mô hình thừa phát lại và thực tiễn áp dụng tại việt nam - Pdf 33

MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................2
II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.......................................................................................2
2.1.Thực trạng pháp luật về thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chính Minh.......6
2.1.1.Những ưu điểm của mô hình thừa phát lại.............................................................................6
2.1.2.Những hạn chế của mô hình thừa phát lại..............................................................................7

2.2.Một số kiến nghị để hoàn thiện mô hình thừa phát lại tại Việt Nam........8
III.KẾT THÚC VẤN ĐÊ........................................................................................9


Luật Thi hành án dân sự

I.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề xã hội hóa việc thi hành án đã được nhà nước ta đặt ra từ rất sớm, để cụ
thể hóa việc này thì Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/QH12 về việc thi
hành Luật Thi hành án dân sự do Quốc hội ban hành. Căn cứ vào Nghị quyết trên,
ngày 19/02/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 224/QĐ – TTg phê
duyệt đề án: “ Thí điểm mô hình Thừa phát lại tại TP HCM”, nếu việc thực hiện ở
TP HCM thành công thì sẽ triển khai mô hình Thừa phát lại này trên toàn quốc. Để
hiểu rõ hơn về vấn đề này, sau đây chúng ta cùng nghiên cứu về mô hình Thừa
phát lại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
II.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Mô hình thừa phát lại ở Việt Nam
1.1.


Page 2


Luật Thi hành án dân sự

1.2.1. Thực hiện việc tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án và của Tòa án
Theo như nội dung tại điều 21 và 24 NĐ 61 thì Văn phòng Thừa phát lại được
quyền thỏa thuận để tống đạt các văn bản của Cơ quan thi hành án dân sự thành
phố, Cơ quan thi hành án dân sự quận, huyện; Tòa án nhân dân thành phố và các
Tòa án nhân dân quận, huyện trong và ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Thỏa thuận tống đạt giữa văn phòng thừa phát lại với cơ quan thi hành án hoặc Tòa
án được ký kết dưới hình thức một hợp đồng và một Cơ quan thi hành án dân sự
hoặc một Tòa án chỉ được ký hợp đồng với một văn phòng Thừa phát lại. Một văn
phòng Thừa phát lại có quyền ký hợp đồng tống đạt với nhiều Cơ quan thi hành án
dân sự hoặc nhiều Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh quy định tại Điều 21 của
Nghị định này.
Cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải lập danh mục các quyết định, giấy tờ
cần tống đạt bàn giao cho văn phòng Thừa phát lại, trong đó nêu rõ thời gian cần
thực hiện xong việc tống đạt. Danh mục các quyết định, giấy tờ cần tống đạt phải
lập thành 02 bản, khi bàn giao đại diện văn phòng Thừa phát lại, đại diện của Cơ
quan thi hành án dân sự hoặc Tòa án phải ký vào danh mục tài liệu, mỗi bên giữ 01
bản.
Việc tống đạt được coi là hoàn thành nếu đã được thực hiện theo thủ tục quy
định tại khoản 2, khoản 3 của Điều 23 NĐ 61. Thừa phát lại phải thông báo kết quả
tống đạt, kèm theo các tài liệu chứng minh việc tống đạt hoàn thành cho Cơ quan
thi hành án dân sự, Tòa án chậm nhất 02 ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong
việc tống đạt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Kết quả tống đạt phải được ghi vào sổ thụ lý quyết định, giấy tờ cần tống đạt.
Nếu việc tống đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, đúng thời hạn của mình;

Người tham gia khác (nếu có); Họ, tên, địa chỉ người yêu cầu lập vi bằng và nội
dung yêu cầu lập vi bằng; Nội dung cụ thể của sự kiện, hành vi được ghi nhận; Lời
cam đoan của Thừa phát lại về tính trung thực và khách quan trong việc lập vi
bằng; Chữ ký của Thừa phát lại lập vi bằng và đóng dấu văn phòng Thừa phát lại,
chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) và có thể có chữ ký của
những người có hành vi bị lập vi bằng. Kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, băng
hình và các tài liệu chứng minh khác.
1.2.3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự
Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi
hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân
sự tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi thực hiện, Thừa phát lại có quyền xác minh
ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản
hay có điều kiện thi hành án ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh(Điều 30 NĐ
61).
Thừa phát lại thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án theo yêu cầu của đương sự hoặc trực tiếp xác minh. Khi trực tiếp xác minh
điều kiện thi hành án của đương sự, Thừa phát lại phải lập biên bản. Nếu thấy cần
thiết, Thừa phát lại có quyền mời cơ quan chuyên môn hoặc chuyên gia để làm rõ
các nội dung cần xác minh. Các quy định khác về thủ tục xác minh điều kiện thi
hành án thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án.
Sau khi có kết quả xác minh của thừa phát lại thì người được thi hành án có
quyền dùng kết quả xác minh đó để yêu cầu thi hành án. Cơ quan thi hành án dân
sự, văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành án vụ việc căn cứ kết quả xác
minh để tổ chức thi hành án. Nếu có căn cứ xác định kết quả xác minh không
khách quan, chính xác thì Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng Thừa phát lại
khác có quyền không sử dụng kết quả đó nhưng phải trả lời bằng văn bản có nêu rõ
lý do.
Trong trường hợp thừa phát lại thực hiện việc xác minh theo yêu cầu thì trong
văn bản thỏa thuận giữa đương sự với thừa phát lại phải có cá nội dung chủ yếu
Nguyễn Xuân Hòa 340910

Các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án của thừa phát lại:
Điều 38 NĐ 61 quy định Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo
đảm thi hành án quy định tại khoản 3, Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự. khi áp
dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như
Chấp hành viên, thực hiện các thủ tục quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 68 và
Điều 69 của Luật Thi hành án dân sự.
Theo như điều 39 NĐ 61 thì biện pháp cưỡng chế được Thừa phát lại có quyền
áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 71 của Luật thi
hành án dân sự sau khi hết thời hạn tự nguyện đã được ấn định trong quyết định thi
hành án, trừ trường hợp đề nghị Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự thành phố
Hồ Chí Minh ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 40 của
Nghị định này. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Thừa phát lại có quyền, nghĩa vụ
như Chấp hành viên và thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân

Nguyễn Xuân Hòa 340910

Page 5


Luật Thi hành án dân sự

sự. Quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự có các nội dung chủ yếu sau: Tên, địa
chỉ văn phòng Thừa phát lại; họ, tên Thừa phát lại ra quyết định cưỡng chế thi
hành án; Căn cứ ra quyết định cưỡng chế; Đối tượng và biện pháp cưỡng chế thi
hành án áp dụng; Thời gian, địa điểm áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
Ngoài ra pháp luật cũng quy định trường hợp thừa phát lại áp dụng biện pháp
cưỡng chế trong trường hợp huy động lực lượng bảo vệ tại điều 40 NĐ 61.
Về chi phí cưỡng chế thi hành án và thanh toán tiền thi hành án
Người phải thi hành án, người được thi hành án chịu các chi phí cưỡng chế thi
hành án quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Thừa phát lại chịu chi phí

Nguyễn Xuân Hòa 340910

Page 6


Luật Thi hành án dân sự

Thứ ba, Bộ tư pháp đã kết hợp với Ủy ban nhân dân TP. HCM để đào tạo cho
những ai có nhu cầu và đủ điều kiện để bổ nhiệm Thừa phát lại.
Thứ tư, theo như quy định của pháp luật thì Thừa phát lại có quyền thực hiện
việc Lập vi bằng, như vậy người dân khi có nhu cầu thì có quyền yêu cầu Thừa
phát lại thực hiện việc lập vi bằng cho mình để sau này dùng nó làm căn cứ để đưa
ra trước tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình khi có tranh chấp xảy ra. Và việc thành
lập thêm mô hình Thừa phát lại đã đem lại thêm sự lựa chọn cho người dân trong
việc lựa chọn phương thức thi hành án thích hợp, hiệu quả nhất. Thông qua đó giúp
cho việc thi hành án được nhanh hơn, hiệu quả hơn bảo đảm quyền lợi ích các bên
đã đươc ghi nhận trong bản án.
2.1.2. Những hạn chế của mô hình thừa phát lại
Thứ nhất, về việc đào tạo con người để được bổ nhiệm vào vị trí thừa phát lại
còn hạn chế, mới hỉ dừng lại ở việc cung cấp cho các học viên các kiến thức mang
tính chất nền tảng về thừa phát lại, chưa cung cấp được những kiến thức thực tế.
Thứ hai, về giá trị của vi bằng do thừa phát lại lập thì hiện nay vẫn chưa có một
văn bản pháp lý nào quy định, giá trị của vi bằng chỉ được quy định một cách
chung chung tại Điều 28 NĐ 61/2009/NĐ – CP. Tuy nhiên nếu nhưng khi đưa vi
bằng ra làm chứng cứ khi xảy ra tranh chấp thì nếu như đương sự, người có quyền
và nghĩa vụ liên quan không đồng ý thì vi bằng cần được chứng minh lại. Điều này
đã làm giảm đi giá trị pháp lý của việc lập vi bằng.
Thứ ba, vấn đề bồi thường thiệt hại cho đương sự khi thừa phát lại gây thiệt hại
thì chưa được pháp NĐ 61/2009/NĐ – CP quy định, về nguyên tắc thì việc bồi
thường này sẽ áp dụng luật dân sự. Điều này là một thiếu sót vì nếu thừa phát lại

Tư pháp cần có biện pháp hiệu quả để đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo như
những nước tiên tiến trên thế giới như Cộng hòa Pháp. Về chi phí hoạt động của
thừa phát lại thì phải đảm bảo được mức sống của các thừa phát lại tại các địa
phương, các chi phí phải được tính một cách linh hoạt ví dụ như chi phí tống đạt,
chi phí lập vi bằng… mức phí cũng không thể quá cao vì hiện nay mức sống của
đại đa số người dân còn thấp vì thê nhà nước cần có những chính sách phù hợp với
thừa phát lại.
Thứ hai, trong lần sửa đổi BLTTDS vừa rồi các nhà làm luật đã vẫn chưa nâng
tầm giá trị của vi bằng do thừa phát lại lập, thiết nghĩ để nâng tầm giá trị pháp lý
của vi bằng thì phải quy định những tình tiết, sự kiện đươc ghi trong vi bằng là
những tình tiết không cần phải chứng minh. Theo đó, điểm c khoản 1 Điều 80
BLTTDS 2004 nên được sửa đổi thanh: “Những tình tiết, sự kiện đã được ghi
trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc vi bằng được lập
bởi thừa phát lại”
Thứ ba, luật nên đưa ra các quy định xác định hậu quả của việc không cũng cấp
thông tin của các cá nhân, tổ chức có thông tin trong trường hợp nhiệm vụ, quyền
hạn có thể cung cấp thông tin. Đông thời nên thành lập một hiệp hội cho thừa phát
lại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho thừa phát lại và đồng thời khi thừa phát lại
gây ra thiệt hại thì hiệp hội này sẽ đứng ra bồi thường sau đó thừa phát lại gây thiệt
hại sẽ phải hoàn trả lại phần bồi thường đó cho hiệp hội, nếu không thực hiện thì sẽ
bị xử lý theo quy định của hội.
Thứ tư, cần tuyên chuyền cho người dân biết rõ về lợi ích của thừa phát lại để
mọi người đều biết đến chế định mời này. Đồng thời các cơ quan chức năng cần
quản lý chặt chẽ các văn phòng thừa phát lại để tránh tình trạng hoạt động mang
tính chất xã hội đen. Bên cạnh việc quy định các cơ quan quản lý nhà nước về thừa
phát lại nhưng điều 8 NĐ 61/2009/NĐ – CP thì cần ban hành thêm cơ chế tự kiểm
tra, giám sát của hiệp hội thừa phát lại để giảm bớt gánh nặng cho cơ quan nhà
nước

Nguyễn Xuân Hòa 340910


Nguyễn Xuân Hòa 340910

Page 10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status