Trong hệ lao động của nền kinh tế thị trường thì NLĐ luôn ở vị trí thế hơn
so với NSDLĐ. Chính sự bất bình đẳng và sự bóc lột sức lao động đến mức nào đó
sẽ khiến cho những NLĐ liên kết lại với nhau và cùng nhau đình công chống lại
NSDLĐ. Điều đó sẽ khiến cho quan hệ lao động có nguy cơ bị phá vỡ , sản xuất
kinh doanh bị đình trệ, ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như cơ hội kinh doanh của
doanh nghiệp. Trước tình trạng đó NLĐ và NSDLĐ đều nhận thấy cần phải có thỏa
thuận chung về những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Những thỏa thuận
chung đó chính là thảo ước lao động tập thể. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em đã
phân tích đề 11 với nội dung:
“ Nêu và phân tích các quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập
thể.”
NỘI DUNG
I. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể.
Khoản 1, Điều 44 BLLĐ đã định nghĩa:
“Thoả ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thoả ước tập thể) là văn bản thoả
thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và
sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.”
II. Quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập thể.
1. Phạm vi kí kết thỏa ước
• Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11-11-2002 của Chính
phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31/12/1994
của Chính phủ quy định:
“1. Đối tượng và phạm vi áp dụng thoả ước lao động tập thể là các doanh nghiệp,
tổ chức có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời, bao
gồm:
a) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật
Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
b) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội;
c) Hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã có sử dụng lao động theo hợp đồng
lao động;
của hai bên gồm:
“a) Bên tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc tổ chức công đoàn
lâm thời;
b) Bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được uỷ
quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy uỷ quyền của Giám đốc
doanh nghiệp.”
Số lượng đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các bên do hai bên thoả thuận
nhưng phải ngang nhau.”
Trong toàn bộ quá trình kí kết thỏa ước, giai đoạn thương lượng thỏa ước là
giai đoạn rất quan trọng. Những thỏa thuận, cam kết thỏa ước trong thỏa ước có
phù hợp với thực tế hay không, có lợi cho NLĐ hay không phụ thuộc vào giai đoạn
này nên pháp luật đã quy định phải có nhiều người tham gia và ngang nhau là hoàn
toàn hợp lý.
Tuy nhiên để việc đàm phán tiến hành thuận lợi và nhanh chóng thì pháp
luật đã quy định cụ thể các đại diện của NLĐ và NSDLĐ. Pháp luật quy định như
vậy bởi lẽ các chủ thể khi tham gia đàm phán cần hiểu biết pháp luật, hiểu biết các
hoạt động sản xuất kinh doanh và có thiện chí với nhau thì việc đám phán sẽ đạt
kết quả tốt. Những chủ thể này sẽ có trách nhiệm đàm phán để làm sao đạt được
những thỉa thuận có lợi cho phía mình đại diện đồng thời cũng phù hợp với lợi ích
của bên kia. Ngược lại thì chẳng những việc thương lượng không thành mà còn
dẫn đến bất đồng và tranh chấp trong quan hệ lao động.
b. Chủ thể kí kết thỏa ước
Theo khoản 2, Điều 44 BLLĐ quy định:
“ Đại diện ký kết của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn
cơ sở hoặc người có giấy uỷ quyền của Ban chấp hành công đoàn. Đại diện ký kết
của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy uỷ
quyền của Giám đốc doanh nghiệp.”
Việc kí kết thỏa ước là kết quả của quá trình thương lượng, nó mang ý nghĩa là
sự cam kết về những nội dung mà các bên đã thỏa thuận do vậy thủ tục này chỉ cần
1 người đại diện cho mỗi bên. Mà theo bên đại diện của NLĐ là Chủ tịch Ban chấp
và gây ra nhiều tranh chấp. Pháp luật quy định như trên để bảo vệ quyền lợi của
NLĐ khi sự thỏa thuận theo hướng bất lợi cho họ.
4. Quá trình thương lượng kí kết thỏa ước
Điều 3 Nghị định của Chính Phủ số 196-CP NGÀY 31-12-1994 quy định theo
Điều 45 và Khoản 1 Điều 46 của Bộ Luật Lao động được tiến hành theo thủ tục
sau:
“ 1. Bên đề xuất yêu cầu thương lượng để ký kết thoả ước tập thể phải thông báo
bằng văn bản các nội dung thương lượng cho bên kia.
Nội dung thương lượng của bên tập thể lao động do Ban Chấp hành Công đoàn cơ
sở hoặc tổ chức Công đoàn lâm thời đưa ra.
2. Bên nhận được yêu cầu phải chấp nhận việc thương lượng và chủ động gặp bên
đề xuất yêu cầu để thoả thuận về thời gian, địa điểm và số lượng đại diện tham gia
thương lượng.
3. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức để hai bên tiến hành thương
lượng.
Kết quả thương lượng là căn cứ để xây dựng thoả ước lao động tập thể của doanh
nghiệp, đơn vị.
4. Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức Công đoàn lâm thời tổ chức lấy ý kiến tập thể lao
động về nội dung của thoả ước lao động tập thể.
Nếu có trên 50% số lao động trong tập thể lao động tán thành thì hai bên tiến hành
ký kết thoả ước lao động tập thể."
5. Thoả ước lao động tập thể phải lập theo mẫu thống nhất.”