Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng chuyên phục vụ cho đối tượng khách hàng là cá
nhân. Các sản phẩm dịch vụ được cung cấp phổ biến bao gồm tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, cho
vay cá nhân, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… và rất nhiều dịch vụ khác. Một trong những sản phẩm
chiếm tỉ trọng cao trong hoạt động của ngân hàng bán lẻ, đó là cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng đã xuất hiện ở các nước phát triển từ những năm 70 của thế kỉ trước. Ở
Việt Nam, hoạt động này mới chỉ được các ngân hàng thương mại chú ý khoảng 20 năm trở lại
đây, và hiện nay, đây là mảng thị trường tiềm năng mà tất cả các ngân hàng đều hướng tới. Việt
Nam với dân số khoảng 85 triệu người và mức thu nhập của người dân ngày càng tăng hứa hẹn
sẽ là sân chơi bán lẻ rộng mở cho các ngân hàng thương mại nói riêng và tất cả các tổ chức tín
dụng nói chung.
Đối với Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank Vietnam), mở rộng cho vay tiêu
dùng là mục tiêu trước mắt và lâu dài của ngân hàng, nhằm mục tiêu phát triển hoạt động ngân
hàng bán lẻ cũng như giữ vững vị trí một trong những NHTM hàng đầu Việt Nam.
Chính vì vậy, đề tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần xuất nhậpkhẩu - chi nhánh Long Biên” đã được lựa chọn nhằm mục tiêu
nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động cho vay tiêu dùng ở chi nhánh Eximbank Long Biên, từ đó đưa
ra các kiến nghị và đề xuất để phát triển hoạt động này.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Chuyên đề tốt nghiệp hướng vào 3 mục tiêu sau:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Eximbank
Long Biên
- Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ở Eximbank Long Biên
3. Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ vào ba mục tiêu trên, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình tập trung
vào hoạt động cho vay tiêu dùng ở Eximbank Long Biên trong 3 năm 2008-2010
4. Phương pháp nghiên cứu
- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức, cá nhân
này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn
trả.
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bản chất của tín
dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên là người cho vay trên
cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trong
những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng
hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân,
doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
2. Các hình thức của tín dụng ngân hàng.
1. Căn cứ vào mục đích vay:
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động
sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động
cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,...
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
- Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật
dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông
qua phát hành thẻ tín dụng.
- Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho
thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc
gian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuận trong hợp đồng.
5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi
vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước
hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+
+
+
3.
Chiết khấu thương phiếu:
Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp.
Nghiệp vụ thanh tín (factoring):
Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Trong nền kinh tế thi trường, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng được thực hiện ở
các khía cạnh sau:
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế.Trong nguồn
vốn của doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm vốn tự có và vốn từ bên
ngoài như ngân hàng, doanh nghiệp khác... Song tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ có hiệu quả
hơn cả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn đồng thời chi phí sử dụng vốn tín
dụng ngân hàng thấp hơn các chi phí từ chủ thể khác.
Thứ hai:Tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và
người thiếu vốn vì tín dụng Ngân hàng thu hút tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của
các tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế đáp
ứng đầy đủ nhu cầu về vốn thúc đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế
phát triển bền vững. Trong quá trình hoạt động đó, Ngân hàng thu được lợi tức cho vay để duy
trì và phát triển hoạt động của chính bản thân ngân hàng. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường hiện
hàng là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình tạo tiền lưu thông qua hoạt động tín dụng
và thanh toán. Trong điều kiện cần mở rộng, thu hẹp khả năng cung ứng vốn sẽ tác động đến
việc cấp tín dụng của Ngân hàng. Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì NHNN
có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại.
Thứ sáu: Tín dụng ngân hàng thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh
tế vì qua việc cung ứng vốn sẽ góp phần mở rộng đầu tư bằng việc cấp vốn cho các doanh
nghiệp. Đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh tế trong hoạt động
kinh doanh.
Thứ bẩy: Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho bản thân các
ngân hàng. Trong quá trình sử dụng vốn ngân hàng thường tập trung vào hai loại hình chủ yếu là
sử dụng tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời. Song trên thực tế đại bộ phận vốn của các
NHTM được đầu tư vào tài sản sinh lời mà lớn nhất là qua kênh tín dụng. Chính hoạt động đầu
tư này tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định, bền vững của hệ thống các NHTM từ đó ảnh
hưởng đến nền kinh tế.
Thứ tám: Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực vào việc phát triển công ty cổ phần. Để
thành lập được công ty phải có một số vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp và ngân hàng có thể
là một cổ đông lớn. Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh các công ty cổ phần thường có
nhu cầu tăng thêm vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Việc tăng thêm vốn có thể thông qua
nhiều giải pháp trong đó việc huy động góp vốn bằng việc phát hành cổ phiếu mới là hình thức
phổ biến. Chính sự hoạt động của thị trường vốn, thị trường tiền tệ mà việc phát hành cổ phiếu,
chuyển nhượng và mua bán cổ phiếu mới quyết định một phần không nhỏ đến chất lượng cổ
phiếu. Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính có khả năng chi phối hoạt động của hệ
thống tài chính và thực hiện phần lớn hoạt động của các trung gian tài chính như: Việc tổ chức
thu thập và xử lý thông tin, tham gia các nghiệp vụ bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá (cổ phiếu,
trái phiếu...) làm tăng tính lưu thông cho chứng từ, từ đó tạo uy tín cho các công ty cổ phần đó.
Như vậy, Tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
bền vững. Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được hết vai trò của nó thì các nhà quản lý
- Nhu cầu CVTD của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế.
- Nhu cầu CVTD của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất.Thông thường, người đi vay
quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
- Mức thu nhập và trình đọ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay
tiêu dùng cả khách hàng.
- Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao.
- Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm
việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của ngững người này.
- Tư cách của khach hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn
trả của khoản vay.
4. Các hình thức CVTD của NHTM
1. Căn cứ vào mục đích vay
- CVTD cư trú: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo
nhà ở của khách hàng.
- CVTD phi cư chú: Là các khoản vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ,
đồ dùng gia đình, chi phí giáo dục, y tế, giải trí. v.v...
2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả.
Theo phương thức này ta có ba loại:
- CVTD trả góp: Là hình thức cho vay trong đó người đi vay phải trả cho ngân hàng tiền gốc
và lãi làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Các khoản vay loại này nhằm tài trợ
cho nhu cầu mua sắm vật dụng đắt tiền như ôtô, xe máy ... hoặc trang trải các khoản nợ của gia
đình, tồn tại dưới khoản vay ngắn hạnhoặc trung hạn vì giá trị thường không lớn.
Đối với CVTD loại này, các ngân hàng cần phải chú ý đến một số vấn đề như:
+ Loại tài sản được tài trợ.
Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu
bền và có giá trị lớn.Như vậy, với những loại tài sản như vậy,người tiêu dung sẽ hưởng được
những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
+ Số tiền phải trả trước.
Thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần
mua sắm, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền này một mặt làm cho người đi vay nghĩ
- CVTD tuần hoàn: Là khoản vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín
dụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.
3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ.
- CVTD gián tiếp: Là hình thức cho vay trong dó ngân hàng mua lại các khoản nợ phát sinh
do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng. CVTD gián tiếp
được thực hiện theo sơ đồ sau:
(1)
NGÂN HÀNG (4) CÔNG TY BÁN LẺ
(5)
(6)
(2) ( 3)
NGƯỜI TIÊU DÙNG
(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ.
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường,
người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị hàng hoá .
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng.
(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
Ưu điểm của CVTD gián tiếp:
+ Cho phép ngân hàng tăng doanh số CVTD.
+ Cho phép ngân hàng tiết giảm chi phí cho vay.
+ Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng
khác.
+ Nếu ngân hàng có mối quan hệ tốt với công ty bán lẻ thì CVTD gián tiếp an toàn hơn
CVTD trực tiếp.
Nhược điểm của CVTD gián tiếp:
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần giá trị tài sản cho công ty bán lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
Ưu điểm của CVTD trực tiếp:
- Ngân hàng có thể tận dụng được năng lực của nhân viên tín dụng. Họ là những người được
đào tạo chuyên môn và có kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Ngoài ra, họ có xu hướng chú
trọng đến việc tạo ra khoản vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của các công ty bán lẻ
thường chú trọng đến việc tăng doanh số bán hàng. Hơn nữa tại những điểm bán hàng quyết định
tín dụng được đưa ra có phần vội vàng,nhanh chóng trong khi những khoản tín dụng ngân hàng
cấp cho khách hàng đều qua một quá trình thẩm định chặt chẽ.
- CVTD trực tiếp linh hoạt hơn CVTD gián tiếp, bởi vì ngân hàng sẽ chủ động hơn trong
việc đưa ra những khoản tín dụng với quy mô và thời hạn phù hợp. Đồng thời việc tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu và lợi ích cho cả hai bên.
Các phương thức CVTD trực tiếp:
• Tín dụng trả theo định kỳ: Theo phương thức này, toàn bộ số tiền vay được ghi nợ
vào tài khoản cho vay và ghi có tài khoản tiền gửi cá nhân hoặc giao tiền mặt cho khách hàng.
Kỳ hạn trả nợ tuỳ theo thoả thuận, thường theo tháng. Lãi suất được tính trên số dư nợ còn lại
của khoản vay.
• Thấu chi: Là nghiệp vụ tín dụng cho phép khách hàng rút tiền mặt từ tài khoản
vãng lai của mình vượt quá số dư có tới một hạn mức đã thoả thuận trước.
• Thẻ tín dụng: Là nghiệp vụ tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định một giới hạn tín dụng
tối đa mà chủ thẻ được phép sử dụng.
Đối với phương thức này, chủ thẻ đã được ngân hàng bảo lãnh một số tiền nhất định, được coi là
một đảm bảo cho người bán hàng.
5. Lợi ích của cho vay tiêu dùng.
1. Đối với ngân hàng.
Kinh tế tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng, thất nghiệp giảm, sản xuất mở rộng, tiêu
dùng tăng dẫn đến tín dụng ngân hàng nói chung và CVTD nói riêng có cơ hội phát triển mạnh.
Đồng thời, trong nền kinh tế ổn định, không có khủng hoảng người dân sẽ thấy yên tâm về
công việc của mình và lạc quan về tương lai. Từ đó họ có xu hướng muốn thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của mình để đạt được mức sống như mong muốn và tìm đến ngân hàng như một nguồn tài
trợ hiệi quả. Vì họ tin tưởng vào thu nhập của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản
nợ để phục vụ mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và
bất ổn, cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng, nhất là khi họ thấy tình trạng thất
nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc mượn tiền từ ngân hàng. Lúc này dân cư có xu hướng tích
luỹ hơn là tiêu dùng.
2. Môi trường xã hội.
Có rất nhiều yếu tố thuộc môi trường xã hội ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân
hàng như: Thói quen, tập quán sinh hoạt, trình độ dân trí, tâm lý người dân, trật tự xã hội hay xu
hướng gia tăng dân số thành thị...
Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân địa phương là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp đến tiềm năng phát triển dịch vụ CVTD của ngân hàng. Ở một số nơi, người dân thường
có xu hướng lao động cật lực khi còn trẻ và sống tiết kiệm để đến khi nhiều tuổi cảm thấy có đủ
điều kiện họ mới hướng đến việc hưởng thụ thành quả lao động và cải thiện tiện nghi cuộc sống.
Do đó, việc vay mượn để mua sắm hay đi du lịch, giải trí... nhất là vay từ ngân hàng là điều họ
không muốn hay không quen làm.
Thói quen chi tiêu bằng tiền mặt, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển như Việt Nam
cũng hạn chế việc cho vay qua phát hành thẻ tín dụng. Tất nhiên, phần nhiều do trình độ phát
triển của nền kinh tế, nhưng một phần cũng do người dân không muốn thay đổi thói quen của
mình, ngoài ra còn do yếu tố tâm lý và trình độ dân trí. Những người có hoc vấn và thu nhập cao
thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình, mục đích là để đạt được
mức sống như mong muốn.
Ngoài ra ở một số nước xu hướng đô thị hoá, di dân từ nông thôn ra thành thị làm cho dân số
thành thị ngày càng gia tăng. Đây là một điều kiện tốt cho các ngân hàng mở rộng loại hình dịch
với ngân hàng.
Trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, có nhiều yếu tố thuộc về phía khách hàng ảnh hưởng đến chất
lượng của một khoản CVTD như: Đạo đức, năng lực pháp lý, khả năng tài chính, tài sản đảm
bảo.
Một khách hàng có đầy đủ các điều kiện về pháp lý, tài chính... nhưng không có thiện chí trả nợ
thì khoản vay khó có khả năng được hoàn trả. Đây là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng,
đòi hỏi cán bộ tín dụng phải hết sức chú ý khi thẩm định khách hàng, phải đảm bảo rằng khách
hàng vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ đầy đủ và đúng hạn khoản nợ.
Ngoài việc kiểm tra về năng lực pháp lý là yếu tố cơ bản để khách hàng có quyền tham gia tín
dụng, xác nhận thu nhập thường xuyên và sự ổn định trong thu nhập của khách hàng là việc rất
quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho khoản vay.
Ngoài những yếu tố trên, nhu cầu của khách hàng được coi là nhân tố hàng đầu tác động đến
hoạt động CVTD của ngân hàng. Ngân hàngphải luôn tìm hiểu nhu cầu hiện tại và tìm ra nhưng
nhu cầu tiềm ẩn trên thị trường. Từ đó có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, đưa ra những
loại hình dịch vụ CVTD phù hợp.
2. Nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng.
* Chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Để lĩnh vực tín dụng tiêu dùng là một trong những thế mạnh của ngân hàng thì các nhà quản trị
ngân hàng cần coi CVTD là chiến lược kinh doanh của mình và xây dựng một chính sách tín
dụng riêng cho mục đích này. Không những thế, chính sách tín dụng cần phải thông thoáng, linh
hoạt và hiệu quả để có thể tạo ra những khoản vay an toàn và thu hút khách hàng. Trên cơ sở xây
dựng một chiến lược cụ thể ngân hàng có thể phân bổ nguồn lực về vốn, nhân lực... một cách
phù hợp và đưa ra những mục tiêu hoạt động cả trong ngắn hạn và dài hạn. Còn nếu ngân hàng
không chú trọng đến mảng dịch vụ này và không có một chiến lược nào cả thì hoạt động CVTD
sẽ không có cơ hội phát triển.
* Tiềm lực về vốn và công nghệ.
Các khoản CVTD tuy có quy mô nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Do đó, muốn đẩy mạnh
CVTD, ngân hàng cần tập trung một tỷ lệ nguồn vốn đáng kể vào khoản mục tài sản này. Nếu
hiện tại...; Thông tin kinh tế tổng hợp trong nước - rất quan trọng vì môi trường kinh tế ảnh
hưởng đến hoạt động CVTD của ngân hàng và thông tin ngoài nước.
Đặc biệt thông tin về khách hàng là quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng khoản vay, giúp
ngân hàng tránh được rủi ro tín dụng và lựa chọn đối nghịch do thông tin không cân xứng.
Ngược lại, khách hàng cũng cần được cung cấp thông tin đầy đủ về chi phí và thời kỳ các khoản
vay, về chính sách ưu đãi của ngân hàng, thậm chí cá nhân và hộ gia đình có thể soát lại hồ sơ tín
dụng của mình và yêu cầu có sự điều tra và sửa chữa những thông tin sai lệch. Đó là những
quyền lợi chính đáng của khách hàng và điều đó giúp cho khách hàng yên tâm hơn khi đến với
dịch vụ của ngân hàng.
CHƯƠNG II :THỰC TRẠNG CHO VAY
TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM – CHI
NHÁNH LONG BIÊN
1. Tổng quan về ngân hàng TMCP xuất nhạp khẩu Việt Nam – chi nhánh Long Biên.
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt
Nam – chi nhánh Long Biên.
3. Giới thiệu về ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam (ngân hàng Eximbank)
Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội
Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export
Import Bank), là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày 06/04/1992, Thống Đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong
thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12,5 triệu USD với
tên mới là Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import
Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank. Đến nay vốn điều lệ của
Eximbank đạt 8.800 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong
những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Ngân
hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở
Chính đặt tại TP. Hồ Chí Minh và 124 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà
P/O, Cheque.
- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa và quốc tế, chấp nhận thanh toán thẻ quốc tế
Visa, MasterCard, JCB...thanh toán qua mạng bằng Thẻ.
- Thực hiện giao dịch ngân quỹ, chi lương, thu chi hộ, thu chi tại chỗ, thu đổi ngoại tệ, nhận
và chi trả kiều hối, chuyển tiền trong và ngoài nước.
- Các nghiệp vụ bảo lãnh trong và ngoài nước
- Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học.Tư vấn đầu tư-tài chính-tiền tệ
- Dịch vụ đa dạng về Địa ốc
- Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp Thomas Cook
Traveller' Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh…
3. Cơ cấu tổ chức.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đã được xác định ngay từ khi mới thành lập là phục vụ các
chương trình kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công cuộc đầu tư phục vụ sản xuất, chế biến hàng xuất
khẩu ở các tỉnh phía Bắc. Bộ máy tổ chức của Eximbank Long Biên phải tổ chức sao cho vừa
gọn nhẹ, nhưng lại vừa đảm bảo đạt hiệu quả cao phù hợp với quy mô và đặc điểm địa bàn hoạt
động của chi nhánh. Do đó cơ cấu tổ chức của Eximbank Long Biên gồm:
- Giám đốc.
- Phó giám đốc.
- Các phòng nghiệp vụ.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – chi nhánh Long
Biên
Giám đốc
Ph
ó giám đốc
Ph
òng hành chính ngân quỹ
Ph
đúng đắn của ban Giám đốc cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên
mà Eximbank Long Biên đã phấn đấu đạt được những kết quả đáng khích lệ.Cụ thể xét nguồn
vốn huy động của ngân hàng theo cơ cấu sau :
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh
Long Biên (Eximbank Long Biên)
(Đơn vị tính:Tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Tổng tài sản
Tổng nguồn vốn huy động
- Tiền gửi của dân cư
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
- Tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi có kỳ hạn
- VNĐ
- Ngoại tệ
Năm 2008
Năm 2009
Số tiền Tỷ trọng
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
(%)
837,04
100
1045,81
100
560,90
Năm 2010
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
1990,54
100
1199,31
60,25
539,69
659,62
45
55
241,98
957,33
20,18
79,82
695.,60
503,71
58
42
( Nguồn:Báo cáo tài chính tổng hợp của Eximbank Long Biên giai đoạn 2008-2010, phòng dịch vụ khách
hàng Eximbank Long Biên )
+ Tiền gửi có kỳ hạn: tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 957,33 tỷ đồng chiếm
79,82% trong tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 491.94tỷ đồng
(105,71%), tăng so với năm 2009 là 361,60 tỷ đồng (60,70%). Tỷ trọng tăng đều
qua các năm.
→ Tuy nhiên ta thấy rằng tỷ trọng tiền gửi VNĐ so với tổng nguồn vốn giảm nhẹ qua từng
năm tuy rằng tổng lương tiền gửi VNĐ vẫn tăng.Có thể giải thích điều này là do ngân
hàng bắt nhịp với thị trường,đa dạng hóa danh mục tiền gửi,nâng dần tỷ trọng tiền gửi là
ngoại tệ.Ngoài ra, việc tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tăng có thể do Eximbank là ngân hàng
xuất nhập khẩu nên gia tăng lượng vốn ngoại tệ là điều luôn được quan tâm.Eximbank đã
tập trung tín dụng vào các DN xuất khẩu để gia tăng nguồn thu ngoại tệ. Thêm vào đó
việc Eximbank thực hiện thành công các mối quan hệ chiến lược với tập đoàn ngân hàng
Sumitomo Mitsui và 2 quỹ đầu tư nước ngoài vào năm 2008 đã giúp Eximbank tăng
nguồn vốn ngoại tệ của mình.Đáng chú ý là tổng nguồn ngoại tệ của chi nhánh vào năm
2010 đã tăng hơn so với 2009 dù tình hình lãi suất, tỷ giá ngoại tệ vàng năm này có nhiều
biến động, đây có thể coi là một thành công của Eximbank Long Biên.
− Phân theo loại tiền:
+ VNĐ:tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 695,60 tỷ đồng chiếm 58 % trong
tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 307,85 tỷ đồng (79,39 %), tăng
so với năm 2009 là 242,63 tỷ đồng (53,57%). Tỷ trọng nguồn vồn huy động này
có xu hướng giảm nhẹ qua các năm .
+ Ngoại tệ:tính đến ngày 31/12/2010 tổng số tiền là 503,71tỷ đồng chiếm 42% trong
tổng nguồn vốn huy động,tăng so với năm 2008 là 330,57 tỷ đồng (190,92 %),
tăng so với năm 2009 là 205,83 tỷ đồng (69,10%). Tỷ trọng của TG ngoại tệ tăng
lên.
→ Điều này cho thấy, Nguồn vốn huy động từ tiền gửi KKH tăng là do số lượng các đơn vị,
cá nhân mở tài khoản thanh toán qua Chi nhánh tăng, đây là loại tiền gửi có chi phí huy
động vốn thấp nên việc tăng tiền gửi không kì hạn đã làm giảm chi phí đầu vào đáng kể
cho ngân hàng.Tuy nhiên vì tính không ổn định của nguồn vồn này nên tỷ trọng trong
tổng nguồn vốn của Chi nhánh còn thấp. Còn nguồn vốn huy động từ tiền gửi có kỳ hạn
tăng có thể do Eximbank đã đưa ra các mức lãi suất có kì hạn tăng cao,lãi suất hấp dẫn
Năm 2008
Năm 2009
Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng dư nợ cho vay
507,86
Doanh số cho vay
Doanh số thu nợ
Phân loại theo thời
hạn
- Ngắn hạn
- Trung và dài hạn
100
Số tiền
Năm 2010
Tỷ trọng (%)
Số tiền
849,95
100 1.304,91
22,55
190
22,35
260,98
20
Phân loại theo loại tiền
- VNĐ
382,02
75,22
655,68
77,14
1.046,67
80,21
- Ngoại tệ
125,84
hình hoạt động kinh doanh lúc bấy giờ. Cụ thể, ta nhìn lại năm 2008-2009 là năm kinh
doanh làm ăn vô cùng khó khăn của các doanh nghiệp.Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.Mà hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu của ngân
hàng. Điều này cho thấy công tác quản lý vốn của chi nhánh là rất tốt.
− Tổng dư nợ cho vay: Năm 2010 là 1.304,91 tỷ đồng, so với năm 2008 tăng lên là 797,06
tỷ đồng (156,95%) , so vói năm 2009 tăng lên là 454,96 tỷ đồn (53,53%). Ta xem xét
thêm kết cấu dư nợ của chi nhánh qua các hình thức sau :
+ Kết cấu dư nợ theo thời hạn:
Qua bảng 2.2 ta thấy dư nợ cho vay ngắn hạn và trung dài hạn. Cụ thể,dư nợ ngắn hạn
năm 2010 là 1.043,93 tỷ đồng, chiếm 80 % trong tổng dư nợ cho vay, và tăng so với năm 2008,
2009 lần lượt là 650,58 tỷ dồng (165,39%); 383,98 tỷ đồng (58,18 %).Tỷ trọng này có xu hướng
tăng nhẹ trong các năm.
Dư nợ trung dài hạn : Năm 2010 là 260,98 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng dư nợ cho vay.So với
năm 2008 tăng lên là 146,48 tỷ đồng (127,93%), so với năm 2009 tăng lên là 70,99 tỷ đồng
(37,36%).
Điều này cho thấy, trong năm ngân hàng đang thực hiện hỗ trợ lãi suất ngắn hạn tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí ,thêm vào đó thời gian này tình hình tài chính
trong nước cũng như trên thế giới đang bất ổn,rủi ro hệ thống cao vì vậy chính sách cho vay ngắn
hạn là biện pháp cần thiết .Từ đó làm cho dư nợ ngắn hạn tăng và dư nợ cũng tập trung chủ yếu
vào cho vay ngắn hạn .Bên cạnh đó ,dư nợ trung và dài hạn tăng là do trong những năm gần đây
Eximbank đặt trọng tâm hàng đầu là tăng hiệu quả tín dụng ,tập chung cho vay những khách
hàng uy tín thông qua cho vay trung và dài hạn.Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ cho vay dài hạn vẫn
giảm nhẹ trong vòng 3 năm.
+ Kết cấu dư nợ theo loại tiền:
Năm 2010 dư nợ tín dụng nội tệ là 1.046,67 tỷ đồng chiếm 80.21% trong tổng dư nợ cho
vay, tăng 664,65 tỷ đồng (173,98%) so với năm 2008, và tăng 390,99 tỷ đồng (59,63%) so với
năm 2009. Dư nợ tín dụng ngoại tệ là 258,21 tỷ đồng , tăng 132,41 tỷ đồng (105,22%) so với
năm 2008, và tăng 63,98 tỷ đồng (32,93%) so với năm 2009.Từ công tác huy động ở trên cho ta
40 đơn vị đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử VCB Money và 450 đơn vị,
3.000 lượt đăng ký truy vấn thông tin qua Internet i-b@nking, sử dụng dịch vụ sms-banking...
Hiện nay, Eximbank Long Biên đang tiếp tục nâng cấp và tăng cường năng lực của hệ
thống, trang bị thêm các máy rút tiền tự động ATM, mở rộng mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ.
Chi nhánh ngân hàng xuất nhập khẩu Long Biên hiện có 34 máy ATM, 86 đơn vị chấp nhận thẻ.
Với chính sách đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và từng bước đưa các sản
phẩm ngân hàng hiện đại vào tiếp cận cuộc sống. Ban giám đốc Chi nhánh đã tạo điều kiện cho
công tác khuếch trương các tiện ích dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
nhằm thu hút được đông đảo khách hàng Thủ đô và các tỉnh lân cận đến sử dụng các dịch vụ của
ngân hàng Eximbank. Công tác dịch vụ ngân hàng phát triển là một trong những yếu tố quan
trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Chi nhánh.
4. Kinh doanh ngoại tệ:
Doanh số mua bán ngoại tệ của Eximbank Long Biên năm 2010 đạt 49,19 triệu USD, tăng 3% so
với năm 2009. Lãi kinh doanh ngoại tệ năm 2010 đạt gần 1.3 tỷ đồng.Ngoại tệ mua được phần
lớn từ nguồn các Tổ chức kinh tế đáp ứng cho nhu cầu thanh toán nhập khẩu và trả nợ tại Chi
nhánh. Đồng thời, để tránh rủi ro về tỷ giá cũng như xác định rõ nguồn ngoại tệ đảm bảo thanh
toán cho khách hàng, Eximbank Long Biên đã sử dụng công cụ phái sinh là hợp đồng có kỳ hạn
đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa.
3. Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh.
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
(Đơn vị: Triệu
đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
25.298,87
29.052,81
11,79
14,84
+ Thu lãi tiền gửi, đầu tư
13.653,89
12.497,22
1.4020,26
2,68
12,19
+ Thu phí dịch vụ
14.56,36
2.329,64
4.628,65
217,82
3.4085,18
(6,14)
12,92
+ Chi trả lãi tiền gửi
27.175,46
20.610,11
2.2715,08
(16,41)
10,21
+ Chi phí dịch vụ
422,13
492,28
708,81
67,91
43,99
19.697,39
115,14
47,71
* Thuế TNDN
2.288,88
3.333,89
4.924,35
115,14
47,71
* Lợi nhuận sau thuế
6.866,63
10.001,66
14.773,04
115,14
47,71