!
"#$%&'()$*+,))-./-
0$12)$)3)+45($$.$"$&
)$"6)78$3/+,))-&"*9:;,)/<)-=
>&?$@A9B : Nguyễn Mạnh Cường
C$&?/$D)$. : Hong Don Linh
EAF : 1205 QTNK
;>-GHIHJGK
LỜI MỞ ĐẦU
Giao tiếp là hoạt động quan trọng trong đời sống xã hội, là nền tảng quan
trọng để xây dựng nên xã hội. Nền vă minh nhân loại, nền văn hóa của mỗi dân tộc,
quốc gia được kiến tạo thông qua hoạt động giao tiếp. Hoạt động giao tiếp được thực
hiện nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, để bày tỏ mối quan hệ,
cách ứng xử, thái độ giữa con người với con người và giữa nhân loại với thiên nhiên.
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ và
phi ngôn ngữ. Nhưng dù được thực hiện bởi phương thức nào đi nữa, hoạt động giao
tiếp luôn luôn phải được đặt trong những bối cảnh nhất định, được thực hiện bởi
những cơ cấu nghi thức nhất định trong việc sử dụng các phương tiện giao tiếp
tương ứng nhằm đạt tới mục tiêu đặt ra.
Hoạt động quản lý nhà nước cũng không nằm ngoài những yêu cầu về giao
tiếp xã hội. Nhà nước là một thể chế tổ chức cơ cấu phức tạp với chức năng quản lý
đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên một lãnh thổ nhất định. Nhà nước
đảm bảo cho việc thực hiện các quyết định quản lý của mình đối với các công dân
của mình bởi nhiều biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước như tính thuyết phục,
kỉ luật, kinh tế, cưỡng chế, và tính quyền lực đó còn được thể hiện bằng phương tiện
mang tính hình thức đặc thù thuộc phạm trù các nghi lễ như cách bài trí công sở
(công đường), trang phục, các hoạt động lễ tân, các nghi thức,…. Những phương
quản lý nhà nước nói chung, do đó, nội dung của nghi thức nhà nước bao gồm:
- Những vấn đề liên quan đến cách thức thể hiện và sử dụng các biểu tượng quốc
gia (Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca) và thể thức văn bản quản lý nhà nước.
- Những vấn đề liên quan đến công tác lễ tân, hay tổ chức tiếp đãi khách (chào đón,
hội đàm, chiêu đãi, tặng quà, tiễn đưa), đặc biệt là đối với khách nước ngoài.
- Những vấn đề có liên quan đến kỹ năng giao tiếp (cử chỉ, lời ăn tiếng nói, trang
phục ) của cán bộ, công chức trong giải quyết những công việc nội bộ nhà nước,
cũng như trong hoạt động giao tiếp với các tổ chức và công dân.
- Những vấn đề có liên quan đến tổ chức hoạt động quản lý như hội họp, lễ kỷ niệm,
cấp chứng chỉ, chứng thực, phong tặng, khen thưởng v.v
- Những vấn đề có liên quan đến hình thức của công sở như kiến trúc, trang trí, bài
trí mặt trước toà nhà cũng như nội thất.
Nghi thức nhà nước được quy định, điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia và pháp
luật quốc tế:
Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2001 về nghi lễ nhà
nước và tiếp đón khách nước ngoài. Đây là văn bản thay thế nghị định sô 186-HĐBT
ngày 02 tháng 06 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng.
Thông báo số 31-TB của Chính phủ ngày 15 tháng 02 năm 1993 về việc treo
quốc kì, chào cờ và quốc ca.
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà
nước.
Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2006 quy định chế độ
họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước.
Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2004 về nghi thức Nhà
nước trong tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm; trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự nhà
nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ
tướng Chính phủ.
Sau đây em xin trình bày bài tiểu luận của mình về Tìm hiểu về lịch sử quốc
ca Việt Nam. Phân tích các quy định hiện hành về chào cờ, hát quốc ca và sử dụng
Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc
Thăng Long hành khúc ca trước đó: “Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành
cao đứng” và bài Đống Đa: “Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa”… Và
ông đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca.
Bài hát viết xong, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe. Vũ Quý rất hài lòng,
giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in
trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính
Văn Cao viết. Nguyễn Đình Thi khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật
sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh. Sau đó Nguyễn
Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả
hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.
Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến
quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 17 tháng 8 năm
1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca
đã được cất lên. Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng 8 năm 1945,
trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong đã hát bài Tiến
quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày
Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do
Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ
Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca,
cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ “Đoàn” và nốt mi ở giữa chữ
“xác” làm cho bản nhạc khoẻ khoắn hơn.
Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca làm quốc ca.
Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam, tại điều 3 ghi rõ: “Quốc ca là bài
Tiến quân ca”. Năm 1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giả
tham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca.
Văn Cao đã luyến tiếc vì một số chữ sửa đã làm mất khí thế hùng tráng của ca
khúc. Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm
1976, hai miền Nam Bắc thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và
* Ghi chú:
- Người điều khiển đọc lời mặc niệm trước khi hô khẩu hiệu tùy tính chất của buổi
lễ.
- Phút sinh hoạt truyền thống (có thể thay thế cho phút mặc niệm): thực hiện sau khi
hô khẩu hiệu.
- Chào cờ được tổ chức trong hội trường hoặc ngoài trời, cần chú ý việc rước cờ Tổ
quốc đến vị trí sân lễ: cờ cầm tay có cán, cờ kéo lên cột cờ, cờ đã treo sẵn.
- Tổ chức hướng dẫn lễ rước cờ, cầm cờ, kéo cờ (thống nhất và thực hành cụ thể).
2. Các hình thức nghi lễ trong chào cờ:
a. Nghi lễ chào cờ trong hội trường, sân khấu ngoài trời
- Nếu đã có sẵn cờ nước, cờ mang biểu trưng Hội: thực hiện nghi lễ chào cờ như
hướng dẫn ở trên (không thực hiện nghi lễ rước cờ).
- Nếu không có sẵn cờ nước, cờ mang biểu trưng Hội: thực hiện nghi lễ rước cờ
trước rồi thực hiện nghi lễ chào cờ như hướng dẫn ở trên.
b. Nghi lễ chào cờ trong đội hình chữ U
- Trước khi tiến hành nghi lễ chào cờ cần có sự phân công các thành viên trong chi
hội tham gia thực hiện các nội dung trong đội hình cờ.
- Chỉ huy sau khi triển khai đội hình xong, di chuyển ra giữa đội hình so cự ly, sau
đó bước xuống 2/3 đội hình, quay đằng sau hướng về phía cờ và điều khiển phần
nghi lễ chào cờ như hướng dẫn ở trên cùng với nghi lễ rước cờ hướng dẫn ở mục
sau.
c. Nghi lễ chào cờ trong đội hình hàng dọc hoặc nhiều đơn vị, chi hội
- Trước khi tiến hành nghi lễ chào cờ cần có sự phân công các thành viên trong chi
hội tham gia thực hiện các nội dung trong đội hình cờ (nếu có).
- Chỉ huy sau khi triển khai đội hình xong, di chuyển ra giữa đội hình, sau đó quay
đằng sau hướng về phía cờ và điều khiển phần nghi lễ chào cờ như hướng dẫn ở trên
cùng với nghi lễ rước cờ hướng dẫn ở mục sau.
3. Các tư thế của cờ:
- Tư thế nghiêm: người trong tư thế nghiêm, tay phải nắm cán cờ, khoảng ngang thắt
lưng, lòng bàn tay áp sát vào thắt lưng. Tay trái, chân, người trong tư thế nghiêm.
4. Các hình thức rước cờ:
a. Rước cờ (cờ khiêng): số lượng người khiêng cờ là 4 hoặc 6 hội viên tuỳ kích
thước cờ, số lượng hội viên và tính chất buổi lễ.
- Người điều khiển hô: Nghiêm, rước cờ.
- Đội cờ đi đều, song song nhau ra giữa đội hình, các thành viên trong đội cờ làm
động tác quay bên phải (trái) đối diện với đội hình chào cờ.
- Người điều khiển hô: Chào cờ, chào.
- Những thành viên hàng phía trước thực hiện động tác ngồi trên gót hoặc đứng, tuy
nhiên cờ phải được để trên vai của những người đứng trước. Những thành viên phía
sau bước lên 1 bước và thực hiện động tác đưa thẳng tay qua khỏi đầu, mặt được che
khuất bởi cờ.
- Sau đó, trình tự buổi lễ tiếp theo theo đúng hướng dẫn.
- Kết thúc buổi lễ, người điều khiển hô: Thôi, đội cờ di chuyển vào trong theo đúng
động tác cá nhân trong nghi thức.
* Lưu ý: Phải quy định đội cờ xếp đội hình sau khi chào cờ xong, như phía sau lùi 1
bước, phía trước đứng lên, quay bên phải (trái), các thành viên phía sau sang phải
(trái) 1 bước, cờ được đưa ngang vai đi đều vào trong
b. Rước cờ (có cán cờ):
- Người điều khiển hô: Nghiêm, rước cờ.
- Người cầm cờ di chuyển ra vị trí trong tư thế vác cờ, khi ra đến vị trí, người cầm cờ
chuyển qua tư thế giương cờ.
- Người điều khiển hô: Chào cờ, chào.
- Sau đó, trình tự buổi lễ tiếp theo đúng hướng dẫn.
- Kết thúc buổi lễ, người điều khiển hô: Thôi, người cầm cờ chuyển về tư thế vác cờ
và di chuyển ra ngoài đội hình.
* Lưu ý:
- Trường hợp chỉ có 1 cờ nước: thực hiện như hướng dẫn trên.
- Trường hợp có cờ nước và cờ mang biểu trưng Hội: cờ nước luôn đi trước, cờ
mang biểu trưng Hội đi sau.
- Khi vào đến giữa đội hình 2 cờ cùng thực hiện động tác quay bên Phải (trái), người
Theo bản phụ lục số II kèm theo sắc lệnh số 249-SL ngày 30
QUỐC CA
(nhạc và lời: Văn Cao)
Đoạn 1
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca
Đường vinh quang xây xác quân thù
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên! Cùng tiến lên!
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Đoạn 2
Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phấp phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới
Đứng đều lên gông xích ta đập tan
Từ bao lâu ta nuôt căm hờn
Quyết hy sinh, đời ta tươi thắm hơn
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên! Cùng tiến lên!
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Trong các buổi lễ chào và hạ quốc kỳ tất cả mọi người đều phải hát quốc ca
nghiêm trang, đúng lời, đúng nhạc. Theo trình tự từng lời bài hát từ lời 1 đến lời 2
III. QUỐC TẾ CA
Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành
Toàn nô lệ vùng đứng lên đi.
Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa
Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình.
Đấu tranh này là trận cuối cùng
Kết đoàn lại để ngày mai
L'Anh-te(rơ)-na-xi-o-na-lơ
Sẽ là xã hội tương lai.
Đấu tranh này là trận cuối cùng
Kết đoàn lại để ngày mai
L'Anh-te(rơ)-na-xi-o-na-lơ sẽ là xã hội tương lai.
PHẦN KẾT LUẬN
Qua bài tiểu luận môn nghi thức nhà nước đã cho em hiểu thêm
về nguồn gốc lịch sử ra đời và và các quy định hiện hành về chào
cờ , hát Quốc ca ,Quốc tế ca nước ta qua các thời kì từng giai đoạn
có nhiều thay đổi , cho thấy được sự trang nghiêm , “ văn hóa cuả
người việt ” của môt dân tộc Việt nam khi sử dụng một nghi thức
được coi là của Quốc Gia khi một tổ chức cá nhân tổ chức hát quốc
ca vào mỗi sáng thứ hai hằng tuần làm cho con gười Việt Nam gợi
nhớ đến truyền thống yêu nước của dân tộc thể hiện một tinh
thần đại đoàn kết của một một tầng lớp tri thức thế hệ trẻ có thể
hiểu rõ hơn về nguồn gốc ra đời của nghi thức chào cờ hát quốc
ca , quốc tế ca đặc biệt là các ban trẻ học sinh , sinh viên cần phải
biết giữ truyền thống yêu nước mà cá ông cha ta đã để lại vì thế
chúng ta hãy cùng nhau phát huy gìn giữ những cái tốt và lọai bỏ
tẩy chay những thói hư tật xấu của con người việt . từ đó chúng
em có thể vận dụng vào thực tiễn để làm bài tiểu luận được tốt ,
nhà nước, cần tuyên truyền vận động mọi người học tập là theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh . Lấy l tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng , định hướng cho các hoạt động ngiên cứu khoa học … tổ chức