LỜI MỞ ĐẦU
hiệu quả và mở rộng chương trình làm việc với người nước ngoài để ngày
càng có thêm nhiều thị trường mới để xuất khẩu lao động đạt kết quả cao.
Từ
nghĩa việc
đó, em
tài "Một
sô vấn
vềmục
xuấttiêu
khẩu
lao trọng
động
Giảiý quyết
làmchọn
chođề
người
lao động
là đề
một
quan
ở
Việt sự
Namgiảinước.
pháp"Với
làmchủ
khoátrương
luận tốt
nghiệp.
trong
phátThực
đặc thù, góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu
nhập và nâng cao tay nghề cho người lao động, tạo một nguồn thu ngoại tệ
quan trọng cho đất nước.
1
2
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÊ XUẤT KHÂU LAO ĐỘNG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Cơ BẢN
Trước đây, khi chưa có xuất khẩu lao động, do yêu cầu của cuộc sống
cũng như do nhu cầu lao động của nhiều nước, nhiều vùng đã có hiện
tượng
di chuyển lao động từ nước này sang nước khác với hai dạng co bản là làm
việc lâu dài và làm việc tạm thời. Điều đó có lợi cho cả hai phía: Phía thuê
lao động và người lao động mong muốn có việc làm để có thu nhập.
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, việc đưa lao động ra nước ngoài làm
việc đã được nâng lên rõ rệt. Đó là do sự phát triển kinh tế trong phạm vi
toàn cầu đang có những chuyển biến về chất và không đồng đều giữa các
nước dựa trên cơ sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật. Thực tế cho
thấy, sức lao động của các quốc gia có dư thừa lao động đến giai đoạn hiện
nay đã được xem như là một loại hàng hoá, hàng hoá sức lao động mà
quốc
gia đó đem ra để đổi lấy ngoại tệ dưới các hình thức khác nhau.
Nghiên cứu về vấn đề xuất khẩu lao động chúng ta phải hiểu và làm rõ
một số khái niệm cơ bản sau:
Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện
chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết
của các quy luật kinh tế thị trường. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của
4
Thị trường lao động nước ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi
hoạt động còn hạn hẹp. Đế phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn
lao động, trước hết thị trường lao động phải được mở rộng cả trong và
ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện cho người lao động có quyền bình
đẳng, tự do tìm việc làm, thuê mướn lao động theo pháp luật.
Di dân quốc tế:
Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao
động từ nước này sang nước khác để tìm việc làm. Nếu xét theo khía cạnh
dân số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế. Do
đó, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chính là tham gia
vào
quá trình di dân quốc tế, nó không nằm ngoài những qui luật chung. Việc
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tuân theo những hiệp định
giữa hai quốc gia, đa quốc gia hoặc theo công ước quốc tế, tuỳ từng trường
hợp khác nhau mà nó được xếp nằm trong giới hạn nào.
Xuất khẩu lao động:
Ở Việt Nam, từ những năm 80 đã bắt đầu xuất hiện thuật ngữ "Hợp tác
quốc tế về lao động". Lúc đó được hiểu đơn giản là sự trao đổi lao động
giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và kí kết giữa
Thực tế ở nước ta, nguồn lao động không ngừng gia tăng trong bối
cảnh nền kinh tế còn gặp không ít những khó khăn. Điều này đã sinh ra
những mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế với nhu cầu giải
quyết việc làm ngày càng tăng, tất yếu dẫn đến tình hình một bộ phận
người lao động chưa có việc làm.
Với tốc độ phát triển dân số và lao động như hiện nay, hàng năm
chúng ta phải tạo ra hơn một triệu chỗ làm việc mới cho số người bước vào
6
người tàn tật... có nhu cầu việc làm để đảm bảo cuộc sống. Trước tình hình
bức xúc về việc làm như vậy, Đảng đã xác định chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội nước ta theo định hướng đặt con người vào vị trí trung tâm. Như
vậy, thực chất của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ này là chiến
lược về lao động và việc làm. Lao động phải có việc làm, việc làm đó phải
có hiệu quả và mang lại thu nhập đủ sống cho người lao động và đóng góp
với Nhà nước để tăng tích luỹ phát triển sản xuất. Quan điểm này xuất phát
từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là đảm bảo quyền cơ bản nhất của
con người bao gồm quyền tự do lao động và quyền có việc làm. Tư tưởng
chỉ đạo của Nhà nước ta là giải phóng tiềm năng lao động và phát huy đến
mức cao nhất yếu tố con người trong các quyết sách lón của Đảng và Nhà
nước, điều đó xuất phát thực tế hiện trạng lao động và việc làm của nước
ta.
Vấn đề lao động và việc làm không những chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là
vấn đề xã hội và chính trị. Vì thiếu việc làm, thất nghiệp sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho các tệ nạn và thói hư, tật xấu phát triển đồng thời cũng là
ngòi nổ cho các bạo loạn xã hội mà các thế lực thù địch nước ngoài dễ
dàng khai thác. Thất nghiệp còn sinh ra các hậu quả khác về tư tưởng và
chính trị, giảm sút lòng tin chính trị, cản trở các cuộc cải cách khác.... dẫn
vào những thập kỷ gần đây gắn liền với việc quốc tế hoá trên thị trường sức
lao động. Do đó, di cư lao động quốc tế trở thành một bộ phận không thể
tách khỏi của hệ thống kinh tế thế giới hiện nay. Theo đánh giá của các
chuyên gia, điều đó chứng tỏ di cư lao động quốc tế không chỉ dừng lại ở
mức độ đơn giản nữa mà nó thực sự là vấn đề cần được quan tâm. Người ta
đã tiến hành nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các trào lưu
di cư lao động quốc tế, đặc biệt đi sâu hơn vào khu vực Châu Á, kết quả
cho
thấy trào lưu được hình thành qua ba giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên là trào lưu di cư lao động từ Ấn Độ - thuộc địa của
Anh đến các đồn điền ở vùng Caribê, Châu Phi và Đông Á, gồm những lao
8
có tay nghề, sinh viên học tại Mỹ và Canada không trở về nước sau khi học
xong.
Giai đoạn thứ ba, đó là giai đoạn bùng nổ xây dựng ở các nước vùng
Vịnh khi dầu mỏ trở thành nghành chủ lực của nền kinh tế khu vực này.
Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển rất nhanh của lực lượng lao động các
nước tại vùng Vịnh khi dầu mỏ trở thành nghành chủ lực của nền kinh tế
khu vực này. Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển rất nhanh của lực lượng
lao động các nước tại vùng Vịnh và đây trở thành một trung tâm chính thu
hút lao động Châu Á.
Việc sử dụng lao động nước ngoài từ lâu đã trở thành điều kiện tất yếu
của quá trình tái sản xuất thông thường. Ớ các nước đang sử dụng công
nhân nước ngoài, có những nghành phải phụ thuộc vào nguồn lao động
nhập khẩu. Trong khi đó, đối với phần lớn các nước đang phát triển có lao
động tăng nhanh.
Thị trường lao động quốc tế đối với xuất khẩu lao động
Việt Nam
hiện nay và trong những năm tới.
1.2.3.
Nghiên cứu các trào lưu di cư lao động trên thế giới ta thấy rằng di cư
lao động quốc tế là một hiện tượng kinh tế- xã hội phổ biến và những làn
sóng di cư lao động sẽ không thể ngừng lại.
Những trung tâm nhập cư mà trong quá khứ, hiện tại và tương lai, do
10
cần có chính sách thị trường phù hợp để khi có điều kiện là lao động Việt
Nam vẫn có mặt và chiếm ưu thế trong khu vực này.
b. Khu vực Đông Bắc Á
- Hàn Quốc: Hàn Quốc là một nước có nhiều thành công trong xuất
khẩu lao động những năm 80, thành công ấy đã góp phần quan trọng trong
phát triển kinh tế đất nước. Tốc độ phát triển kinh tế cao đã đưa Hàn Quốc
từ một nước xuất khẩu lao động trở thành một nước thiếu hụt trầm trọng lao
động trong nước và cả ở các công trình trúng thầu ngoài nước. Hiện nay,
khả năng hợp tác với Hàn Quốc trong việc sử dụng lao động Việt Nam còn
rất nhiều triển vọng.
- Đài Loan: Đài Loan đang trở nên mạnh mẽ với một lượng lớn công
- Singapo: Do thiếu lao động trầm trọng, Chính phủ Singapo cho phép
nhập một số lượng lớn hơn công nhân nước ngoài làm việc trong nhiều lĩnh
vực sản xuất. Chính phủ cũng đã mở rộng các luật lệ nhập cư để thu hút lao
động có tay nghề cao thay thế cho các công nhân người Singapo đã được
đào tạo rất tốt nhưng họ đã di cư ra nước ngoài trong những năm gần đây.
- Malaixia: Cùng với quá trình công nghiệp hoá nhanh chóng,một tỷ
lệ
lớn lực lượng lao động của Malaixia đã tràn từ khu vực nông thôn vào
thành
thị. Tinh trạng thiếu lao động có thể thấy ở những vùng nông thôn, đồn điền
và một số ngành công nghiệp khác, vì thế ở các vùng đồn điền phụ thuộc
ngày càng nhiều vào lao động nước ngoài. Trong những năm gần đây, sự
bùng nổ kinh tế của Malaixia đã vượt quá khả năng cung ứng lao động
trong nước. Nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài là cần thiết và có chiều
hướng gia tăng. Nước ta mới chỉ thí điểm đưa lao động vào thị trường này
12
quan hệ hợp tác với các nước khu vực này. Đây là thị trường có nhiều triển
vọng trong vấn đề hợp tác sử dụng lao động Việt Nam.
Sự phát triển không đều về kinh tế, chính trị và xã hội cũng như sự phân
bố không đều về tài nguyên giữa các quốc gia, dẫn đến sự phát triển không
đều giữa các quốc gia, không quốc gia nào lại có đủ và đồng bộ các yếu tố
sản xuất. Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc giải quyết tình trạng mất
cân đối trên đẫn đến hình thành thị trường quốc tế, trong đó có thị trường
động
Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu
cầu
cụ thể về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính.... Các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước
ngoài sẽ tiến hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí sẵn có. Đê đảm bảo
đúng yêu cầu của mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa
trước khi lao dộng sang làm việc.
c. Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký
vói ngưòi sử dụng lao động ở nước ngoài.
Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối
tượng lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công
việc.
Có những yêu cầu của nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh
nghiệm sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ
cần người lao động có trình độ giản đơn.
14
1.4. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHAU LAO ĐỘNG Đổi VỚI sự PHÁT
TRIỂN KINH TÊ
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng dối với mỗi quốc
gia, đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển. Hoạt động này đem
- Vế quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong
lĩnh
vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước
cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu
nhau hơn tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau
những thông tin quan trọng về vấn đề hai nước cùng quan tâm và thóng
nhất
Đôi vói nước nhập khẩu lao động (nước nhận lao động):
Nước nhập khẩu lao động thu được những lợi ích đáng kể như: cung
cấp đủ số lao động bù đắp vào các ngành thiếu hụt, khai thác có hiệu quả
tiềm năng của đất nước. Đồng thời, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có
lao động, khai thác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong lao động và cung
Đôi vói bản thân ngưòi lao động:
Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đói
nghèo và có vốn, tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn đé tự tạo việc làm sau
khi về nước. Một ngư dân đánh cá ở Nghệ An thu nhập hàng tháng chỉ
được khoảng 200 000 đồng, nếu đi làm cùng công việc trên tàu đánh cá của
Hàn Quốc thì mỗi tháng có thể gửi về nhà ít nhất là 1,6 triệu đồng, nhiều là
khoảng 2-3 triệu đồng. Người lao động không có nghề nếu đi theo hình
thức tu nghiệp sinh ở Hàn Quốc thì ngoài ăn, ở còn được hưởng lương
16
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUÂT KHAU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
2.1.2
Chất lượng lao động
Theo đánh giá chung, lực lượng lao động Việt Nam tuy lớn mạnh về số
lượng nhưng lại không đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng. Mặc dù vậy, lao
động Việt Nam hiện có một số lợi thế như: cần cù, thông minh, sáng tạo, có
kinh nghiệm sản xuất từ lâu đời và truyền thống dân tộc giúp người lao
động có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và lao động sáng tạo.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng đáng kể.
Bên cạnh những lợi thế vốn có ấy, lao động Việt Nam còn hạn chế rất
nhiều, chủ yếu biểu hiện ở các vấn đề như:
về sức khoẻ: Do xuất phát điểm kinh tế, Việt Nam là một nước nông
nghiệp nghèo và đông dân nên phần lớn lực lượng lao động nước ta chưa
đủ
điều kiện về sức khoẻ. Đây là khó khăn đầu tiên khi tuyển dụng lao động,
đặc biệt là tuyển dụng lao động cho xuất khẩu.
Về tác phong: Co chế kế hoạch hoá tập trung tồn tại ở nước ta trong
một thời gian dài có ảnh hưởng lớn tới người lao động làm cho lề lối và tác
phong làm việc của đa số người lao động là chậm chạp và tinh thần trách
nhiệm chưa cao. Có thẻ coi đây là yếu kém lớn nhất khi tiếp nhận lao động
Việt Nam.
Về trình độ văn hoá và cơ cấu trình độ của lực lượng lao động :
Lao động không có chuyên môn chiếm tới 87,81% lực lượng lao động,
những
động
đó hợp,
mà làm
nướcđến
ngoài
lại1990)
luôn có
thu ta
nhập
bằng với
nhiều
hìnhlao
thức
thích
từ việc
năm ở1980
năm
nước
đã
cao
thế người
laongười.Trong
động Việt Nam
lương
xuấthơn.
khẩuVìđược
275 386
đó sốdễđidàng
theochấp
Nước ta bắt đầu đưa lao động ra nước ngoài làm việc có thời hạn từ
năm 1980. Hoạt động này được chia theo hai mốc thời gian ứng với hai cơ
chế: Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp giai đoạn 1980- 1990 và cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa giai
đoạn 1991 đến nay
2.1.1.
Giai đoạn 1980-1990
Từ những năm đầu thập kỷ 70, nhất là sau năm 1975, đất nước thống
nhất, nhiều nước đã đặt vấn đề hợp tác sử dụng lao động với nước ta. Năm
1979, ban Bí thư Trung ương Đảng và thường vụ Hội đồng Chính phủ
chính
thức giao cho Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Uỷ ban kế hoạch Nhà
nước nghiên cứu để tiến hành đàm phán với một số nước xã hội chủ nghĩa
về vấn đề này. Ngày 11 tháng 2 năm 1980, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết
định 46/CP về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng, nâng cao trình
Tổng cộng:
244 186 (người)
20
19
Thời kỳ này do quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa là chủ yếu nên
số người đi lao động phần lớn là sang Liên Xô (cũ) và Đông Âu. Số lượng
người đi các nước xã hội chủ nghĩa là 257 822 người, chiếm khoảng 91% số
lao động đi các nước không thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Ba năm đầu thực
hiện công tác xuất khẩu lao động, số lao động xuất khẩu không ngừng tăng
lên, từ 1 070 năm 1980 đến năm 1981 đã đưa được số người đi gấp hơn 18
đi được phân bố vào các nghành kinh tế quốc dân của các nước như sau:
Irăc: 100% làm công tác thuỷ lợi; Libi: 100% làm trong xí nghiệp công
nghiệp; Các nước xã hội chủ nghĩa: 45% làm trong nghành công nghiệp
nhẹ, phần lớn là dệt, may mặc, giầy da; Ở Bungari: 20% làm trong nghành
cơ khí, 6% làm nông nghiệp và chế biến thực phẩm, 3% làm trong các
nghành khác.
Xuất khẩu lao động có nghề nghiệp ở nước ta giai đoạn này còn nhiều
hạn chế do xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, do vậy đòi hỏi có
biện pháp đào tạo và bồi dưỡng nghề cho lao động một cách họp lý.
2.2.13 Thị trường xuất khẩu lao động.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn này là các
nước xã hội chủ nghĩa thông qua các hiệp định đã được ký kết như: Liên
Xô, Tiệp Khắc, Bungari, Libi, Irac, Cộng hoà dân chủ Đức. Thực hiện chủ
trương tiếp tục đưa lao động đi làm việc ở các nước ngoài xã hội chủ nghĩa,
mở rộng thị trường sử dụng lao động, chúng ta đã tổ chức đưa đi hàng vạn
lao động sang làm việc ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Trong một thời
gian ngắn, với kinh nghiệm còn ít ỏi, cả ta và bạn còn thiếu những nghiên
cứu và chuẩn bị chu đáo nên đã xảy ra một số vụ việc làm cho tình hình
quản lý lao động gặp nhiều khó khăn, có chiều hướng gây ảnh hưởng xấu
đến quan hệ đối ngoại. Vì vậy, tháng 4 năm 1984 Chính phủ chủ trương
tạm dừng đưa lao động sang Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp khắc, Bungari,
22
STT
Năm
vàcủa
laonhà
động
tại và
cácchức
nướcnăng
sở tại
hoặc
của
có nhiệm
vụthứ
trực4...
tiếp
động
xuất một
khẩu.
Theo
các
nước
thứ 3,
xenđưa
kẽ lao
nhau
làmđitrong
nhà
máy,Nghị
mộtđịnh
phânnày,
xưởng,
tổ chức
ứng
lao thức
độngxen
và ghép.
chuyênDo
giacơcho
nước
trình
độ lao
năng
lực và
quản
lý của
mà các
ngoài.bạn
Việcvàxuất
khẩu
động
chuyên
giatađược
thựclực
hiệnlượng
thônglao
quađộng
các
theo
hình thức
nhận
thầu này
hết tác
Việt
nguyên
khác157
nhau
đãlao
chuyển
dần lên
làm
"xenlàm
ghép"
Nam đã nhân
đưa được
060
động sang
nước
ngoài
việc.với lực lượng
2.2.2.
Giai đoạn từ năm 1991 đến nay.
Cuối những năm 80 và đầu những năm 90, tại các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu tiếp nhận lao động ta đều xảy ra những biến động chính trị
lớn , dẫn đến sự thay đổi về thể chế chính trị và cơ chế kinh tế; ở nhiều
nước
Châu Phi có chuyên gia ta làm việc cũng có khủng hoảng kinh tế, chính trị;
ở Irăc xảy ra chiến tranh. Vì vậy, phần lớn các nước này không còn nhu cầu
tiếp nhận lao động Việt Nam, hoặc nếu có nhu cầu thì cũng không nhận lao
động và chuyên gia theo cơ chế chính phủ - chính phủ nữa. Đồng thời, cơ
thuyền viên đánh cá, chuyên gia y tế, giáo dục...
Thực hiện chủ trương của Chính phủ là hạn chế đưa lao động phổ
thông đi, Bộ Lao động Thương binh - Xã hội đã chỉ đạo, hướng dẫn các
công ty mở rộng việc ký kết các hợp đồng đưa lao động có nghề. Kết quả
cho thấy, số lao động có nghề của Việt Nam tăng lên rõ rệt. Nếu năm 1992
chủ yếu là lao động phổ thông thì số lao động có nghề năm 1993 tăng lên
25%, năm 1995 tăng lên 40% và hiện nay đạt gần 70% tổng số người đi.
Đối với một số thị trường, chúng ta đã cung ứng 90% - 100% lao động có
nghề như Côoet, Libi, Angola, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc. Còn một số lao
động khi đưa đi chưa có nghề, nhưng hầu hết trong các hợp đồng đã ký, bên
nhận đều thực hiện việc đào tạo nghề cho người lao động thông qua các
hình thức: đào tạo 3 tháng tại xí nghiệp rồi mới sử dụng như những lao
động có nghề chính thức làm việc trong các dây chuyền công nghệ.
2.22.3.
Hình thức xuất khẩu lao động
25
hoặc cá nhân ở nước ngoài;hợp đồng lao động giữa người Việt Nam với tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài; Cung ứng lao động trực tiếp theo
yêu
cầu của các công ty nước ngoài thông qua hợp đồng lao động.
Trong đó, các doanh nghiệp được cấp giấy phép xuất khẩu lao
động
phải tự mình tìm kiếm thị trường, tự mình ký kết với bên nước ngoài để tiến
hành làm thủ tục đưa lao động xuất khẩu dựa trên chính sách của nhà nước.
Nếu doanh nghiệp nào có giấy phép xuất khẩu lao động mà trong vòng 12
khả năng chúng ta vẫn có thể tiếp tục gia tăng số lượng trong thời gian tới.
Tính đến tháng 11 năm 2001, tức là đúng hai năm kể từ khi lao động Việt
Nam đầu tiên đến Đài Loan theo con đường xuất khẩu lao động chính thức
đã có 15 000 lao động nước ta sang làm việc ở 24 nghành nghề.Tuy nhiên,
cũng đã bắt đầu có hiện tượng người lao động vi phạm (bỏ hợp đồng ra
ngoài làm việc bất hợp pháp). Ngoài ra có một số phần tử chống đối, phá
hoại chính sách của Nhà nước hoạt động tại thị trường này tìm cách lôi kéo,
kích động người lao động đi nhà thờ, tham gia váo các cuộc đình công, đấu
tranh với chủ sử dụng lao động đòi tăng lương, không nộp phí dịch vụ cho
donh nghiệp xuất khẩu lao động theo qui định.
Nếu chúng ta không có biện pháp ngăn chặn một cách tích cực, kịp
thời và hiệu quả, tình trạng này sẽ phát triển và sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
khả năng cạnh tranh của lao động nước ta tại khu vực này.
b. Khu vực Đông Nam á
Trong khu vực Đông Nam á, mới chỉ có Lào đang nhận lao động ta
với
số lượng tương đối lớn và đa dạng. Trong tương lai, Lào vẫn sẽ là một
27
từ khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn, có khả năng chịu khó
chịu khổ và sẵn sàng chấp nhận mức thu nhập thấp, bên cạnh đó, hợp tác
với các ngân hàng để cho người lao động vay chi phí ban đầu với điều kiện
dễ dàng. Ngoài ra, có hướng chỉ đạo một số doanh nghiệp chuyên ngành
tìm kiếm các hợp đồng cung ứng chuyên gia y tế sang khu vực này; đồng
thời tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc việc thực hiện các hợp đồng nhận thầu
nhân công ở Kuwait trước đây, xây dựng phương án tiếp tục mở lại thị
trường này thông qua sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp xây dựng