hệ thống truyền thông đại chúng cần dành một phần
thích đáng cho việc đăng tải các thông tin đã được kiểm chứng chính thức và
mang tính định hướng xây dựng. Đặc biệt khi các sự việc, sự kiện diễn ra có tầm
quan trọng và liên quan tới lợi ích của đất nước, của dân, đụng chạm đến các giá
trị, chuẩn mực xã hội cơ bản,… Khi đó, định hướng thông tin phải phản ánh kịp
ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tiến bộ của xã hội vì
thế mà dư luận xã hội cũng thay đổi theo, không còn tư tưởng “trọng nam khinh
nữ” mà nam nữ đều bình đẳng trước pháp luật, trong mọi mặt của đời sống xã
hội, người ta công nhận tài năng, sự cố gắng và vai trò to lớn của người phụ nữ
trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Như vậy, tâm lý xã hội đã ảnh hưởng trực
tiếp đến dư luận xã hội.
5. Hoàn cảnh sinh hoạt chính trị - xã hội
Mức độ dân chủ hóa đời sống xã hội, khả năng và sự tham gia thực tế của
người dân vào các sinh hoạt chính trị - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất
quan trọng tới sự hình thành dư luận xã hội. Trong điều kiện xã hội không có sự
thực hành dân chủ rộng dãi, có thông tin đa dạng, phong phú thì mọi người sẵn
sàng thẳng thắn, cởi mở bộc lộ ý kiến, quan điểm của mình, tham gia bàn bạc
các vấn đề chung; khi đó, dư luận xã hội có điều kiện hình thành nhanh chóng
thuận lợi. Ngược lại trong điều kiện thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm
chí bị cắt xén, xuyên tạc thì dư luận xã hội thường hình thành khó khăn, chậm
chạp. Dưới các chế độ độc tài, phát xít, mọi quyền dân chủ bị thủ tiêu, dư luận
xã hội càng khó hình thành và phát huy tác động, khi đó nó thường biểu hiện
dưới hình thức biểu tượng, tiếu lâm, châm biếm.
8
Ví dụ: Trong nhà nước dân chủ của ta hiện nay, người dân được tự do bộc
lộ ý kiến, tham gia thảo luận các vấn đề chung của nhà nước và xã hội. Đặc biệt
là trong việc góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của nước ta trong thời gian qua.
Bản dự thảo Hiến pháp đã nhận được những ý kiến đóng góp đông đảo của
người dân đặc biệt là tầng lớp trí thức, họ được phát ngôn rộng dãi ý kiến, thể
hiện thái độ của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng để góp phần
hoàn thiện bản Hiến pháp, vì thế mà việc lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi
Hiến pháp đã trở thành đề tài được sự quan tâm đông đảo của dư luận xã hội
trong những tháng qua.
việc sống thử. Sống thử không được chấp nhận vì nó đi ngược lại phong tục tập
quán, thuần phong mỹ tục, quan niệm về trinh tiết của người con gái và những
hậu quả tiêu cự do “sống thử” không chỉ riêng cá nhân mà còn ảnh hưởng xấu
tới xã hội. Nhưng với một nhóm người khác lại ủng hộ việc sống thử vì họ cho
rằng nó có thể giải quyết được nhiều vấn đề thiết thực như: sống thử để bù đắp
tình cảm, tiết kiệm tiền, tìm hiểu nhau trước khi cưới, để khẳng định bản thân,…
Như vậy, các phong tục tập quán, chuẩn mực xã hội có tác động lớn đến sự hình
thành dư luận xã hội song trong cùng xã hội không phải ai cũng dựa vào những
chuẩn mực ấy để đánh giá vì thế mà dẫn đến những cách nhìn nhận khác nhau
giữa các thế hệ.
III. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu dư luận xã hội đối với lĩnh
vực pháp luật
1. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Thông qua dư luận xã hội, nhân dân có điều kiện bày tỏ quan điểm, ý kiến
của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, đạo đức,… Việc hiểu được vai trò của
dư luận xã hội sẽ giúp những người làm công tác lãnh đạo và quản lý có được
cái nhìn đa chiều. Lắng nghe dư luận xã hội có nghĩa là lắng nghe lòng dân để từ
đó có những biện pháp xây dựng pháp luật phù hợp xác đáng với mọi công dân,
đồng thời cũng có những chính sách khắc phục những quyết định, những ý trí
biểu hiện quan liêu, xa dời quần chúng.
Đại hội VII của Đảng chỉ rõ bài học “lấy dân làm gốc” và thực hiện phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đến Đại hội VIII, Đảng ta lại
nhấn mạnh nhiệm vụ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Phương châm
10
này chính là nội dung của thiết chế dân chủ - một phương thức phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Đây vừa là phương thức thực thi dân chủ, vừa
phù hợp với phương châm lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà
nước từ khâu chuẩn bị quyết định, ra quyết định, thực hiện quyết định và kiểm
được ban hành phù hợp với yêu cầu khách quan của thực tiễn cuộc sống, phát
huy được vai trò và hiệu lực của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Việc nghiên cứu dư luận xã hội cũng giúp cho các cơ quan lập pháp có căn
cứ để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật ngày càng phù hợp
hơn.
3. Trong việc thực hiện pháp luật
Tùy theo vấn đề quan trọng hay không quan trọng, tùy theo phản ứng của
dư luận xã hội và kết quả nó mang lại hay hậu quả mà nó có thể gây ra sẽ làm
thay đổi việc thực hiện pháp luật khác nhau. Nếu dư luận xã hội đi sai về vấn đề,
truyền bá tư tưởng, hoạt động sai trái thì việc thực hiện pháp luật cũng không
còn nữa. Thay vào đó là các vi phạm pháp luật và ngược lại. Chính lẽ đó mà
việc thấy được, hiểu được dư luận trong tư tưởng của mỗi người phải được chú
trọng, quan tâm một cách đầy đủ cả về thông tin lẫn sự hiểu biết.
Đối với việc thực hiện pháp luật thì dư luận xã hội có tác dụng như là cố
vấn về mặt tinh thần. Việc thực hiện pháp luật đương nhiên phải dựa trên cơ sở
pháp luật, nhưng nếu nhận được sự đồng tình, ủng hộ của dư luận thì hiệu quả sẽ
rất cao. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng pháp luật không phải khi nào cũng
lường trước được mọi tình huống hay hoàn cảnh có thể xảy ra trong thực tế, do
vậy khi tổ chức thực hiện pháp luật thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần
chú ý đến dư luận xã hội xem xã hội đồng tình hay phản đối hoạt động đó của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Dư luận xã hội cũng có thể tác động đòi hỏi các
cơ quan tổ chức thực hiện, áp dụng pháp luật phải cân nhắc, xem xét lại hành vi,
quyết định áp dụng pháp luật hoặc có thể phải tạm dừng các hoạt động đó.
Qua dư luận xã hội các cơ quan thẩm quyền sẽ đánh giá được mức độ hiểu
biết, khả năng nhận thức, việc sử dụng pháp luật và phản ứng của nhân dân đối
với các vấn đề pháp luật để từ đó tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật
như thế nào cho phù hợp với khả năng nhận thức và thực hiện pháp luật ở đại số
quần chúng nhân dân.
12
pháp luật của các cá nhân. Dư luận xã hội khi đã hình thành, thường tác động
vào ý thức con người, trước hết là ý thức cá nhân; chi phối, điều chỉnh ý thức,
13
hành vi của con người phù hợp với ý trí chung của cộng đồng xã hội. Dư luận xã
hội có vai trò giáo dục cho cá nhân mỗi người ý thức đúng đắn về sự đúng - sai,
phải - trái, thiện - ác, đẹp - xấu, việc nên làm, điều nên tránh,… Phù hợp với các
quy tắc, yêu cầu của pháp luật hiện hành. Các cá nhân, dựa trên những tri thức,
hiểu biết về pháp luật tiếp nhận được, sẽ có hành vi pháp luật đáp ứng sự đòi
hỏi, mong đợi của dư luận xã hội. Cụ thể là, mỗi cá nhân sẽ tự điều chỉnh hành
vi pháp luật của mình sao cho phù hợp với quy tắc, yêu cầu của các giá trị, quy
phạm pháp luật chung. Các cá nhân sẽ tự cảm nhận được những điều nên làm và
không nên làm, những hành động, cách xử sự chấp nhận được trong cuộc sống
cộng đồng của họ. Điều đó cho thấy dư luận xã hội có ảnh hưởng tích cực tới sự
hình thành và phát triển ý thức pháp luật của cá nhân. Dư luận xã hội còn tác
động mạnh mẽ tới tâm lý pháp luật cá nhân, thể hiện trên các phương diện: dư
luận xã hội tác động quan trọng tới tình cảm pháp luật của cá nhân; dư luận xã
hội tác động tới tâm trạng của cá nhân trước pháp luật; thông qua dư luận xã hội,
các cá nhân tự đánh gía về hành vi ứng sử của mình trong phạm vi điều chỉnh
của các quan hệ pháp luật hiện hành.
Trong phạm vi nhóm xã hội, dư luận xã hội không phải là ý kiến, phán xét
đánh giá của nhiều thành viên trong nhóm xã hội, là sự phát ngôn chung của họ
về một sự kiện hiện tượng pháp luật nhất định. Đó cũng không phải là tổng cộng
các ý kiến, quan điểm của từng thành viên mà phải thông qua trao đổi, bàn bạc,
có sự tương tác giữa các ý kiến của các thành viên trong nhóm, làm hình thành
nên sự phán xét đánh giá chung của nhóm xã hội trước các vấn đề pháp luật. Từ
sự phán xét đánh giá chung đó nhóm xã hội bày tỏ nhận thức, tình cảm pháp
luật, đi tới hành động thống nhất, nêu lên những kiến nghị của họ trước thực tiễn
đời sống pháp luật của xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, dư luận xã hội tác động
xã hội cũng như khắc phục những hạn chế mà dư luận xã hội còn mắc phải
nhằm đưa dư luận xã hội - tiếng nói của dân trở thành cầu nối giữa dư luận xã
hội với việc thực hiện pháp luật nhằm thực hiện pháp luật nghiêm minh và đúng
với thực tế. Điều này đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực cố gắng từ phía Đảng và Nhà
nước mà là đòi hỏi của tất cả mọi người trong xã hội.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng xã hội học, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2011.
2. TS. Ngọ Văn Nhân, Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
3. Nguyễn Quý Thanh, Xã hội học về dư luận xã hội, Nxb. Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội, 2011.
4. Trần Đức Châm - Hà Bắc Đẩu, Một số nội dung cơ bản của xã hội học,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
5. Lương Khắc Hiếu (Chủ biên), Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999
6. Ngọ Văn Nhân, Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật,
tạp chí Triết học, số 4, 2004.
7. Nguyễn Minh Đoan, Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ các
hoạt động pháp luật, tạp chí Luật học, số 6, 2004.
8. Thu Hằng, Công tác tuyên truyền pháp luật đã đi vào chiều sâu, báo
Pháp luật Việt Nam, số 285, Hà Nội, ngày 28 - 11 - 2005.
9. Bài viết: Sự hình thành dư luận xã hội.
Nguồn: http://yume.vn/snowqueen_bora/article/su-hinh-thanh-du-luan-xahoi.35D68A63.html
10. Bài viết: Các bước hình thành và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình
thành dư luận xã hội, nhận xét tác dụng của dư luận xã hội.
Người dân đổ xô đi mua xăng trước giờ tăng giá.
20
Công an phường Thành Công (quận Ba Đình) phổ biến, giáo dục pháp luật tại
Trường THCS Thành Công.Ảnh: Bảo Lâm
21