MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
NỘI DUNG
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 VĂN HOÁ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ THEO
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1
Văn hoá và phạm trù văn hoá
1.2
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn
hoá và văn hoá xã hội chủ nghĩa
1.2.1
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá
1.2.2
Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá xã
hội chủ nghĩa
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN XÂY DỰNG MỘT
NỀN VĂN HOÁ MỚI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH
2.1
Quan niệm của Hồ Chí Minh về khái niệm văn
hoá
2.2
Hồ Chí Minh với việc xác định nền tảng cơ bản
của nền văn hoá mới
2.2.1
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính dân tộc trong
nền văn hóa mới ở Việt Nam
2.2.2
7
7
10
10
11
20
20
23
23
27
32
35
42
42
49
58
66
74
77
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách mạng Tháng Tám 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử của
dân tộc Việt Nam. Nó đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp
với hơn 80 năm thống trị và phát xít Nhật hiếu chiến, đồng thời lật nhào chế
độ phong kiến tồn tại gần 1000 năm. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng
văn hoá mới Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa” làm đề tài nghiên
cứu. Qua đó một số vấn đề lớn gắn với đề tài như: cơ sở hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hoá, công lao to lớn của Hồ Chí Minh trong việc chuẩn
bị những tiền đề tư tưởng và thực tiễn cho sự ra đời nền văn hoá mới Việt
Nam, những chỉ đạo trực tiếp của Người trong việc xây dựng nền văn hoá mới
Việt Nam về cơ bản được giải quyết tương đối thoả đáng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng nền văn hoá mới Việt
Nam đã nhận được nhiều sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Cho đến
nay, những công trình nghiên cứu tương đối hệ thống về Hồ Chí Minh và tư
tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam mà chúng tôi
được biết đó là: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá” của Ban Tư tưởng – Văn
hoá Trung ương (2003); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển
nền văn hoá mới ở Việt Nam” của Đỗ Huy (2000), Nxb KHXH “Hồ Chí Minh
nhà văn hoá kiệt xuất” của Song Thành (1999), Nxb CTQG; “Văn hoá và triết
lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình
Phong (2008), Nxb CTQG; “Hồ Chí Minh và văn hoá Việt Nam” của Trường
Lưu (1990), Viện Văn hoá xuất bản; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hoá
Việt Nam” của Lê Xuân Vũ (1989), Nxb CTQG. Đặc biệt là công trình “Hồ
Chí Minh với nền văn hoá mới Việt Nam trước 1954” của Bùi Đình Phong
(1994), Nxb Lao Động. Nhìn chung có thể khái quát thành ba mảng nghiên
cứu chính:
2
Mảng thứ nhất: nghiên cứu về bản thân con người Hồ Chí Minh, qua
đó rút ra những tư tưởng về văn hoá, theo quan niệm rằng bản thân Hồ Chí
Minh là một tấm gương tiêu biểu về văn hoá, kết tinh trong cuộc đời và sự
nghiệp của Người.
Mảng thứ hai: lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu,
- Tìm hiểu khái niệm văn hoá, quan điểm của của chủ nghĩa Mác –
Lênin về văn hoá nói chung và văn hoá xã hội chủ nghĩa nói riêng.
- Trên cơ sở quan điểm của của học thuyết Mác – Lênin về văn hoá
trong chế độ xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn của xã hội
Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 mà Hồ Chí Minh đã đưa ra những
định hướng cơ bản cho nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Những thành quả ban đầu cho chúng ta khẳng định những giải pháp
của Hồ Chí Minh cho nền văn hoá Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và đó
cũng là những định hướng cơ bản cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn này, tác giả của đề tài sử dụng kết hợp phương
pháp lịch sử với phương pháp lôgíc nhằm khai thác triệt để tư liệu hiện có về
hoạt động của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới Việt
Nam, rút ra hệ thống quan điểm có tính lý luận và ý nghĩa thực tiễn đối với
việc xây dựng nền văn hoá mới.
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin và chủ yếu dựa
vào các tác phẩm của Hồ Chí Minh trong bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập
(2000), Nxb CTQG. Đồng thời đề tài dựa vào đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước ta để phân tích những vấn đề được nêu ra về xây
dựng nền văn hoá mới
6. Giới hạn phạm vi của Luận văn
- Luận văn nghiên cứu về vai trò của Hồ Chí Minh trong công tác xây
dựng nền văn hoá Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Tìm hiểu
những tư tưởng của Người trong việc xác định những mục tiêu, nhiệm vụ
4
cũng như vai trò của công tác văn hoá trong giai đoạn mới. Từ những thành
tựu trên mặt trận văn hoá trong kháng chiến chống Pháp và giai đoạn đầu của
1.1. Văn hoá và phạm trù văn hoá
Văn hoá là đề tài rộng lớn nên từ xa xưa, từ các bậc hiền triết đến
những người bình thường đã bàn luận khá nhiều về nó và đưa ra những định
nghĩa khác nhau về văn hoá.
Loài người từ khi hình thành mang nhiều tư chất khác hẳn các loài động
vật, trong đó nổi lên ba tư chất chính: trí tuệ, ngôn ngữ và lao động. Trong quá
trình thích ứng và chinh phục tự nhiên để tồn tại và phát triển, con người đã sử
dụng ba tư chất đó để tạo nên hàng loạt công cụ sản xuất, thức ăn, vật dụng
thường ngày: quần áo, nhà ở,… cũng như tạo nên hàng loạt các nguyên tắc
ứng xử, quan hệ với nhau,… để tạo nên xã hội loài người , cái “thiên nhiên”
thứ hai của họ. Và dần dần, trong cái thiên nhiên thứ hai đó, do nhu cầu phát
triển không ngừng của sản xuất, trao đổi, không ngừng nâng cao cuộc sống,
phát huy những tài sản quý giá vốn có của mình, duy trì xã hội ngày càng ổn
định, con người đã tạo nên những chuẩn mực đạo đức, những tục lệ, những
truyền thống, những phương thức để giữ gìn và nâng cao kiến thức thu nhận
được thông qua lao động sản xuất, phát minh, sáng chế, thích nghi, cải tạo tự
nhiên để phục vụ bản thân mình, cũng như các hình thức quan hệ giữa các
cộng đồng, giữa các lớp người khác nhau. Tất cả những gì do con người tạo ra
như vậy, ít hay nhiều đều có tác dụng (tích cực hoặc tiêu cực) đối với cuộc
sống của họ - ngoại trừ những hành vi vô thức,… nghĩa là ít hay nhiều đều có
những giá trị nhất định, hoặc vật chất, hoặc tinh thần.
Như vậy, văn hoá chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử.
Văn hoá là vấn đề rất lớn, nó bao gồm cả văn học nghệ thuật, khoa học,
triết học, phong tục, tôn giáo,… Thậm chí khi xã hội phát triển thì nó còn xuất
6
hiện thêm một số thuật ngữ: văn hoá gia đình, văn hoá ngôn ngữ, văn hoá giao
tiếp, văn hoá dịch vụ, văn hoá quản lý,… Những khái niệm gắn liền “văn hoá”
sau thời kỳ Trung cổ, họ đã tự nhận thức được năng lực, vai trò và vị trí của
mình trong thế giới. Con người chứ không phải là một đấng sáng thế nào
mang vầng hào quang sáng tạo. “Con người chính là chủ thể của văn hoá, là
một sinh thể hữu hạn (về mặt thể xác) nhưng có thể vượt qua tính hữu hạn đó
bằng hoạt động nhận thức và sự sáng tạo của chính mình”
Ngoài ý nghĩa là “phát hiện ra con người” thì đến giai đoạn sau, yếu tố
được nhận thức là yếu tố quyết định của văn hoá đó là khoa học. Sản phẩm
của trí tuệ đã được sử dụng hiển nhiên trong việc hợp lý hoá sản xuất, tăng
sức mạnh của con người trong việc khai thác tài nguyên, nắm bắt và chinh
phục tự nhiên. Và khi đó, khái niệm văn hoá còn gắn liền với khái niệm phát
triển. Văn hoá là những thành tựu vật chất và tinh thần do con người tạo nên.
Những thành tựu đó luôn luôn thay đổi theo chiều hướng tích cực, đa dạng
hơn, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, con
người lại sáng tạo nên những thành tựu mới đáp ứng những nhu cầu to lớn của
xã hội, của con người. Khi đó con người muốn trở thành chủ thể của cái mới,
của những sáng tạo mới thì cần phải trải qua một quá trình giáo dục, được đón
nhận và tiếp thu những tri thức cơ bản, được đào tạo và phải tham gia vào quá
trình văn hoá xã hội của cộng đồng. Thực chất của văn hoá là bồi dưỡng, phát
triển, hoàn thiện những khả năng bẩm sinh trở thành những năng lực sáng tạo
thực của con người, phát triển con người chính là để phát triển văn hoá.
Như vậy, ta có thể thấy khái niệm văn hoá có nội hàm sâu rộng với
những ý nghĩa tích hợp toàn bộ hoạt động của con người với tư cách là chủ
thể hoạt động trong mọi lĩnh vực của thực tiễn xã hội. Hạt nhân trung tâm của
khái niệm văn hoá là hoạt động sáng tạo, hoạt động hướng đích khẳng định
nhân tính của con người với tư cách là chủ thể có ý thức, có trí tuệ, và nó được
thể hiện trong cả ba quan hệ tương tác cơ bản: văn hoá và tự nhiên; văn hoá và
xã hội; văn hoá và con người. Với cách hiểu về văn hoá như trên thì mới thấy
được vai trò, ý nghĩa to lớn của văn hoá cho sự phát triển.
8
chức năng đó là: chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, chức năng thẩm
mỹ, chức năng dự báo. Trong đó, chức năng bao trùm và quan trọng nhất của
văn hoá là chức năng giáo dục. Bởi thông qua chức năng này, văn hoá sẽ định
hướng cho con người hành động phù hợp với lý tưởng, đạo đức và chuẩn mực
của xã hội. Nhờ đó, văn hoá thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội.
Sức mạnh và hiệu quả của văn hoá sẽ được thể hiện ở chỗ nó có thể tác động,
huy động được tất cả năng lực, tinh thần của con người hay không.
Trong tự nhiên có muôn vàn cái đẹp, con vật cũng biết tạo nên vẻ đẹp.
Nhưng con vật chỉ tạo ra vẻ đẹp bằng bản năng, nó được di truyền bằng con
đường sinh học. Con vật cũng chỉ tạo ra những sản phẩm theo kích thước và
nhu cầu của bản thân nó, còn con người thì có thể tạo ra những sản phẩm theo
kích thước của bất kỳ giống loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố
hữu của mình vào đối tượng, đó là khả năng thẩm mỹ của con người và nó
được di truyền bằng con đường xã hội. Chỉ có con người mới chủ động tác
động vào tự nhiên và biến nó thành cái đẹp theo theo nhu cầu thẩm mỹ của
mình. Chính vì vậy, văn hoá là cái để phân biệt con người với con vật. Chính
cái đẹp, cái hay của văn hoá đã làm con người đẩy lùi bản năng để ngày càng
trở nên “Người” hơn. Do vậy, “mắt chim đại bàng nhìn thấy xa hơn mắt người
rất nhiều nhưng mắt người nhận thấy trong sự vật được nhiều hơn mắt chim
đại bàng rất nhiều”
Đối với Mác – Ăngghen, văn hoá mà loài người sẽ vươn tới là một nền
văn hoá đầy tính nhân văn, xã hội mà loài người sẽ dựng xây là một xã hội
không có giai cấp đối kháng, không phân chia giai cấp, không có tình trạng
người bóc lột người. Trong xã hội đó, con người có đủ điều kiện để phát triển
toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, và sự phát triển tự do của mỗi con người
sẽ là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.
1.2.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá xã hội chủ
nghĩa
11
sống tinh thần của con người lại trở nên bó hẹp hơn, con người trở nên cô đơn
trong một môi trường xã hội vật chất ngày càng mở rộng.
Từ việc phân tích đời sống văn hoá trong chủ nghĩa tư bản như vậy,
Mác - Ăngghen đưa ra quan điểm về xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa.
Trong các tác phẩm của mình, Mác - Ăngghen không dành riêng một tác
phẩm nào để trình bày hệ thống các quan điểm của các ông về văn hoá, văn
hoá không được thể hiện như một lĩnh vực nghiên cứu riêng. Nhưng toàn bộ
tư tưởng của Mác - Ăngghen về vấn đề này được thể hiện rất sâu sắc thông
qua hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng về con người và xã hội. Kế
thừa và phát triển quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về văn hoá
và vai trò của văn hóa trong công cuộc xây dựng xã hội mới, thông qua thực
tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, Lênin tiếp tục bổ sung và phát
triển những vấn đề lý luận về xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, là những nét chung nhất về nền văn hoá xã hội chủ nghĩa.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, bản chất của văn hoá là
sáng tạo, là sự kết tinh “năng lực bản chất người” trong thế giới các sản phẩm
do chính hoạt động của con người tạo ra, là cái quy định bản chất con người
với tư cách là thực thể sinh học – xã hội. Văn hoá là phương thức bộc lộ, phát
huy những năng lực bản chất con người gắn với những hoạt động sống của họ,
làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn, trở thành “người” hơn
trong mỗi giai đoạn phát triển của mình. Những nội dung đó cũng là mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội, một kiểu tổ chức xã hội mà nhân loại đang hướng tới.
Hiểu theo góc độ này thì chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội mang những đặc
trưng của văn hoá. Mác đã khái quát: mỗi bước mà con người tiến đến văn
hoá là mỗi bước con người tiến đến tự do. Đến Lênin, tư tưởng đó đã được
diễn đạt một cách cụ thể hơn khi ông đưa ra luận điểm về nền văn hoá xã hội
cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người hưởng thụ những giá trị văn hoá và khả
năng tham gia tích cực vào các lĩnh vực khác nhau của hoạt động sáng tạo.
Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển toàn diện và giải phóng năng lực sáng
tạo của mọi thành viên trong xã hội. Trong xã hội cũ tồn tại tư hữu tư bản chủ
13
nghĩa về tư liệu sản xuất và sự phân công lao động có mâu thuẫn đối kháng,
con người là “một cá thể phiến diện”. Nội dung hoạt động của cá thể ấy không
do năng lực bản thân quyết định, mà bị phụ thuộc vào một nghề nghiệp nào
đó. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
không có sự phân công lao động đối kháng nên người lao động có khả năng
thực tế để phát triển toàn diện. C.Mác chỉ ra mối quan hệ này: “Sự chiếm lĩnh
toàn bộ công cụ sản xuất cũng tương đương với sự phát triển năng khiếu ở bản
thân các cá thể” [04, tr. 100]. Khi cách mạng Tháng Mười thành công, khi tài
sản đã về tay nhân dân lao động, Lênin đã xác định mục tiêu của xã hội mới
phải có các lĩnh vực hoạt động để con người phát triển toàn diện “có thể phát
huy hết khả năng của mình, có thể uốn lại cái lưng, có thể đứng thẳng, có thể
cảm thấy mình là một con người” [18, tr. 144].
Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới sẽ giải phóng nhân dân lao
động thoát khỏi cảnh tối tăm, thức tỉnh trí óc của hàng triệu người lâm vào
cảnh “ngu dốt”, lạc hậu, nâng quần chúng đông đảo lên đến “tinh thần sáng
tạo lớn lao có tính chất lịch sử”. Khả năng sáng tạo của quần chúng nhân dân
là vô hạn. Nhưng nền văn hoá tư sản với tính phi nhân đạo của nó đã giày xéo,
đè nén, bóp nghẹt mất hàng nghìn, hàng triệu nhân tài trong nhân dân. Chỉ có
nền văn hoá xã hội chủ nghĩa mới khơi dậy sức sáng tạo mãnh mẽ bị đè nén
đó và những khả năng sáng tạo vốn đang tiềm tàng trong nhân dân. Chỉ có thế
mới sáng tạo nên những giá trị văn hoá mới cho một xã hội mới – xã hội cộng
sản. Một xã hội mà để trở thành hiện thực đòi hỏi phát huy tính tự giác cao độ
và tinh thần sáng tạo không ngừng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
chọn lọc những giá trị của văn hoá dân tộc cũng như của nhân loại, đặc biệt là
những thành quả mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra. Đó là điều kiện tiên quyết để
tạo nên những giá trị văn hoá mới trong nền văn hoá xã hội chủ nghĩa và
chính những giá trị mới đó là cơ sở, động lực để thúc đẩy xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ thứ hai được các nhà kinh điển đặc biệt quan tâm trong quá
trình xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa chính là giáo dục. Các ông đã
15
sớm nhận thấy vai trò của giáo dục trong việc cải tạo chế độ cũ và xây dựng
xã hội mới. Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể khẳng định được vị trí của mình khi
có năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản, mà điều đó chỉ có được khi
lực lượng sản xuất phát triển mạnh hơn, trong đó yếu tố con người - người lao
động là quan trọng hàng đầu. Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
trình độ thấp kém thì nhiệm vụ giáo dục hết sức quan trọng và có ý nghĩa
quyết định tới sự thành công của quá trình xây dựng văn hoá xã hội chủ nghĩa
và chủ nghĩa xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
Ph. Ăngghen đề cập đến giáo dục là một nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình
giai cấp vô sản làm cách mạng, thực hiện sứ mênh lịch sử của mình, đó là
“giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em”. Đưa
ra nhiệm vụ này, các ông đồng thời phác hoạ nên mô hình của một nền giáo
dục mới, hệ thống giáo dục dành cho tất cả mọi người, gắn lý thuyết với thực
hành.
Nhiệm vụ thứ ba trong việc xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa là
công tác văn hoá trong nông dân. Đặt ra nhiệm vụ này, các nhà kinh điển xuất
phát từ vai trò cũng như thực trạng của nông thôn, nông dân trong công cuộc
xây dựng xã hội mới. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc
hậu, nông nghiệp chiếm đa số thì nông dân là lực lượng hùng hậu và cần phải
tổ chức lại. Người nông dân không thể giữ mãi kiểu sản xuất cũ dựa trên cơ sở
các ông khẳng định đó là nền văn hoá chứa đựng tính nhân văn cao cả, một
nền văn hoá vì con người, phục vụ con người. Tuy nhiên, xây dựng nền văn
hoá xã hội chủ nghĩa theo các nhà kinh điển sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn:
Thứ nhất, về cơ sở kinh tế - một điều kiện quan trọng cho sự phát triển
văn hoá thì nghèo nàn, lạc hậu. Các nước xây dựng xã hội chủ nghĩa thường là
những nước tiểu nông, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chưa đạt được những
trình độc như các nước phát triển. Các nhà kinh điển coi đó là những khó khăn
không thể tưởng tượng đựơc cả về vật chất lẫn tinh thần.
Thứ hai, xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa trên cái nền của văn
hoá tư sản, mà chủ nhân của nền văn hoá mới chính là con người, là nhân dân
17
lao động, nhưng ở chế độ tư bản chủ nghĩa họ không được hưởng hoàn toàn
những giá trị tốt đẹp của nền văn hoá. Vì vậy, mặc dù họ là những người rất
hăng hái đấu tranh để đem lại cho xã hội những cái mới và tốt đẹp thì họ lại
chưa đủ học thức, không đủ trình độ văn hoá cần thiết để làm cuộc cách mạng
đó.
Từ những thực tế ấy mà các nhà kinh điển sáng lập chủ nghĩa Mác –
Lênin đã xác định những mục tiêu, và nhiệm vụ của nền văn hoá xã hội chủ
nghĩa. Với mục tiêu xây dựng một nền văn hoá của quảng đại quần chúng, vì
lợi ích của nhân dân lao động, và nền văn hoá ấy phải do chính họ sáng tạo ra,
nhằm phát triển toàn diện, khuyến khích năng lực sáng tạo của bản thân họ.
Chính vì thế mà nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của nền văn hoá xã hội
chủ nghĩa đó là: phải biết kế thừa, tiếp thu những di sản của nền văn hoá cũ
(mà trực tiếp là văn hoá tư sản), nhưng phải làm thế nào đó để văn hoá vô sản
kết hợp được với những thắng lợi của văn hoá tư sản, với khoa học kỹ thuật
trước đây thuộc đặc quyền một số ít người. Nhiệm vụ thứ hai được các nhà
kinh điển đặc biệt coi trọng trong quá trình xây dựng nền văn hoá xã hội chủ
nghĩa chính là giáo dục. Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở điều
Chí Minh nói đến ý nghĩa của văn hoá trong mục đọc sách ghi ở phần cuối tập
thơ Nhật ký trong tù. Nhờ bút tích quý báu này, chúng ta có thể thấy rõ hơn
những quan điểm của Người về nội hàm khái niệm văn hoá.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm
19
thích ứng nhu cầu đời sống và trước những đòi hỏi của sự sinh tồn” [32, tr.
143]
Từ quan điểm nêu trên về ý nghĩa của văn hoá. Hồ Chí Minh đề ra năm
điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc:
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân
dân trong xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền
5. Xây dựng kinh tế [32, tr. 431]
Có thể xem 5 điểm lớn nói trên là những yêu cầu cơ bản nhất cần quán
triệt khi đề ra mục tiêu chiến lược phát triển văn hoá đối với một dân tộc, một
quốc gia. Và, theo Hồ Chí Minh, văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao
gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà loài người sáng tạo
ra nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn.
Để có một nền văn hoá như vậy, phải xây dựng đồng thời cả tâm lý,
xã hội. Nó là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà con người sáng tạo ra do nhu cầu đời sống và đòi hỏi của “sự sinh tồn”,
như Người khẳng định. Do đó, nó phải thể hiện ra như nó vốn có để tạo ra sức
mạnh tổng hợp bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần đối với con
người trong một xã hội cụ thể, cả đức và tài đối với một con người phát triển
toàn diện. Chỉ tách văn hoá khỏi con người và xã hội khi cần nghiên cứu hoặc
xem xét mối quan hệ giữa nó với các nhân tố khác mà thôi. Đó là lĩnh vực của
phương pháp luận khoa học.
Từ cách hiểu về văn hoá nêu trên, cũng như yêu cầu xây dựng một nền
văn hoá dân tộc không chỉ đơn thuần là xây dựng văn hoá tinh thần mà còn
phải quán triệt sâu sắc và toàn diện những nhu cầu ngày càng cao của đời
21
sống con người, trong đó có cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Xuất
phát từ quan niệm đó, chúng ta càng thấy Hồ Chí Minh coi trọng ý nghĩa to
lớn của văn hoá và đặt nó ở vị trí quan trọng trong sự nghiệp cách mạng cũng
như trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước phát triển bền vững.
Thấm nhuần quan điểm văn hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh tức là đặt
văn hoá ở vị trí trung tâm của cách mạng, có nghĩa là thiếu nó cuộc sống sẽ
không còn ý nghĩa, thiếu nó con người sẽ không thành người, thiếu nó xã hội
sẽ không phát triển, thiếu nó sẽ không có chủ nghĩa xã hội… Điều đó cũng có
nghĩa là văn hoá gắn với mọi mặt của đời sống xã hội, là nền tảng tinh thần
của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế - xã hội
2.2. Hồ Chí Minh với việc xác định nền tảng cơ bản của nền văn
hoá mới.
2.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính dân tộc trong nền văn hoá
mới ở Việt Nam
Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật nói chung và về
tính dân tộc của nền văn hoá mới của Việt Nam nói riêng là một bộ phận hợp
nghệ thuật dân gian cũng như nghệ thuật bác học có nhiều yếu tố hiện thực và
nhân đạo sâu sắc. Các tư tưởng và tình cảm nhân đạo này gắn bó chặt chẽ với
các quan niệm về thiện và ác, ý chí tự lập tự cường và tinh thần yêu nước sâu
sắc. Các tư tưởng tình cảm này đã nuôi dưỡng tâm hồn và khí phách Hồ Chí
Minh ghi dấu đậm trong văn phong và phong cách sống của Người. Ngay từ
những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã viết: “Không: người Đông
Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc
có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống…. của
người Đông Dương” [30, tr. 28]. Nhiều nhà nghiên cứu khi đọc những câu
này, đều nhận thấy trong những câu viết đó vang vọng hồn dân tộc với khí
phách của Lý Thường Kiệt, của Trần Hưng Đạo, của Nguyễn Trãi, Nguyễn
Huệ - Quang Trung,…
Hồ Chí Minh đã đề xuất việc phát huy các giá trị truyền thống, giữ gìn
nó để xây dựng nền văn hoá nghệ thuật mới. Khi tiếp xúc với văn minh châu
23
Âu, với nền văn hoá tư sản, với chủ nghĩa Mác, hơn lúc nào hết, Hồ Chí Minh
nhận thức sâu sắc rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất
nước”. Người cho rằng dân tộc học phương Đông có thể tham gia vào “củng
cố cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác”.
Đối với Hồ Chí Minh, văn hoá nghệ thuật do con người sáng tạo ra
nhưng nó đã không những không mất đi cùng với các thế hệ người tạo ra nó,
mà còn tự xác lập được những thành tố văn hoá khách quan lưu giữ các khả
năng sáng tạo trong dấu ấn của toàn bộ nền văn hoá. Sự tồn tại này thiết lập
thành truyền thống văn hoá nghệ thuật trong cộng đồng dân tộc. Coi trọng
những thành tố văn hoá nghệ thuật đã từng được xác lập trong truyền thống,
do vậy Người một mặt ra những sắc lệnh cấm phá huỷ các công trình văn hoá
nghệ thuật như đình chùa, miếu mạo; mặt khác khuyến khích việc sưu tầm và
phát huy mọi giá trị văn hoá nghệ thuật tốt đẹp của dân tộc.