TIỂU LUẬN:
Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn
tại công ty trách nhiệm hữu
hạn Sinh Thái Lời nói đầu
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, muốn phát triển được thì nguồn lực không
thể thiếu được đó là vốn để sản xuất kinh doanh. Vốn và hiệu quả sử dụng vốn là
vấn đề sống còn đối với nền kinh tế nói chung cũng như đối với từng doanh nghiệp
nói riêng, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ
chế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , vì vậy, mà vấn
đề sử dụng vốn một cách hợp lý và có hiệu quả càng trở nên cấp bách và quan
trọng.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê và
phương pháp điều tra trực tiếp để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm “tìm hiểu tình hình sử dụng vốn
tại công ty trách nhiệm hữu hạn Sinh Thái”. Từ đó đưa ra một số giải pháp cơ
bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Sinh Thái.
vốn vô hình ( uy tín, quyền kinh doanh ), căn cứ vào phương thức luân chuyển chia
ra: Vốn cố định và vốn lưu động.
Nhìn chung nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp gồm hai nguồn cơ bản:
nguồn vốn tự có và nguồn vốn đi vay. Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu của doanh
nghiệp hoặc các thành viên trong công ty liên doanh hoặc cổ đông trong công ty cổ
phần, nguồn vốn vay bao gồm: tín dụng ngân hàng, phát hành trái phiếu, tín dụng
thương mại.
Có nhiều cách phân loại vốn, song hiện tại DN thường căn cứ vào sự luân
chuyển vốn thì vốn được chia làm hai loại: vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động
(VLĐ).
*VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về tài sản cố định, mà đặc
điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
Theo quy định của nhà nước chỉ các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện: có
giá trị lớn hơn 5 triệu VNĐ và có thời gian sử dụng hơn một năm thì mới được coi
là vốn cố định.
*VLĐ là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành bình thường.
VLĐ bao gồm giá trị tài sản lưu động như: nguyên vật liệu chính, nửa thành
phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, bao bì, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở
dang và vốn lưu thông như thành phẩm, hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản
phẩm, vật tư mua ngoài chế biến, vốn tiền mặt.
*Cơ cấu vốn lưu động. Là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động
chiếm trong tổng số vốn lưu động. ở những DN khác nhau, kết cấu của vốn lưu
động hợp lý sẽ góp phần sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn lưu động.
Vốn kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, cụ thể:
Vốn kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh
của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp
2. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
2.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn:
Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được
xác định bởi công thức: Kết quả đầu ra
Hiệu quả sử dụng vốn =
Vốn sản xuất kinh doanh
Trong đó, kết quả đầu ra có thể tính bằng chỉ tiêu: Giá trị sản lượng, doanh thu
hay lợi nhuận, còn vốn kinh doanh được tính bằng các chỉ tiêu: Vốn cố định, vốn
lưu động, vốn chủ sở hữu, vốn vay
Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ cứ một đồng vốn kinh doanh tạo ra
bao nhiêu đồng hiệu quả. Bản chất về hiệu quả sử dụng của doanh nghiệp là biểu
hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn,
thời gian sử dụng vốn theo các điều kiện và nguồn lực xác định phù hợp với mục
đích kinh doanh. Hay nói một cách khái quát tiêu chuẩn hiệu quả là tối đa hoá kết
quả và tối thiểu hoá lượng vốn trên cơ sở nâng cao năng lực sản xuất của tài sản tiết
kiệm vốn.
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn sản
xuất kinh doanh:
2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Chỉ tiêu thể hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
Sức sản xuất tài sản cố định =
Giá trị TSCĐ sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng tài sản cố định tham gia vào sản xuất kinh doanh có
thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
Sức sinh lợi vốn cố định
(cuối kỳ)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tham gia vào hoạt động
sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
NG TSCĐ bình quân
Trong đó:
Nguyên giá TSCĐ
bình quân trong kỳ
=
Nguyên giá TSCĐ
đầu kỳ
+
Nguyên giá TSCĐ cuối
kỳ
2
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá TSCĐ tham gia vào hoạt động sản
xuất sẽ tạo bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn lưu động:
Tài sản lưu động là tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh, đảm bảo được vốn lưu động phù hợp với quy mô, yêu cầu của sản
xuất kinh doanh và sử dụng chúng một cách hiệu quả là mục tiêu của nhà quản lý
doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả vốn lưu động, chúng ta có thể sử dụng các chỉ
tiêu cơ bản sau:
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Thời gian của kỳ
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng.
Thời gian càng ngắn thì tốc độ luân chuyển càng nhanh tức là vốn lưu động sử dụng
triệt để hơn.
Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích còn có thể tính ra chỉ tiêu hệ số đảm nhận
của vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số
vốn tiết kiệm được càng nhiều. Qua chỉ tiêu này ta biết được để có được một đồng
luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động.
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhận vốn lưu động =
Tổng số doanh thu thuần Trong toàn bộ các công thức nêu trên, doanh thu thuần và vốn lưu động bình
quân trong kỳ được xác định như sau:
+ Tổng doanh thu thuần = tổng doanh thu bán hàng trong kỳ- (chi phí các
khoản thuế phải nộp + chiết khấu hàng bán + giảm giá hàng bán + doanh thu hàng
bị trả lại).
+ Thời gian của phân tích: Theo quy ước để đơn giản trong phân tích thì thời
gian tháng là 30 ngày, quý là 90 ngày và năm là 360 ngày.
+ Vốn lưu động bình quân:
Vốn đầu tháng + vốn cuối tháng
-Vốn lưu động bình quân tháng =
2
Tổng vốn lưu động 3 tháng
- Vốn lưu động bình quân quý =
3
doanh nghiệp.
- Về khách quan:
+ Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước.
+ Tác động của nền kinh tế có lạm phát.
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ
+ Sự biến động của thị trường “đầu ra” và “đầu vào” của doanh nghiệp.
+ Sự cạnh tranh trên thị trường.
+Các yếu tố rủi ro.
-Về chủ quan: có nhiều nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như:
+ Đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm: sản phẩm của doanh
nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Vị thế của
sản phẩm trên thị trường, tính cạnh tranh…ảnh hưởng đến sản lượng sản phẩm tiêu
thụ. Qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Sản phẩm mà doanh
nghiệp lựa chọn kinh doanh có đặc tính riêng của nó. Nếu chu kỳ sản xuất dài doanh
nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh làm
giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nếu chu kỳ sản xuất ngắn, thời gian luân
chuyển vốn nhanh, vòng quay vốn cao, hiệu quả sử dụng vốn tăng lên. Do vậy,
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ thị trường đồng thời không ngừng đổi mới
công nghệ sản xuất làm giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm.
+ Các yếu tố về vốn của doanh nghiệp:
Việc bố trí cơ cấu vốn đầu tư: nếu sự bố trí giữa vốn cố định và vốn lưu
động và tỷ trọng của từng khoản mục trong từng loại vốn chưa hợp lý, chưa phù
hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả sử dụng vốn kém là
không tránh khỏi.
Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn không chính xác thì
dẫn tới tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn, cả hai trường hợp đều ảnh hưởng không
tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử
dụng vốn.
.
2. Tình hình sử dụng vốn tại Công ty TNHH Sinh thái.
2.1 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung của công ty.
Phân tích tình hình sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có thể thông qua một số
chỉ tiêu sau:
Bảng 1: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng
Giám Đốc
Phòngkế toán
Phòng
tài v
ụ
Phòng
xu
ất khẩuPhòng
thị
tr
ư
1. DT thuần 70.848.00
0
86.973.0
00
16.125.0
00
22,76
2. VKD bình quân 52.021.42
3
61.587.8
35
9.566.41
2
18,39
3. LN thuần 1.208.360 1.292.68
0
84.320 6,98
4. Vòng quay toàn
bộ vốn
DT thuần
VKDbình
quân
1,362 1,412 0,05 3,67
5. Doanh lợi tổng
vốn
LN thuần
VKDbình
quân
0,023 0,021 - 0,002 - 8,7
(Nguồn: Số liệu trong sổ kế toán của Công ty)
doanh. Bởi vậy để đánh giá, xem xét một cách khá chính xác tình hình sử dụng
VCĐ của Công ty có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh như thế nào, ta sẽ căn cứ
vào kết quả tính toán của một số chỉ tiêu trong bảng dưới đây:
Bảng 2: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Đơn vị: 1000 đồng.
Năm
Chỉ tiêu
Công thức
Năm
2001
Năm
2002
2002 so với 2001
Số tiền Số tiền Số tiền %
1. DT thuần 70.848.00
0
86.973.00
0
(7.441.55
0)
(27,8
6)
6. Hiệu suất sử
dụng VCĐ
DT thuần
VCĐ bq
9,23 7,72 - 1,15
-
16,36
7. Hàm lượng VCĐ
VCĐ bq
DT thuần
0,108 0,13 0,022 20,37
8. Tỷ suất lợi
nhuận VCĐ
LN thuần
VCĐ bq
0,157 0,115 - 0,042
-
26,75
9. Hiệu suất sử dụng
TSCĐ
DT thuần
NGTSCĐ
bq
hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận.
Ta thấy tỷ suất lợi nhuận VCĐ của Công ty năm 2002 giảm so với năm 2001 là
0,042 đồng. Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia vào
hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra 0,115 đồng lợi nhuận thuần giảm
0,042 đồng so với năm 2001. Xét một cách tổng quát hiệu quả sử dụng vốn cố định
của Công ty có xu hướng giảm. Đây là dấu hiệu không tốt, Công ty cần khắc phục
trong thời gian tới.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định chưa hẳn là đã đầy đủ, chính xác vì
mỗi doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu vốn khác nhau. Hoạt động kinh doanh của
Công ty chủ yếu là vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn 80% trong tổng số vốn. Do
đó muốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì phải sử dụng hiệu quả vốn lưu động.
2.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Vốn lưu động là một trong hai bộ phận tài sản tạo nên vốn kinh doanh - đó là
những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh.
Trong bảng cân đối tài sản của công ty, tài sản lưu động luôn chiếm 80% gồm các
khoản tiền mặt, khoản phải thu và dự trữ. Điều đó chứng tỏ sử dụng hiệu quả vốn
lưu động ảnh hưởng rất lớn dến kết quả kinh doanh của công ty. Mặc dù hầu hết các
vụ phá sản trong kinh doanh là hậu quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do
quản lý vốn lưu động. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất lực của một số Công ty
trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động hầu
như là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại của họ.
Công ty TNHH Sinh Thái đã áp dụng hệ thống chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của Công ty:
+ Số vòng quay vốn lưu động.
+ Thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động.
+ Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động.
+ Mức doanh lợi vốn lưu động.
+ Sức sản xuất của vốn lưu động.
Trong 2 năm gần đây việc sử dụng vốn lưu động của Công ty đã đạt được
70.848.00
0
86.973.00
0
16.125.0
00
22,76
2. Vốn lưu động
44.347.11
0
50.316.64
9
5.969.53
9
13,46
3. Lợi nhuận thuần 1.208.360
1.292.680
84.320 6,98
4. Số vòng quay
VLĐ
DT thuần
VLĐ bq
1,598
1,729
0,131
VLĐ
DT thuần
VLĐ bq
1,598
1,729
0,131
8,2
Nguồn: Số liệu từ sổ kế toán của Công ty
* Đánh giá chung hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Hiệu quả chung về sử dụng vốn lưu đông dược phản ánh qua các chỉ tiêu:
+ Sức sản xuất của vốn lưu động:
Số liệu trong bảng 3 cho thấy sức sản xuất của vốn lưu động năm 2001 là
1.598 đồng có nghĩa là 1 đồng vốn lưu động sử dụng trong năm 2001 đem lại cho
Công ty 1.598 đồng doanh thu thuần, nhưng số liệu sức sản xuất năm 2002 cho thấy
Công ty đã đạt được 1,729 đồng doanh thu thuần trên 1 đồng vốn lưu động bỏ ra.
Như vậy doanh thu thuần trên 1 đồng vốn lưu động năm 2002 tăng 0,131 đồng so
với năm 2001. Điều này có nghĩa là sức sản xuất của vốn lưu động của Công ty có
xu hướng tăng dần hay năng suất làm việc của vốn lưu động tăng lên.
Nguyên nhân chủ yếu đem lại kết quả sức sản xuất của vốn lưu động tăng
lên là do các năm gần đây Công ty đã có chiến lược mở rộng địa bàn kinh doanh
của mình. Mặt khác các vần đề về dự trữ vật tư đã được xử lý đúng đắn làm giảm ứ
đọng vốn. Do vậy việc thầu các công trình ngày càng nhiều hơn, tốc độ thi công cao
hơn mà lại không ứ đọng vốn dẫn đến sức sản xuất của vốn lưu động tăng.
+ Mức doanh lợi vốn lưu động:
Mức doanh lợi vốn lưu động trong bảng 3 cho biết: trong năm 2001, một đồng
vốn lưu động đem lại cho Công ty 0,027 đồng lợi nhuận, con số này giảm 0,001
Thái đã dần dần giảm được thời gian một vòng luân chuyển xuống thấp để nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Cụ thể là năm 2001 một vòng luân chuyển cần
225,28 ngày, đến năm 2002 một vòng luân chuyển vốn lưu động rút xuống chỉ còn
208,21 ngày. Điều này chứng tỏ vốn lưu động của Công ty ngày càng được sử dụng
có hiệu quả hơn, triệt để hơn.
+ Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Ngoài hai chỉ tiêu vòng quay và thời gian một vòng luân chuyển vốn lưu động,
để đánh giá mức tiết kiệm tài sản lưu động người ta còn dùng chỉ tiêu hệ số đảm
nhiệm vốn lưu động.
Năm 2002 để tạo ra một đồng doanh thu thuần Công ty phải sử dụng 0,58
đồng vốn lưu động trong khi năm 2001 cần sử dụng 0,63 đồng mới thu được một
đồng doanh thu thuần. Như vậy lượng vốn lưu động để tạo ra một đồng doanh thu
mỗi năm đều giảm giúp Công ty tiết kiệm một lượng đáng kể vốn lưu động đem lại
sử dụng tạo ra hiệu quả sử dụng vốn ngày càng cao.
Tóm lại việc tăng hiệu quả trong quản lý và sử dụng vốn lưu động trong các
năm gần đây là xu hướng cần giữ vững và phát huy của Công ty. Nếu thực hiện
được điều này sẽ giúp cho Công ty dễ dàng huy động đủ vốn để nâng cấp, đổi mới
tài sản cố định nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Điều này đồng thời
cũng góp phần thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng cao hơn và hiệu quả
sử dụng vốn nói chung tăng lên kéo theo kết quả kinh doanh ngày càng tốt đẹp hơn.
2.4 Đánh giá tổng thể về vấn đề sử dụng vốn tại công ty TNHH Sinh Thái.
Qua việc phân tích, đánh giá, xem xét hiệu quả hoạt động và sử dụng vốn của
Công ty TNHH Sinh Thái ta thấy rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và
sử dụng vốn của Công ty năm sau cao hơn năm trước. Tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty năm 2002 tăng so với năm 2001 cụ thể là doanh thu thuần
tăng 16.125.000 nghìn đồng, lợi nhuận thần tăng 84.320 nghìn đồng. Trong khi đó
vốn cố định bình quân năm 2002 so với năm 2001 cũng tăng 3.596.873 nghìn đồng
tương đương với tỷ lệ tăng là 6,98%. Doanh thu thuần trên 1 đồng vốn lưu động
+ Mặc dù kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay, song Công ty không để tình trạng
nợ nần các đơn vị khác dây dưa kéo dài và không có các khoản nợ quá hạn. Điều đó
giúp cho Công ty tránh được những rủi ro và chi phí không cần thiết mà vẫn đảm
bảo hoạt động sản xuất kinh doanh một cách nhịp nhàng và liên tục.
+ Công ty đã ký được rất nhiều hợp đồng vừa đảm bảo công ăn việc làm cho
công nhân viên, làm tăng hiệu quả sử dụng vốn vừa tạo uy tín của Công ty trên thị
trường.
+ Trong quá trình kinh doanh Công ty đã năng động trong việc sử dụng đồng
vốn chiếm dụng được hình thành trong quá trình kinh doanh, coi đó như một nguồn
tài chính ngắn hạn để sử dụng triệt để trong việc thanh toán phát sinh trong quá
trình hoạt động trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thanh toán.
2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân.
*Hạn chế.
Nhìn nhận một cách khách quan qua các chỉ tiêu tổng hợp cũng như cụ thể khi
xem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong 2 năm vừa qua, Công ty đã bộc lộ
những hạn chế sau:
+ Chưa tận dụng triệt để huy động nguồn vốn từ bên trong (vốn chủ sở hữu
thấp chiếm 27,41% trong tổng số vốn).
+ Công ty đã để một lượng vốn dự trữ khá lớn làm cho vốn lưu động luân
chuyển chậm, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Trình độ cán bộ quản lý chưa cao nên có nhiều sơ suất trong công tác quản
lý và sử dụng vốn gây ra tình trạng lãng phí làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh
cũng như giảm hiệu quả sử dụng vốn.
* Nguyên nhân:
+ Do hoạt động kinh doanh của Công ty chủ yếu bằng vốn vay nên phụ thuộc
rất lớn vào thị trường tài chính. Sự biến động bất lợi của thi trường tài chính tiền tệ
Việt Nam trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 cũng ảnh hưởng lớn đến
Công ty
+ Ngoài ra Công ty còn gặp khó khăn trong việc cạnh tranh trên thị trường vì
- Xác định chính xác mức khấu hao, phân phối và sử dụng quỹ khấu hao hợp
lý:
Công ty cần phải căn cứ vào kế hoạch đầu tư cơ bản, những dự kiến về sự
biến động TSCĐ trên cơ sở phân tích tình hình thực hiện khấu hao kì trước đã ảnh
hưởng đến công tác khấu hao kì này để có kế hoạch trích lập khấu hao phù hợp.
Tăng cường công tác bảo quản và sử dụng TSCĐ:
Bảo quản tốt số lượng, tăng cường sửa chữa, bảo dưỡng nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động của TSCĐ. Trước khi tiến hành sửa chữa cần phải cân nhắc xem
xét hiệu quả của chúng để có quyết định đúng đắn. Đồng thời tiến hành phân loại
TSCĐ, tài sản nào đang cần dùng cần phát huy tác dụng thì đẩy mạnh khai thác, sử
dụng còn những tài sản nào không dùng hoặc không mang lại hiệu quả thì tiến hành
thải loại, thanh lý hay nhượng bán để bổ sung vốn cho Công ty.
Quy trách nhiệm vật chất đối với người bảo quản và sử dụng TSCĐ để tránh
tình trạng TSCĐ mất mát, hư hỏng trước thời hạn.
2- Giải pháp về sử dụng vốn lưu động:
Nói đến việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả ta thường nghĩ là tăng
nhanh vòng quay của vốn lưu động và khả năng sinh lời của vốn lưu động phải
cao. Muốn đạt được kết quả này thì đòi hỏi phải thực hiện tốt công tác quản lý
vốn lưu động: thể hiện cụ thể qua việc quản lý các khoản dự trữ, tiền mặt và các
khoản phải thu. Việc quản lý dự trữ và tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến nhau.
Mức dự trữ vật tư hợp lý sẽ quyết định mức cân đối tiền mặt hợp lý.
Như đã phân tích ở chương 2, một trong những vấn đề “nổi cộm” trong quản
lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty là quản lý vốn trong thanh toán, đặc biệt là
các khoản phải thu. So với tổng vốn lưu động các khoản phải thu chiếm tỷ trọng khá
cao và có xu hướng ngày càng gia tăng. Nếu không có biện pháp quản lý tốt thì đây
là một bộ phận vốn chứa nhiều rủi ro đe dọa an toàn tài chính của doanh nghiệp.
Hơn nữa một bộ phận vốn lớn ứ đọng trong khâu lưu thông không trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất là điều bất hợp lý. Thực tế cho thấy để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động nói riêng và vốn kinh doanh nói chung, vấn đề cần giải quyết kịp