LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa Quan Hệ Quốc Tế và chuyên nghành Kinh tế đối ngoại đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt, bồi dưỡng tri thức cho em trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường Đại học dân lập Đông Đô, đồng thời em cũng xin cảm ơn TS.Ngô Tất Tố,
cô Trần Thị Vân, cô Nguyễn Kim Phượng luôn bên dìu dắt chúng em trong quá
trình học tập tại trường.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TS.Phạm Thái
Quốc người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em từ khi hình thành ý tưởng cho
đến khi hoàn thành khóa luận này.
Vì thời gian có hạn và phạm vi nghiên cứu rộng cho nên em không trành khỏi
những thiếu sót trong khóa luận. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô và
các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Đỗ Thị Thủy
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Chữ viết tắt Tên tiếng anh
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asia
Nations,
2 APEC Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương
Asia-Pacific Economic
Cooperation
3 ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế Á – Âu Asia-Europe Meeting
4 CNH Công nghiệp hoá
5 HĐH Hiện đại hoá
6 EU Liên minh châu Âu European Union
7 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
nước đã và đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm xây dựng mô hình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiệu quả và phù hợp với Việt Nam.
Trung Quốc là một quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt
Nam về địa lý, lịch sử và chính trị - xã hội, đã tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước trong thời kì cải cách, mở cửa kinh tế với xuất phát điểm giống Việt
Nam như: sức sản xuất thấp, cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp…Và chỉ
trong một thời gian ngắn đã có những bước phát triển thần tốc, trở thành điểm sáng
về phát triển kinh tế trên thế giới.
Do vậy, nghiên cứu mô hình công nghiệp hoá cũng như các chính sách, các
bước đi trong thực hiện và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Trung Quốc sẽ giúp gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm cần thiết, có
ý nghĩa về cả lý luận lẫn thực tiễn để đẩy nhanh và thực hiện thắng lợi quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn và đi sâu nghiên
cứu đề tài: “ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam’’ cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
1
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Từ việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện về công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Trung Quốc, khoá luận rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam .
* Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Luận giải khoa học về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc khi cải
cách, mở cửa kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường.
- Hệ thống hoá các chính sách, chủ trương, biện pháp thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc.
- Từ thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc luận
văn nêu ra những thành công cũng như hạn chế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Trung Quốc.
- Đưa ra những gợi ý và định hướng vận dụng vào Việt Nam.
hóa tác động lên sự phát triển của các ngành khác, đồng thời chịu tác động từ công
nghiệp và tác động trở lại công nghiệp. CNH tạo nền tảng cho sự tăng trưởng kinh
tế nhanh, ổn định, có hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Cho đến này có rất nhiều quân niệm khác nhau về CNH do đặc thù cuả từng quốc
gia, và từng thời kỳ lịch sử khác nhau, có thể điểm qua một số quan niệm tiêu biểu
như sau:
Các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước kia cho rằng: CNH là quá trình
xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí, đặc biệt là ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy. Xét theo thời điểm lịch sử lúc đó, quan
niệm trên là tương đối hợp lý. Trong điều kiện hiện nay, do có nhiều sự thay đổi,
quan niệm về CNH nêu trên cần được bổ sung, hoàn chỉnh.
Các nhà kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển thì cho rằng CNH là đưa
một đặc tính công nghiệp vào cho một hoạt động nào đó, hoặc trang bị các nhà
máy, các loại hình công nghiệp cho một vùng, một quốc gia. Công nghiệp hóa bao
gồm việc phát triển công nghiệp. Công nghiệp phát triển sẽ kéo theo sự thay đổi cơ
cấu ngành từ Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ sang Công nghiệp – Nông
nghiệp – Dịch vụ và cuối cùng là Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển thì CNH được coi là một quá trình bao gồm
ba nội dung cơ bản: phát triển nền công nghiệp; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng
phục vụ nền công nghiệp đó; thiết lập một cơ chế hoạt động thích hợp cho hệ
thống công nghiệp. Quan niệm trên xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển
3
là cơ sở hạ tầng cũng như công tác quản lý chưa đáp ứng được một nền đại công
nghiệp có quy mô lớn.
Năm 1963, Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc đã đưa ra định
nghĩa “công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận
ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu
kinh tế đa ngành trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này
là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo
đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng
cố cơ cấu xã hội nhằm đạt tới một trình độ phát triển cao về khoa học công nghệ,
sự thịnh vượng kinh tế và công bằng xã hội. Cũng giống như CNH, HĐH ở các
nước khác nhau với những thời điểm khác nhau sẽ phải tiến hành dưới những hình
thức khác nhau để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Giữa CNH và HĐH trong nền kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, CNH ngày
nay được hiểu như một quá trình gắn liền với HĐH. Bản thân khái niệm CNH đã
bao hàm yêu cầu đạt tới trình độ phát triển kinh tế hiện đại nhất vào thời điểm tiến
hành nó. Tạo nhiều cơ hội hơn để rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia nhờ
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Tuy nhiên việc đạt tới
trình độ hiện đại cũng là thách thức khó vượt qua đối với quá trình CNH ở các
nước đi sau, vì nếu không bắt kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ thì sẽ
bị tụt hậu
Tóm lạ, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một quá trình phát triển cân
đối, hài hoà về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá nhằm đảm bảo sự phát triển
năng động, có hiệu quả và bền vững của nền kinh tế. CNH là một quá trình tất yếu
có tính lịch sự nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội trên cơ
sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành nghề với trình độ khoa học công
nghệ ngày càng cao. Dưới áp lực khách quan của toàn cầu hoá và vai trò động lực
của công nghiệp, mô hình và đặc trưng của CNH thay đổi nhanh chóng trong hai
thập kỷ gần đây. Cơ sở lý thuyết về CNH được ứng dụng thành công trong chính
sách phát triển của các quốc gia và thậm chí trên giác độ của các công ty, do cạnh
5
tranh ngày càng gay gắt buộc các nước phải tháo bỏ hàng rào bảo vệ và các hoạt
động kinh doanh theo đúng trật tự và quy luật cuộc chơi trên quy mô toàn cầu.
1.1.1.3. Các mô hình công nghiệp hóa trong lịch sử
Trong lịch sử tùy thuộc vào điều kiện cụ thể khác nhau của mỗi quốc gia sẽ
tạo ra mô hình công nghệ hóa tương ứng với nó. Cho đến nay lịch sử kinh tế thế
phát triển công nghiệp. Chính sách tỷ giá thường cố định hoặc xác lập trên cơ sở
nâng cao giá trị cho đồng tiền nội địa. Điều này thường đem lại lợi lớn cho các nhà
sản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng bán hàng trên thị trường nội địa. Ngoài ra, các
chính sách khác như: trợ giá qua sử dụng lãi suất thấp, nhà nước kiểm soát chính
sách giá cả, thương mại, ngoại thương… cũng được áp dụng tương đối phổ biến.
Mô hình CNH hướng về xuất khẩu. Mô hình này mang một số đặc trưng như
sau: Thứ nhất, thực hiện các chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng hoá nhằm
phát huy lợi thế so sánh, tham gia sâu rộng vào phân công lao động quốc tế, lấy
ngoại tệ từ xuất khẩu để nhập khẩu máy móc và kỹ thuật, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá. Thứ hai, khuyến khích thu hút các nguồn vốn
nước ngoài (gồm vốn ODA, vốn FDI và các nguồn vốn đầu tư gián tiếp khác) phục
vụ xuất khẩu. Thứ ba, là thành lập các đặc khu kinh tế, các khu chế xuất, các khu
mậu dịch tự do. Khi thực hiện CNH hướng về xuất khẩu, các nước chậm phát triển,
với nhiều quy định, thể chế lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, không thể mở cửa toàn
bộ nền kinh tế, không thể tăng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư ở
mọi nơi cùng một lúc. Họ phải thực hiện từng việc, từng bước.
Từ việc xem xét những yếu tố hợp lý của mỗi mô hình sẽ thúc đẩy quá trình
CNH, HĐH nhanh, có hiệu quả cao là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa lớn.
1.1.1.4. Tiêu chí công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Một số nghiên cứu quốc tế về tiêu chí công nghiệp hoá đều lấy GDP/ đầu
người làm chỉ tiêu đầu tiên, nhưng ở mức cao hơn (khoảng hơn 3.000 USD)
cùng với các chỉ tiêu khác, như: dân số thành phố, chất lượng cuộc sống, trình
độ phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ trong
tổng GDP.
Tiêu chí mới nhất của thời kỳ hậu công nghiệp hoá, quá độ chuyển sang kỷ
nguyên thông tin - nền kinh tế tri thức là:
1, Trên 70% tổng sản phẩm trong nước (GDP) là do các ngành sản xuất và
dịch vụ ứng dụng công nghiệp công nghệ cao làm ra.
2, Trong cơ cấu làm ra giá trị gia tăng thì lao động trí óc chiếm trên 70%.
7
điện báo, tàu thuỷ
1890-1935
Ôtô, xe vận tài, công nghiệp
hoá chất, gia công kim loại
Điện tử, kỹ thuật máy bay, vận
tải đường không
1935-1985
Điện lực, dầu lửa, hàng không,
truyền hình
Kỹ thuật hạt nhân, máy tính,
viến thông, khí gaz
1985-2040
Khí đốt, hạt nhân, viễn thông,
vệ tinh, công nghệ thông tin
Công nghệ sinh học, trí tuệ
nhân tạo, thông tin và vũ trụ
Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc năm 2006
1.1.2. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kì cải cách,
8
mở cửa kinh tế của Trung Quốc
1.1.2.1. Quan điểm của Trung Quốc về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trung Quốc thường dùng thuật ngữ “hiện đại hóa” chứ ít dùng thuật ngữ
“công nghiệp hóa”. Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau và thực hiện các
chương trình phát triển kinh tế như: “ phấn đấu xây dựng nước ta thành một nước
XHCN giàu mạnh, dân chủ, văn minh” (văn kiện Đại hội Đảng XIII, XIV),
chương trình “ba cải một hóa” những năm 1950, chương trình “bốn hiện đại hóa”
(công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kĩ thuật, quốc phòng) vào cuối những năm
1970, hội nghị công nghiệp và giao thông vận tải Thiên Tân năm 1981 với “sáu ưu
tiên cho công nghiệp nhẹ” nhưng về thực chất đó là những nội dung cơ bản của
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nội dung ngày càng hoàn
đưa ra là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa được kết hợp đồng thời với quá
trình tri thức hóa kinh tế, đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa vận dụng triệt để mọi
thành tựu khoa học công nghệ mới nhất, là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nâng cao
hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thị trường, là công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đi theo con đường phát triển bền vững, là công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể
phát huy ưu thế về nguồn nhân lực của Trung Quốc. Đây là quyết sách quan trọng
nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện công nghệ thông tin
phát triển mạnh, nền kinh tế tri thức đang hình thành trên thế giới.
Cách thức thực hiện chiến lược công nghiệp hoá mới:
Thứ nhất, phải dựa vào khoa học kỹ thuật. Trước hết là phải phát triển công
nghệ thông tin: Tin học hoá là sự lựa chọn tất yếu để Trung Quốc nhanh chóng
thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, kiểu mới với hàm lượng khoa học kỹ
thuật cao, hiệu quả kinh tế tốt, tiêu hao tài nguyên thấp, ô nhiễm môi trường
giảm theo đúng quan niệm của thế giới về CNH
Bước vào thế kỷ XXI, nhận thức được tầm quan trọng của khoa học công
nghệ đối với phát triển kinh tế, an ninh và môi trường, Trung Quốc rất coi trọng
phát triển khoa học công nghệ. Chính vì vậy giới lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra
nguyên tắc cơ bản là: "xây dựng kinh tế phải dựa vào khoa học và công nghệ-khoa
học và công nghệ phải hướng vào phục vụ xây dựng kinh tế". Thu hút mạnh mẽ và
10
phổ biến các công nghệ tiến bộ mới và thích hợp của thế giới nhằm đẩy nhanh cải
tạo kỹ thuật trong mọi ngành của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện chiến lược phát triển bền vững. “đặt phát triển bền vững vào vị trí
nổi bật”, “gắn sinh đẻ có kế hoạch vào bảo vệ môi trường”; bảo vệ và khai thác
hợp lý và tiết kiệm sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; xây dựng ý thức bảo
vệ môi trường cho toàn dân, làm tốt việc bảo vệ và xây dựng môi trường sinh thái.
Khi đề cập đến việc "xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc"
với nhiều nhân tố đã được định hình từ lâu trong xã hội Trung Quốc. Nhưng đến Đại
hội XVI điều này mới được bàn đến một cách rõ ràng, cụ thể hơn, điều này cũng cho
chúng ta thấy việc xây dựng mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang đậm sắc
những nội dung sau đây:
Sau nhiều năm tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá
tập trung cao độ với nhiều hạn chế ràng buộc, chuyển sang kinh tế thị trường, thực
hiện các nhiệm vụ cơ bản của công nghiệp hoá theo các bước đi tuần tự, Trung
Quốc đã có những thay đổi lớn - có thể coi là những đột phá vè lý luận. Những đột
phá này là cơ sở cho những cải cách mới mẻ, mạnh bạo và được thấy rõ trong các
báo cáo chính trị của các Đại hội XIII, Đại hội XIV và đặc biệt được phản ánh tập
trung trong báo cáo chính trị Đại hội XV, XVI Đảng cộng sản Trung Quốc. Những
đột phá này được thể hiện ở những nội dung mới trong một loạt vấn đề như:
Lý luận về giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội mang mầu
sắc Trung Quốc.
Lý luận về chế độ sở hữu và hình thức thực hiện chế độ sở hữu.
Lý luận về chế độ cổ phần và chế độ hợp tác cổ phần.
Lý luận về phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất.
Lý luận về công nhân viên chức rời cương vị và tái tạo việc làm.
Các quan niệm truyền thống không phù hợp đều bị xoá bỏ và được thay bằng
những quan niệm mới, phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế ở Trung Quốc.
Các quan niệm mới thích ứng các yêu cầu của cải cách và phát triển, do vậy đã góp
phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá ở Trung Quốc tiến triển nhanh hơn.
Dựa trên những lý luận và nội dung đã được đề cập trong Văn kiện đại hội
12
XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, có thể khẳng định mô hình công nghiệp hoá mà
Trung Quốc đã và đang theo đuổi là một mô hình mới mẻ, độc đáo, chưa có tiền lệ.
Đó là sự kết hợp các lợi thế sẵn có để sử dụng các nguồn lực bên trong và bên
ngoài, kết hợp giữa các chiến lược thay thế nhập khẩu (đáp ứng các nhu cầu khổng
lồ của thị trường trong nước) và hướng về xuất khẩu (ở các khu ven biển, các khu
vực biên giới), giữa khai thác thị trường trong nước và thị trường quốc tế, giữa
công nghiệp hoá đô thị và công nghiệp hoá nông thôn. Tính mới mẻ, độc đáo, tính
chưa có tiền lệ còn được thể hiện ở công cuộc công nghiệp hoá trong một đất nước
Trung Quốc đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
bộc lộ nhiều hạn chế. Năm 1952 chỉ có 55 loại vật tư do Nhà nước thống nhất phân
phối đến năm 1957 lên tới 231 loại. Hơn nữa phong trào “ba ngọn cờ hồng’’, đặc
biệt là cuộc “ đại cách mạng văn hoá vô sản’’ đã gây ra hàng loạt sự biến động tiêu
cực trong phát triển kinh tế -xã hội: sản xuất đình đốn, nạn thất nghiệp gia tăng và
nạn đói tràn lan. Các cơ quan nghiên cứu và trường học rơi vào tình trạng rối loạn
và lạc hậu vì bị cô lập trong “cách mạng văn hoá’’ làm cho nền kinh tế bị suy sụp
nặng nề, xã hội rối loạn đẩy đất nước đến bờ vực thẳm.
Năm 1976, thu nhập quốc dân, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp giảm so
với trước lần lượt là -2,7% ; -2,4% ; -0,4% so với năm trước. Thu nhập bình quân
đầu người (tính theo sức mua tương đương) năm 1978 của nhóm các nước có thu
nhập thấp trên thế giới cao hơn gấp 1,9 lần của nhóm các nước có thu nhập trung
bình thấp cao gấp 3,5 lần, của nhóm các nước có trung bình cao vừa phải cao gấp
9,2 lần, và của nhóm nước có thu nhập cao gấp 24,1 lần Trung Quốc
Nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội thời kỳ này là do
Trung Quốc áp dụng thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung không phù hợp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất, không coi trọng quy luật kinh tế khách
quan. Thêm vào đó việc hạn chế quan hệ kinh tế với nước ngoài trong một thời
gian dài, không muốn học tập kinh nghiệm hiện đại hoá của nước ngoài, do vậy
đã bỏ lỡ nhiều cơ hội khi làn sóng khoa học kỹ thuật phát triển sôi động vào
những năm 1960 và 1970 khiến cho Trung Quốc càng tụt hậu hơn so với nhiều
nước trên thế giới.
1.2.1.2. Tình hình thế giới
14
Trong những năm 1960 và 1970, nhìn chung kinh tế các nước tư bản đã bước
vào thời kỳ phát triển tương đối ổn định. Mặc dù các nước này chưa hoàn toàn
tránh khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế, song vẫn có tiềm lực lớn để phát triển
sản xuất và không ngừng nâng cao năng suất lao động. Cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật đã đem lại những thành tựu khả quan cho sự tăng trưởng kinh tế của các
nước tư bản chủ nghĩa thời gian này.
Điều đáng kể là ở một số nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á và Đông
tấn, dầu mỏ và khí đốt trữ lượng lớn tập trung ở vùng Hoa Bắc và Tân Cương, các
sông có tiềm năng thủy điện lớn khoảng 380 triệu KW. Kim loại đen có quặng sắt
trữ lượng 40 tỉ tấn, kim loại màu có đồng, chì, kẽm và nhiều loại quý hiếm khác,
ngoài ra còn nhiều mỏ phi kim loại và vật liệu xây dựng. Điều kiện tự nhiên của
Trung Quốc có nhiều thuận lợi với phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp.
Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên là yếu tố quan trọng liên
quan đến các nguồn lực đầu vào cho sản xuất và đặc biệt là thị trường nội địa
khổng lồ - cơ sở để có thể phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngành hướng nội trong
quá trình công nghiệp hoá.
1.2.2.2.Điều kiện về cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ
Cho đến đầu thập kỷ 80, Trung Quốc đã có 30 năm thực hiện công nghiệp hoá
theo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, 30 năm này đã đem lại những thành
tựu nhất định, tạo cơ sở cho các bước đi tiếp theo, ví dụ theo thống kê năm 1980,
Trung Quốc có 22 thành phố lớn trên 1 triệu dân, 14 hải cảng quốc tế lớn, 77 sân
bay với 12 tuyến hàng không quốc tế, 50000 km đường xe lửa, 876.000 km đường
bộ tốt, 200 công trình công nghiệp nặng do Liên Xô và các nước XHCN viện
trợ . Đồng thời, nhìn lại chặng đường đã qua, Trung Quốc có thể đúc kết cho
mình những kinh nghiệm quý, những điều cần làm, những điều cần tránh trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới.
1.2.2.3. Điều kiện về vốn
Từ năm 1949 Trung Quốc đã thay đổi căn bản cục diện phân phối của cải,
do đó tỉ lệ tích lũy đã nâng cao dần, từ 20% đến 33% vào những năm 90. Ngoài ra,
người Trung Hoa từ xưa đã có thói quen tiết kiệm, đó cũng là một nguyên nhân
đảm bảo để tích lũy cao. Trung Quốc cũng tích lũy được khối lượng tài sản cố định
16
khổng lồ. Từ 1951 đến 1990 Trung Quốc đã tích lũy tài sản cố định khoảng 5500 tỉ
NDT, từ 1991 đến 2000 khoảng 6700 tỉ NDT, từ 2000 đến 2010 khoảng 15000 tỉ
NDT. Điều này làm thay đổi cơ cấu thiết bị hạ tầng của Trung Quốc.
Trung Quốc có Hồng Công, Ma Cao, Đài Loan là những vùng lãnh thổ khá
phát triển, có quan hệ chặt chẽ với đại lục.
tương đối cao, phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Chuyển nền văn hoá giáo dục, khoa học kỹ thuật lạc hậu, chiếm tỷ trọng lớn
sang nền văn hoá giáo dục khoa học kỹ thuật tương đối phát triển.
Chuyển đa số dân nghèo đói, mức sống tương đối thấp sang xây dựng toàn
diện xã hội khá giả ở trình độ cao hơn.
Từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế, văn hoá giữa các khu
vực thông qua sự phát triển có thứ tự.
Xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa và các thể
chế khác.
Từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch với trình độ tiên tiến trên thế giới.
Nguồn: Đỗ Tiến Sâm (2006), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 (67)
1.3.3. Các bước đi trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Quá trình công nghiệp hoá như dự kiến sẽ cơ bản được thực hiện vào năm
2020 với nhiều bước đi, cụ thể là:
Bước 1: Trong 10 năm (1980-1990): Mục tiêu đặt ra là đến năm 1990 tăng
gấp đôi GDP so với mức năm 1980, đồng thời giải quyết về cơ bản vấn đề ăn no
mặc ấm cho dân (mục tiêu này đã đạt được)
Bước 2: từ năm 1990 đến 2000: Mục tiêu đặt ra cho bước này là đến năm
2000 tăng gấp đôi GDP so với mức năm 1990, phấn đấu đời sống nhân dân đạt
mức khá giả (năm 2000, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đạt 840 USD).
Bước 3: từ năm 2000 đến năm 2020, với mục tiêu là đến năm 2020 tăng GDP
gấp 4 lần mức năm 2000. Trong đó lại chia thành 2 bước cụ thể:
Từ năm 2000 đến năm 2010: mục tiêu đến năm 2010 tăng gấp đôi GDP so
với mức năm 2000, đưa cuộc sống của cư dân từ khá giả vươn lên mức sung túc,
hình thành được thể chế kinh tế thực hiện tương đối hoàn chỉnh.
Từ năm 2010 đến năm 2020: Mục tiêu làm cho nền kinh tế quốc dân càng
18
phát triển, các chế độ được hoàn thiện hơn. Mục tiêu xây dựng thành công một
nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ và văn minh, tức hoàn thành về cơ bản
quá trình công nghiệp hoá.
Quốc đã thay đổi đáng kể về cơ cấu ngành, tương đối hoàn thiện .
Bảng 2.1 : Tỉ trọng các ngành trong thu nhập quốc dân thời kì 1949 – 1978
Ngành / Năm 1949 (%) 1978 (%)
Công nghiệp 12,6 46,8
Nông nghiệp 68,4 35,4
Xây dựng 0,3 4,1
Giao thông vận tải 3,3 3,9
Thương mại 15,4 9,8
Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc 1978
Mặc dù có tốc độ tăng trưởng khá cao song không phản ánh thực tế sự phát
triển của đất nước. Cơ cấu ngành thiên về sản xuất tư liệu sản xuất, ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng, gây nên tình trạng khó khăn và kém hiệu quả, lạc hậu
trong sản xuất, đời sống nhân dân gấp nhiều khó khăn.
Vào cuối những năm 70, nền kinh tế Trung Quốc gần như rơi vào hỗn loạn,
Đảng Cộng Sản và nhân dân Trung Quốc đã tìm mọi cách để thoát khỏi tình trạng
đó với chủ trương “4 hiện đại hóa” do Thủ tướng Chu Ân Lai đưa ra. Nhưng không
phù hợp với nền kinh tế trong giai đoạn đó làm cho cơ cấu nền kinh tế không có
chuyển biến gì mới mẻ, mà ngược lại đẩy Trung Quốc có nguy cơ rơi vào cuộc
phiêu lưu mới
20
2.1.1.2. Các chính sách cơ bản của Trung Quốc nhằm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại
Từ sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI năm 1978, Trung Quốc mới thực sự
chuyển thứ tự ưu tiên phát triển từ “công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ – nông
nghiệp” sang thứ tự “nông nghiệp – công nghiệp nhẹ – công nghiệp nặng”.
Để hiện đại hóa cơ cấu kinh tế Trung Quốc đưa ra một số chủ trương sau:
Tăng cường việc lấy nông nghiệp làm cơ sở cho nền kinh tế quốc dân, tiếp tục
hoàn thiện chính sách khoán hộ và ruộng đất, thúc đẩy việc cải tạo kỹ thuật trong
nông nghiệp, tăng đầu tư cho nông nghiệp sớm đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn,
hiện đại hóa, phù hợp với đặc điểm của nông thôn Trung Quốc.