KINH TẾ VĨ MÔ
Xuyên suốt tiến trình lịch sử, mọi xã hội đều phải đối mặt với một vấn đề kinh tế cơ
bản là việc quyết định phải sản xuất cái gì và cho ai trong một thế giới mà các nguồn tài
nguyên bị hạn chế. Trong thế kỷ 20, nhìn chung có hai cơ chế kinh tế đối chọi nhau đã
mang những kết quả rất khác nhau, đó là: nền kinh tế chỉ huy được định hướng từ chính
phủ trung ương và nền kinh tế thị trường được dựa trên doanh nghiệp tư nhân.
A. Nêu và phân tích các cách thức tổ chức một nền kinh tế?
Cách thức tổ chức một nền kinh tế là cách sắp đặt và điều tiết các nhân tố kinh tế,
tác nhân kinh tế, thể chế kinh tế, chính sách kinh tế,… để vấn đề sản xuất cái gì, như thế
nào và cho ai được định hướng theo một hình thức nhất định.
Dưới thời Công xã nguyên thủy, đã từng tồn tại nền kinh tế tập quán truyền thống,
hay bản năng. Trong xã hội này, các vấn để sản xuất được quyết định theo tập quán
truyền thông và truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau.
Hiện nay, một nền kinh tế có thể đi theo ba xu hướng hay nói cách khác là có ba cách
thức tổ chức chính sau:
• Kinh tế thị trường (Free economy): là
nền kinh tế mà trong đó các quyết định
của các cá nhân về tiêu dùng các mặt
hàng nào, các quyết định của các doanh
nghiệp về sản xuất cái gì (mặt hàng
đem lại lợi nhuận cao nhất), sản xuất
cho ai (các hộ gia đình)và sản xuất như
thế nào (bằng những kĩ thuật sản xuất
rẻ nhất) cùng với các quyết định của
người công nhân về việc làm cho ai đều
được thực hiện dưới sự tác động của giá
cả thị trường.
Nền kinh tế thị trường không mang lại các giải
pháp lý tưởng và chính phủ đóng vai trò quan
Sau đó, các hướng dẫn cụ thể sẽ được phổ biến tới các hộ gia đình và các doanh
nghiệp.
1
• Kinh tế hỗn hợp (Mixed economy): là nền kinh tế mà trong đó chính phủ vận hành
nền kinh tế theo tín hiệu thị trường. Trong nền kinh tế hỗn hợp, chính phủ có thể
hạn chế được những khiếm khuyết cũng như phát huy những ưu điểm của nền kinh
tế kế họach hóa tập trung và nền kinh tế thị trường, thông qua những tác nhân kích
thích về tài chính và tiền tệ. Bên cạnh đó, thể chế tư nhân kiểm soát thông qua bàn
tay vô hình của cơ chế kinh tế thị trường. Do những tính ưu việt đó mà hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp. Tùy theo mức độ chính
phủ can thiệp vào nền kinh tế mà một nền kinh tế có thể lệch về hướng thị trường
hay kế hoạch tập trung.
Có thể thấy hiện nay một số quốc gia trên thế giới đều tổ chức nền kinh tế theo những
xu hướng trên. Ví dụ:
- Kinh tế Bắc Triều Tiên vì tính cô lập của nó rất khó khăn để đánh giá một cách
toàn diện và chính xác. Có nhiều nhận định, đánh giá từ phương Tây cho rằng, nền kinh
tế Bắc Triều Tiên là một nền kinh tế yếu kém, tồi tệ và bị cô lập một số khác nhận định
rằng đây là một nền kinh tế lao đao vì lệnh trừng phạt và cấm vận của Liên Hợp Quốc
cũng như khó khăn do ảnh hưởng từ sự sụp đổ của Liên Xô cũ trong giữa những năm
1990. Bắc Triều Tiên áp dụng chính sách điều hành kinh tế bằng những mệnh lệnh từ
cấp cao, ít chịu ảnh hưởng của thị trường. Và thực tế, có những sai lầm về chính sách
cũng như yếu kém trong đánh giá, chỉ đạo, điều hành đã khiến Bắc Triều Tiên từng lâm
vào nạn đói tràn lan những năm 1990 và dẫn đến Bắc Triều Tiên, vốn từng có thời phát
triển hơn Hàn Quốc, nhưng với một số chính sách chưa sát thực tế đã phá hỏng nền
kinh tế tới mức theo phương Tây là không còn khả năng nuôi sống người dân của mình.
- Chính phủ Cuba tuân theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong tổ chức nền kinh
tế kế hoạch hóa to lớn do nhà nước kiểm soát của họ. Đa số các phương tiện sản xuất
thuộc sở hữu và sự điều hành của chính phủ và đa số lực lượng lao động làm việc cho
các doanh nghiệp và người tiêu dùng lựa chọn lĩnh vực hoạt động, định ra các phương án
kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao
Vai trò của thị trường đối với nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường có vai trò trung tâm. Nó vừa là mục tiêu của
nhà sản xuất kinh doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
hoá. Quá trình sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng thì
thị trường sản phẩm bao gồm 2 khâu phân phối và trao đổi. Đây là những khâu trung
gian vô cùng cần thiết là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là thị trường mà ở đó doanh nghiệp
giữ vai trò là người bạn. Nó là bộ phận trong tổng thể thị trường của ngành và nền kinh
tế.
Cụ thể vai trò của thị trường hàng hoá trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thể hiện ở các mặt sau:
-Thị trường là nơi tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp.
-Thị tường định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà sản xuất căn vào
mối quan hệ giữa người mua và người bán để giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản.
-Thị trường chính là thước đo để đánh giá, kiểm tra, chứng minh tính đúng đắn của
các chủ trương, chiến lược, kế hoạch và các biện pháp sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
-Thị trường gắn doanh nghiệp với tổng thể nền kinh tế và có khả năng hoà nhập vào
nền kinh tế thế giới.
3
Vai trò chung của thị trường:
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu
của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu...
Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường thì thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều
kiện, vừa là thước đo kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp
4
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá là sản xuất ra
hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác. Vì thế các doanh nghiệp không
thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải gắn với thị
trường. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng theo chu kỳ
mua nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản
phẩm, sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra.
Doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trường hay nói cách khác thị trường đã tác động
và có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Thị trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng
nhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao và ngược
lại. Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh
doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ bị phá sản. Trong nền kinh tế thị
trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thị trường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
- Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá :
Thị trường đóng vải trò hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Các nhà sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường để quyết định sản
xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinh doanh đều phải xuất phát
từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu đó chứ không phải xuất
phát từ ý kiến chủ quan của mình. Bởi vì ngày nay nền sản xuất đã phát triển đạt tới trình
độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung ứng ngày càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn
hơn trước. Do đó, khách hàng với nhu cầu có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ
yếu trong thị trường của doanh nghiệp, sẽ dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Thị trường tồn tại một cách khách quan nên từng doang nghiệp chỉ có thể tìm phương
hướng hoạt động thích ứng với thị trường. Mỗi doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết
nhu cầu của thị trường kết hợp với khả năng của mình để đề ra chiến lược, kế hoạch và
Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
- Chế độ đa sở hữu và đa thành phần kinh tế:
+ Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên nhiều hình thức sở
hữu nhưng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu đóng vai trò nền tảng của nền
kinh tế quốc dân.
+ Từ các hình thức sở hữu cơ bản hình thành nhiều thành phần kinh tế với các
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp. Trong đó, kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.
- Kết hợp nhiều hình thức phân phối, trong đó phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế là chính để nền kinh tế thị trường không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,
bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và thực hiện công bằng xã hội
+ Kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội
+ Kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội và nguyên
tắc của kinh tế thị trường
+ Nhà nước chủ động điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thực hiện chức năng
quản lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Bảo đảm tính định hướng, điều khiển hướng tới đích xã hội chủ nghĩa của nền
kinh tế theo phương châm: nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp.
+ Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà
nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp
quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy
6
mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của
nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Làm thế nào để phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
bên ngoài: thải khí, chất phóng xạ, …)
•
LUẬT CHỐNG ĐỘC QUYỀN:
Là một đạo luật, một chế định, một số điều luật hoặc một điều luật cụ thể nhằm cấm hoặc hạn chế
hành vi cạnh tranh bất hợp pháp với ý đồ xác lập tư cách độc quyền của các thành viên tham gia thị
trường.
Mục đích: khuyến khích và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.
7
Ở một số nước có LCĐQ, dù nội dung trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia có khác nhau,
song nhìn chung chúng đều đề cập đến ba vấn đề cơ bản:
1) Cấm cacten, cacten là những khế ước của các doanh nghiệp hay nghị quyết của một hiệp hội
doanh nghiệp nhằm thoả thuận những điều kiện thống nhất về sản xuất, kinh doanh và vì vậy, nó triệt
tiêu cạnh tranh giữa các thành viên trong cacten. Thông thường, có những cacten về giá cả, về lĩnh vực
hoặc mức độ sản xuất kinh doanh hay về phân chia thị trường tiêu thụ.
2) Kiểm tra, giám sát việc sáp nhập doanh nghiệp. Việc sáp nhập doanh nghiệp dẫn đến hai hậu
quả là giảm bớt số lượng các thành viên tham gia cạnh tranh và hình thành những doanh nghiệp lớn và
những doanh nghiệp này có thể lớn đến mức các doanh nghiệp khác không đủ sức cạnh tranh với họ.
3) Giám sát về sự lạm dụng của các doanh nghiệp có địa vị thống trị thị trường. Trong quá
trình phát triển có thể có doanh nghiệp trở nên lớn mạnh và có sức mạnh thống trị thị trường đối với
một hàng hoá nào đó. Nếu doanh nghiệp này lạm dụng vị thế của mình để thực hiện những hành vi hạn
chế cạnh tranh như đặt điều kiện đối xử giữa những người bạn hàng của mình, tẩy chay hoặc bao vây
kinh tế đối với các doanh nghiệp khác... thì những hành vi đó đều bị cấm.
Ở Việt Nam, hiện nay các nhà làm luật đang quan tâm và tính toán phải ban hành các
quy phạm pháp luật về chống độc quyền, đặc biệt là trong Bộ luật hình sự (chương các tội
phạm về kinh tế).
Ngoài ra, theo tờ trình của Chính phủ, sự cần thiết ban hành Luật Cạnh tranh nhằm tạo
công cụ pháp lý hạn chế cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng
8
tiêu chuẩn môi trường, phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi
trường.
Chính phủ quy định danh mục tiêu chuẩn môi trường, phân cấp ban hành và kiểm tra việc thực hiện
các tiêu chuẩn đó.
II. Chức năng công bằng:
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa được phân phối cho những ng có nhiều tiền
nhất chứ không phải theo nhu cầu lớn nhất. Như vậy, ngay cả khi một cơ chế thị trường
đang là hiệu quả thì nó cũng có thể dẫn tới sự bất bình đẳng lớn. Người ta có nhiều tiền
ko chỉ do lao động chăm, lao động giỏi mà còn có thể có nhiều yếu tố như hưởng tài sản
thừa kế, trúng xổ số,…
Do vậy, cần phải có chính sách phân phối lại thu nhập như sử dụng thuế lũy tiến- đánh
thuế người giàu theo tỷ lệ cao hơn người nghèo*, xây dựng hệ thống hỗ trợ thu nhập
nhằm giúp đỡ cho ng già, người tàn tật, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp y tế… Tức là biện
pháp thu thuế sẽ lấy đi một số hàng hóa và dịch vụ của một nhóm người, thu hẹp khả
năng mua sắm của họ và việc chi tiêu các khoản thuế sẽ tăng thêm việc tiêu dùng hàng
hóa và dich vụ của nhóm cư dân khác. Do đó biện pháp thu thuế và chi tiêu của Chính
phủ sẽ ảnh hưởng đến việc phân phối cho ai trong nền kinh tế.
•
CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP:
Phân phối lại thu nhập xã hội là sự can thiệp của Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật,
của các chính sách để vận động, thuyết phục những người có thu nhập cao đóng góp để cùng nhà nước
giúp đỡ cộng đồng và những người có thu nhập thấp. Đây là một trong những đặc trưng của nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay, phân phối lại thu nhập là
chính sách rất cần thiết và có ý nghĩa. Phân phối lại thu nhập có thể thực hiện bằng nhiều cách:
chi cho các đối tượng này.
Tóm lại, với xu hướng ngày càng giãn xa về khoảng cách thu nhập và mức độ giàu
nghèo hiện nay ở nước ta, nguy cơ về bất bình đẳng trong xã hội ngày một rõ nét. Từ đó
có thể phát sinh những vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của
đất nước. Do đó, một trong những giải pháp mà nhà nước cần quan tâm là nên có các
chính sách phân phối lại thu nhập sao cho hiệu quả, thiết thực để đảm bảo công bằng xã
hội.
Liên hệ đến VN:
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xă hội
chủ nghĩa. Việc phát triển kinh tế không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà
phải lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm cơ sở để phát triển toàn diện con người, giải quyết hài
ḥa những vấn đề kinh tế - xă hội, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc.
Nhà nước thực hiện kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xă hội ngay trong
từng chính sách phát triển. Nhà nước giải quyết mối quan hệ lợi ích của các tầng lớp xă
hội theo nguyên tắc hiệu suất kinh tế và tăng trưởng, kết hợp với trách nhiệm xă hội nhằm
đảm bảo công bằng và ổn định xă hội trên cơ sở phát triển kinh tế. Đại đa số nhân dân
được hưởng lợi từ thành tựu của kinh tế thị trường và phát triển, khuyến khích người dân
cống hiến và hưởng thụ tương xứng với thành quả sản xuất kinh doanh. Nhà nước tiến
hành đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối, điều tiết thu nhập và hoàn
chỉnh chính sách đảm bảo cung ứng các dịch vụ công cộng, thiết yếu, b́nh đẳng cho người
dân về giáo dục, y tế, văn hóa, việc làm... Mặt khác, phát triển kinh tế thị trường để giải
phóng các tiềm năng đất đai, tài nguyên nhưng phải khai thác và sử dụng chúng một cách
hợp lư, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.
Giải pháp của Chính phủ trong việc thực hiện chức năng công bằng đối với
nền kinh tế: Phát triển mạng lưới an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
xây dựng, bảo đảm thực thi có hiệu quả các chính sách xã hội đảm bảo cho các chủ thể thị
trường đạt được mục tiêu lợi nhuận cao, vừa tạo ra môi trường chính trị, xã hội ổn định
hài hòa, làm nền tảng cho phát triển bền vững kinh tế và từng bước thực hiện mục tiêu
Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố
kích thích hay kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế theo hướng nhất định.
Thông qua các loại công cụ có tính đòn bẩy này. Nhà nước có thể kiềm chế lạm phát,
khắc phục tính chu kỳ, tạo ra được tính ổn định và phát triển bình thường cho nền kinh tế
thị trường. Nhà nước can thiệp vào thị trường trong phạm vi, giới hạn cần thiết và tôn
trọng quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường khi sử dụng công cụ tài chính, tiền
tệ, tín dụng nhằm khống chế sự biến động bất thường của thị trường và ngăn ngừa những
rủi ro, thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân.
Liên hệ đến VN:
Trong việc sử dụng các công cụ tiền tệ, tín dụng để điều tiết nền kinh tế thị trường, Nhà nước
tập trung vào các khâu như ổn định tỷ giá hối đoái, xác định lăi suất trần; quản lư ngoại hối,
tăng sức mua của đồng tiền trong nước đồng thời đảm bảo chế độ tự do hóa thương mại, giá cả.
Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả cho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm
chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức mua đồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn vốn.
11
So sánh: Vai trò của Thị trường và Vai trò của Chính phủ trong việc thực
hiện các chức năng cơ bản của một nền Kinh tế.
Thị trường
Chuyển đổi nền kinh tế kém phát
triển → nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, định
hướng XHCN
Xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp → xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng
thất bại của thị trường gây ra, tạo lập
môi trường kinh doanh về kinh tế và
pháp lý.
Tóm lại, vai trò của nhà nước và thị trường đều rất quan trọng trong việc
làm cho một nền kinh tế thực hiện được các chức năng của nó. Nếu như nhà
nước có vai trò nhiều hơn về tác động tạo ra các thay đổi cần thiết thì thị
trường thiên về tạo môi trường cho những tác động ấy được diễn ra, thực
hiện và cho thấy kết quả.
12