Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Đài Loan và những bài học kinh nghiệm
cho phát triển nông thôn của Việt Nam
I.Đặt vấn đề
1..Sự cần thiết
Dù tạo ra chưa đầy 20% GDP nhưng người dân sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả
nước và 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, lại là bộ phận đảm bảo
trọng trách cái ăn của toàn xã hội. GDP thấp nên về cơ bản nông dân cũng chỉ được hưởng lợi
trong khuôn khổ con số khiêm tốn đó nên chênh lệch thu nhập giữa nông dân và thị dân ngày càng
cao. Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nông dân là tầng lớp
dễ bị tổn thương nhất vì vậysự nghiệp phát triển nông thôn phải được chú ý hàng đầu.
Sau chương trình phát triển nông thôn Đài Loan đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ,với
chính sách lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp làm cho kinh tế nông thôn Đài
Loan đã phát triển hết sức là mạnh mẽ.
Chương trình phát triển nông thôn ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và bất cập,chính
sách và chương trình phát triển nông thôn còn xa rời với dân cư nông thôn,chương trình,chính
sách mang tính áp đặt từ trên xuống xa vời,không thấu hiểu được nguyện vọng của người dân vì
thế việc học tập kinh nghiệm phát triển nông thôn ở các nước sẽ là một bài học quý báu cho sự
phát triển nông thôn ở Việt Nam,mà phát triển nông thôn ở Đài Loan là một điển hình.
Từ kinh nghiệm quản lí quý báu đó cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức và tính đúng đắn,kĩ năng
quản lí trong phát triển nông thôn của các cấp lãnh đạo.
Đấy là những lí do chúng tôi chọn đề tài:’’Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Đài Loan và những
bài học kinh nghiệm cho phát triển nông thôn của Việt Nam”
2.Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu chung
-Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam từ sự phát triển nông thôn của Đài
Loan
2.2.Mục tiêu cụ thể
-Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông thôn của Đài Loan
-Tìm ra và phân tích những thành tựu cũng như hạn chế của chương trình phát triển nông thôn ở
Đài Loan
-Những bài học kinh nghiệm quý giá nhìn từ thành công cũng như điểm hạn chế của chương trình
á. Giai đoạn 1950-1980, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt trên 12%.
Những yếu tố tạo nên sự thần kỳ của nền kinh tế Đài Loan có thể kể đến là: đầu tư phát triển nông
nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp; chiến lược công nghiệp hoá hướng
ngoại, phát triển công nghiệp đều khắp giữa các vùng; vai trò hỗ trợ hợp lý của chính phủ.
Khác với nhiều nước, phát triển công nghiệp của Đài Loan không tập trung ở các trung tâm
đô thị mà trải đều trên khắp cả nước, từ các thành phố đến các thị trấn của các vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, những chính sách của Chính phủ cũng hỗ trợ các ngành CNNT phát triển. Nhờ đó
CNNT của Đài Loan phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ
quan trọng tài trợ cho quá trình công nghiệp hoá, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho khu
vực nông thôn, và giảm khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Trong thập kỷ 60, CNNT của
Đài Loan đã đóng góp 60% thu nhập cho khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm cho khoảng
20% lao động nông thôn, và đóng góp 60% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cả nước.
2. Quá trình phát triển nông thôn ở Đài Loan
Chính phủ Đài Loan đang lập ra một chương trình phát triển nông nghiệp hướng vào công nghiệp,
các chính sách ruộng đất, quản lý nguồn lực, phát triển khoa học kỹ thuật. Chương trình này được
phác thảo nhằm mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của nông nghiệp Đài Loan khi bước
vào thể kỷ 21.
2.1Kinh tế nông thôn.
Nông nghiệp là cơ sở của công nghiệp, nhưng nông nghiệp hiện đại đã vượt xa những nhu
cầu đơn giản như cung cấp lương thực và nguyên vật liệu. Nông nghiệp cũng bao hàm cả thương
mại, ở đó có sự kết hợp cả sản xuất, lối sống và sinh thái. Do vậy Đài loan đã định hướng chính
sách nông nghiệp theo 4 nguyên tắc sau đây:
-Kinh tế nông nghiệp: Chuyển các trang trại nông nghiệp thành các doanh nghiệp nông nghiệp.
- Kỹ thuật nông nghiệp: Tăng năng suất lao động và hiệu quả các hoạt động tiếp thị thông qua ứng
dụng kỹ thuật tiên tiến.
- Quốc tế hoá sản xuất nông nghiệp: Thông qua việc tăng cường trao đổi kỹ thuật nông nghiệp và
thúc đẩy các hoạt động kinh tế và mậu dịch toàn cầu.
Để thực hiện tốt những nguyên tắc cơ bản trên, Đài Loan đang cố gắng nâng cao chất lượng và
quả, duy trì sự cân bằng, điều hoà giữa các lợi ích tổng thể và lợi ích cá nhân, bảo vệ lợi ích lâu
dài cho các thế hệ tương lai nhằm hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững.
Chính sách phát triển KHKT trong nông nghiệp
Đài Loan đang đưa ra các chính sách phát triển khoa học và kỹ thuật nhằm hiện đại hoá nông
nghiệp với các định hướng sau:
- Phát triển các kỹ thuật hiện đại phục vụ chế biến nông sản và chống ô nhiễm môi trường.
- Nâng cấp các cơ sở? công nghiệp để đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học và các kỹ thuật sản
xuất hàng hoá định hướng theo thi trường, có tính đến các điều kiện về môi trường nông nghiệp
địa phương.
- Khuyến khích cơ khí và tự động hoá các hoạt động sản xuất trong các lĩnh vực ngư nghiệp và
chăn nuôi gia súc, gia cầm.
- Phấn đấu đưa Đài Loan trở thành một trung tâm kỹ thuật nông nghiệp Quốc tế ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới.
-Áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp,nâng cao năng suất và chất lượng nông
sản
2.2.Xã hội nông thôn.
- Nâng cao phúc lợi của nông dân, nâng cao đời sống, vật chất, văn hoá, tinh thần trong các vùng
nông thôn. Điều hoà, tiến tới xoá bỏ những khác biệt giữa nông thôn và thành thị.
-Ổn định đới sống chính trị ,tăng cường niềm tin của người dân nông thôn vào nhà nước,kìm hãm
ngân chặn tệ nạn xã hội ở nông thôn.
Để tăng cương sự bảo đảm về phúc lợi xã hội, Đài Loan đang thực hiện kế hoạch trợ cấp hàng
năm cho nông dân giúp bảo đảm cuộc sống cho người già và các nông dân khi nghỉ hưu.
bảo hiểm và phúc lợi xã hội, bao gồm bảo hiểm y tế cho nông dân, thành lập mạng lưới y tế nông
thôn, các hoạt động cứu trợ trong trường hợp có thiên tai . v . v .
Trong các yếu tố tạo nên thành công của phát triển nông nghiệp phải kể đến vai trò quan trọng của
các tổ chức nông dân. Đài loan có 4 tổ chức của nông dân là Nông hội, hợp tác xã cây ăn quả, hội
thủy lợi, và hội thủy sản. Về cơ bản đó là những tổ chức kinh tế hợp tác làm dịch vụ phi nông
nghiệp bao gồm cung cấp vật tư và tiêu thụ nông sản. Chức năng chính của các tổ chức này là giúp
- Tiếp tục sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ nông nghiệp tiến tới duy trì sự cân bằng giữa
nông nghiệp, làm giàu các nguồn lực xanh và đáp ứng các yêu cầu du lịch và giải trí.
Đài Loan chủ trương phải giữ một diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất lương thực, bảo tồn
sinh thái tự nhiên và khoảng không cây xanh. Trong quan điểm phát triển hỗn hợp của Đài Loan,
các kế hoạch tổng hợp cho sử dụng đất sẽ bao gồm thời gian biểu và lựa chọn các vùng đất vào
các mục tiêu hợp lý, đồng thời cũng tính đến sự cân bằng khu vực, sử dụng có hiệu quả tài nguyên
đất đai và giữ cân bằng sinh thái
3.Kết quả,bài học kinh nghiệm
3.1.Kết quả.
Cơ sở hạ tầng nông thôn được phát triển.
Khác với nhiều nước đang phát triển, Đài Loan có điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng
nông thôn ngay cả trong thời kỳ thuộc địa trước 1945. Dưới thời kỳ đô hộ của Nhật Bản trước
năm 1945, do muốn biến Đài Loan thành nơi cung cấp nguyên liệu nông nghiệp cho chính quốc
nên đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn, tập trung mạnh vào giao thông (đường sắt, đường bộ),
hệ thống điện, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp. Năm 1908, Nhật Bản xây dựng
tuyến đường sắt đầu tiên chia đôi hai miền Nam và Bắc của Đài Loan, nối các cảng và trung tâm
công nghiệp quan trọng nhất, đi qua khu vực phía Tây nơi phần lớn dân cư nông thôn sinh sống.
Chính tuyến đường sắt này đã thúc đẩy liên kết giữa các vùng nông thôn và thành thị.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Chính phủ Đài Loan vẫn tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
nông thôn. ở khu vực nông thôn mạng lưới đường quốc lộ được xây dựng một cách đồng bộ, hình
thành các con đường nhánh nối các khu vực với nhau. Giai đoạn 1962-72, ở khu vực nông thôn
Đài Loan số km đường trải nhựa trên 1000 km 2 tăng từ 76,4 km lên 214,5 km, trong khi cũng cùng
giai đoạn này ở Hàn Quốc chỉ ở mức 10km và tăng lên 50 km. Ngoài ra, Đài Loan cũng đẩy mạnh
các chương trình điện khí hoá nông thôn. Tính đến năm 1960, có tới 70% các hộ nông dân đã có
điện. Đặc biệt, Đài Loan thực hiện chính sách giá điện của nông thôn và thành thị ngang nhau.
Nhờ những chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, môi trường đầu tư của khu vực
nông thôn trở nên hấp dẫn, giảm chi phí lưu thông, cho phép Đài Loan huy động các nguồn lực
thuận lợi hơn để phát triển các hoạt động CNNT, giúp các doanh nghiệp nông thôn (DNNT) tiếp
điều kiện nhập khẩu máy móc thiết bị cho các hoạt động sản xuất công nghiệp. Trong suốt thập kỷ
50 kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp chiếm trên 95% tổng kim ngạch xuất khẩu và duy trì trên
75% trong thập kỷ 60.
Nguồn nhân lực được tăng cường về chất lượng và số lượng
Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn của Đài Loan, phát triển nguồn nhân lực đóng
vai trò hàng đầu. Thời kỳ thuộc địa, người Nhật đã đầu tư phát triển hệ thống giáo dục tiểu học ở
khu vực nông thôn, sau đó, do chú ý đến tiềm năng phát triển công nghiệp ở Đài Loan, nên chuyển
hướng đầu tư phát triển hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo kỹ thuật hướng nghiệp. Giáo dục
nông thôn tiếp tục được duy trì và phát triển thời kỳ sau chiến tranh. Năm 1970, tỉ lệ biết chữ đạt
90%, và hơn 2/3 dân số nông nghiệp Đài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức. Đầu tư phát triển
giáo dục mạnh tạo ra cho Đài Loan một lực lượng lao động được đào tạo tốt, có tay nghề, nắm bắt
được khoa học kỹ thuật.
Ngoài ra Đài Loan còn tiếp nhận được "nguồn chất xám" rất lớn do luồng người đến tị nạn đến từ
Đại lục, trong đó có nhiều nhà công nghiệp có kỹ năng quản lý và kỹ thuật. Do có trình độ cao,
nên đội ngũ này có thể dễ dàng tiếp thu công nghệ mới, kiến thức kinh doanh, độc lập xử lý các
hợp đồng, giao dịch với các khách hàng nước ngoài. Chính đội ngũ trên đã tạo nên tầng lớp chủ
DNNT của Đài Loan khi bước vào giai đoạn công nghiệp hoá.
Công nghiệp nông thôn phát triển
Chính sách công nghiệp Đài Loan đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trong thập kỷ 50,
Đài Loan thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên sang thập kỷ 60, do sức mua của thị
trường nội địa nhỏ, hạn chế các ngành công nghiệp phát triển nên Đài Loan chuyển sang chiến
lược hướng ngoại. Trong cả hai thời kỳ này các chính sách kinh tế vĩ mô đều tạo thuận lợi cho
CNNT phát triển, cụ thể như:
Phát triển CNNT của Đài Loan có thể được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ thập kỷ
50 đến 70 và giai đoạn hai từ cuối thập kỷ 70 đầu 80 trở đi. Từ thập kỷ 50, Đài Loan tập trung
phát triển công nghiệp trải đều ở các vùng nông thôn, tận dụng lợi thế so sánh và đa dạng hoá của
nông nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu nông sản chế biến, từ các sản phẩm thô như đường,
chuối, chè....chuyển dần sang các sản phẩm chế biến đóng hộp như nấm, dứa, mã thầy. Cuối thập
Những năm 60, Đài Loan tăng mạnh xuất khẩu nông sản chế biến, chuyển hướng từ các sản
phẩm sơ chế sang các sản phẩm đóng hộp, tăng giá trị gia tăng. Đài Loan xuất khẩu mạnh các mặt
hàng như đường, đồ hộp (măng tây, nấm, mã thầy, hoa quả), thực phẩm đông lạnh, bột ngọt. Thập
kỷ 60, giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm đồ hộp tăng từ 10 triệu USD lên 83 triệu USD,
thực phẩm đông lạnh chế biến tăng lên 0,4 triệu USD.
Giai đoạn từ cuối thập kỷ 70 và đầu 80
Trong giai đoạn này có hai yếu tố làm các ngành công nghiệp xuất khẩu của Đài Loan gặp
nhiều khó khăn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản. Thứ nhất, giá nguyên liệu đầu vào và lao
động trong nước tăng làm cho các doanh nghiệp nội địa mất đi lợi thế lao động rẻ. Thứ hai, trên
thị trường quốc tế, áp lực cạnh tranh của các nước đang phát triển tăng lên. Kết quả là, Đài Loan
không còn xuất khẩu đường, và xuất khẩu đồ hộp giảm hơn một nửa. Để đối phó với tình hình
trên, Đài Loan một lần nữa thay đổi chiến lược phát triển, chuyển đổi từ các ngành công nghiệp sử
dụng nhiều lao động sang sử dụng nhiều vốn, áp dụng công nghệ mới. Các ngành CNNT của Đài
Loan chuyển dịch cơ cấu theo hai hướng chính:
Chuyển dịch cơ cấu từ chế biến nông sản sang các ngành công nghiệp nhẹ, điện tử, và các hoạt
động dịch vụ
Trong các ngành công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu, thực hiện chuyển dịch từ các sản phẩm
sơ chế sang tinh chế, chế biến trọn gói, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm tăng giá trị gia tăng. Đài
Loan chỉ xuất khẩu một vài sản phẩm chế biến có khả năng cạnh tranh cao như nấm hộp, măng
hộp, bột ngọt, còn các sản phẩm khác quay về phục vụ nhu cầu thị trường nội địa.
Cũng trong thập kỷ 80, Đài Loan thực hiện một số chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ ở nông thôn. Một hệ thống chính sách mới được ban hành phục vụ mục tiêu trên
Khuyến khích đầu tư
Cải thiện công nghệ quản lý
Biểu 3: Giá trị kim ngạch xuất khẩu
của ba khu chế xuất (tỷ USD)
Năm 1995, Đài Loan phát triển 95 cụm công nghiệp với diện tích 13003 ha và 3 khu chế xuất có
tổng diện tích 192 ha. Ba khu chế xuất có 235 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư là 1,26 tỷ USD.
Tính đến năm 1996 tổng kim ngạch xuất khẩu của các khu chế xuất đạt 56,15 tỷ USD, riêng năm
1996 kim ngạch xuất khẩu đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 18% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, thu hút
55 ngàn lao động.
sự phát triển kinh tế rực rỡ của Đài Loan thời gian qua có sự đóng góp rất lớn của phát triển nông
nghiệp. Trong suốt ba thập kỷ từ 50 đến 80, tăng trưởng nông nghiệp của Đài Loan luôn ở mức
trên 5%/năm tạo nên tiền đề vững chắc cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
Nhờ sự uyển chuyển về chiến lược phát triển và các chính sách hợp lý nên đã thúc đẩy CNNT phát
triển, đặc biệt đối với các ngành chế biến nông sản. Thu nhập trong các hoạt động công nghiệp
tăng lên đã thu hút một lực lượng lớn lao động ra khỏi các hoạt động nông nghiệp. Giai đoạn từ
thập kỷ 60 đến 70, tỷ lệ lao động nông thôn trong các hoạt động phi nông nghiệp của Đài Loan
tăng từ 35% lên 65%. Cũng trong cùng giai đoạn này, lao động trong nông nghiệp giảm từ 45%
xuống còn 29%. Nhờ lao động được rút bớt ra khỏi nông nghiệp nên sản xuất nông nghiệp có điều
kiện tăng năng xuất lao động, tăng quy mô sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân, và do đó tăng
tiết kiệm, tái đầu tư vào nông nghiệp và các hoạt động CNNT
3.2.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
-Xác định đúng môí quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong chương trình phát triển nông
thôn
-Cần đầu tư thích đáng cho khu vực nông nghiệp,nông thôn
-Áp dụng mô hình PRA,PLA Thay cho mô hình áp đặt từ trên xuống
-Phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên,môi trường
-Phát triển nông thôn gắn với xóa đói giảm nghèo ,nâng cao mức sống và thu nhập cho người dân
-Hướng tới sự phát triển nông thôn một cách bền vững
đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng giúp tăng tính liên kết và thông thương giữa các vùng,
tạo môi trường đầu tư ở khu vực nông thôn hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước
đầu tư vào khu vực nông thôn.
Khuyến khích và giúp nông dân tổ chức thành các nhóm hay hiệp hội như hình thức nông hội của
2)http://www.sonongnghiep.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/lists/posts/post.aspx?
Source=/tintuc&Category=TIN+PH%C3%81T+TRI%E1%BB%82N+N%C3%94NG+TH
%C3%94N&ItemID=2057&Mode=1
3) http://agro.gov.vn/news/chitiet_nghiencuu.aspx?id=62
4) http://ccptnt.com/Chitiet.aspx?id=758
5)http://www.fad.danang.gov.vn/default.aspx?
id_NgonNgu=VN&id_ThucDon_Sub=200&TinChinh=0&id_TinTuc=1639&TrangThai=BanT
in
6) http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=3778
7)
http://ebookbrowse.com/cnh-nong-thon-dai-loan-va-trung-quoc-bai-hoc-2006-10-4-15-10-54-
doc-d223774457
8)
http://www.doanhnhansaigon.vn/online/dien-dan-doanh-nhan/2009/07/1035828/thuc-trang-
chinh-sach-phat-trien-nong-thon-hien-nay/
9) Wu, Rong-I. 1997. History economic development in Taiwant. Taiwant institute of economic
research.
10) http://www.baomoi.com/Dai-Loan-but-pha-bang-cong-nghe-sinh-hoc/79/4592121.epi