Bài Tập cá nhân – Luật Lao Động Việt Nam - Pdf 33

Bài Tập cá nhân – Luật Lao Động Việt Nam
Lớp N04_TL3 – Nhóm 01

I. MỞ ĐẦU
Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động là các bên tham gia quan hệ pháp
luật lao động gồm: người lao động và người sử dụng lao động.
Trong phạm vi bài làm của mình tôi xin được trình bày về điều kiện chủ thể của
người lao động khi tham gia quan hệ pháp luật lao động giữa người lao động và
người sử dụng lao động.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm người lao động.
Điều 6 Bộ luật lao động, khái niệm người lao động được quy định: “Người
lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng
lao động”.
Điều 55 Hiến pháp 1992 quy định: “Lao động là quyền, nghĩa vụ của công
dân”. Như vậy, công dân là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động.
Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải mọi công dân đều có thể trở thành chủ
thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách người lao động. Một người muốn trở
thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động thì công dân hoặc cá nhân ấy phải thỏa
mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định, những điều kiện ấy trong
khoa học pháp lý gọi là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.
2. Phân tích điều kiện chủ thể của người lao động
Điều kiện chủ thể của người lao động được thể hiện qua năng lực pháp luật
lao động và năng lực hành vi lao động. Có thể phân tích điều kiện lao động của của
người lao động theo hai loại như sau:
a.

Điều kiện chủ thể của người lao động trong quan hệ pháp luật lao động là

công dân Việt Nam.
Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà pháp luật quy định

này, một bên chủ thể lao động (trẻ em) được xem là người có năng lực hành vi lao
động không đầy đủ (hay còn gọi năng lực hành vi lao động một phần).
Ở đây, cần phân biệt trường hợp có năng lực hành vi lao động không đầy đủ
với trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật, đây là hai vấn đề hoàn toàn khác
nhau. Nhìn chung, những người chưa đến độ tuổi quy định, những người mất trí là
người không có năng lực hành vi lao động.
Ngoài ra có một số trường hợp bị hạn chế năng lực pháp luật lao động trong
những trường hợp luật định (bị tù giam, bị cơ quan có thẩm quyền cấm đảm nhận
một chức vụ, hoặc làm một công việc nào đó...)

2

Phạm Thị Thu Hằng - 350235


Bài Tập cá nhân – Luật Lao Động Việt Nam
Lớp N04_TL3 – Nhóm 01

b. Điều kiện chủ thể của người lao động quan hệ pháp luật lao động là người nước
ngoài.
Ngoài các đối tượng là công dân Việt Nam, người nước ngoài cũng có thể là
chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách là người lao động, với các điều
kiện về độ tuổi: người từ 18 tuổi trở lên, có sức khoẻ, có lí lịch tư pháp trong sạch,
không có tiền án, tiền sự… và Điều 133 Bộ luật lao động ghi nhận: “Người nước
ngoài làm việc từ đủ ba tháng trở lên cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại
Việt Nam phải có giấy phép lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương cấp; thời hạn giấy phép lao động theo thời hạn
hợp đồng lao động, nhưng không quá 36 tháng và có thể được gia hạn theo đề nghị
của người sử dụng lao động. Người nước ngoài lao động tại Việt Nam được hưởng
các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam, trừ trường

Phạm Thị Thu Hằng - 350235




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status