TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Môn học
KINH TẾ PHÁT TRIỂN 2
ĐỀ TÀI
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA HÀN QUỐC VÀ
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Lớp:
QH 2011 – E KTPT - LK
Hà Nội, 5/2014
i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1.................................................................................................................. 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA.........................2
CHƯƠNG 2................................................................................................................ 16
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA HÀN QUỐC.........................................16
CHƯƠNG 3................................................................................................................ 45
MÔT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM..........................................45
KẾT LUẬN................................................................................................................. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................... 60
trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Khái niệm công nghiệp hóa và hiện đại hóa
1.1.1. Công nghiệp hoá
Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quá trình
phát triển kinh tế của các quốc gia. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy công nghiệp
hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng.
Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên sẽ dẫn đến những
chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từng nước, thậm chí đối
với một quốc gia trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Điều đó được thể hiện
khá rõ ở sự đa dạng trong việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
các nước trên thế giới.
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra
định nghĩa sau đây (vào năm 1963): "Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển
kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc
dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ
thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn
thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo
đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến
bộ về kinh tế - xã hội".
Một định nghĩa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay có ý nghĩa tương
đối bao quát và phù hợp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngày nay
thức công nghiệp hoá phù hợp. Nhưng mục tiêu chung nhất của mọi quốc gia là
nhằm tăng nhanh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất mọi mặt
của mọi tầng lớp dân cư thông qua việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng
hiện đại, huy động và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước.
● Thứ hai, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong lịch sử
công nghiệp hoá đã diễn ra hàng trăm năm ở các nước trên thế giới, công nghiệp
hoá và hiện đại hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì hiện đại hoá để
đạt tới trình độ kỹ thuật hiện đại nhất là một yêu cầu cơ bản của quá trình công
nghiệp hoá. Thực tễ kỹ thuật hiện đại nhất đối với mỗi giai đoạn lịch sử có giới
hạn nhất định và luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chính vì vậy, hiện đại hoá
không phải là một quá trình độc lập mà là một hoạt động có tính liên tục của
công nghiệp hoá gắn liền với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hay là một quá
trình kế tiếp để đạt được mục tiêu của công nghiệp hoá.
● Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình tác động đến tất cả
các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nền kinh tế. Vì trong một chỉnh thể
kinh tế của một quốc gia, các ngành các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội có
quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Sự thay đổi ở ngành, lĩnh vực này
sẽ dẫn tới sự thay đổi ở các ngành, các lĩnh vực khác. Quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và
cơ cấu lao động. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển dịch cơ
3
cấu làm cho vị trí của ba khu vực kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
luôn luôn thay đổi.
- Nông nghiệp giữ vị trí quan trọng nhất vì nó tạo ra lương thực, thực
phẩm nuôi sống con người hàng ngày và những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu
nhất. Đồng thời nông nghiệp cũng tạo ra những điều kiện tiền để quan trọng ban
đầu cho phát triển công nghiệp. Đến khi nhu cầu cơ bản của người dân cư được
gia là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu ảnh hưởng của biến động
4
kinh tế thế giới và có tác động ở mức độ khác nhau đến kinh tế của các nước
khác.
Ngày nay, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong khai thác các nguồn
lực tự nhiên để phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế, các nước
cần kết hợp giữa việc sử dụng có hiệu quả với việc tiết kiệm, bảo tồn và tái tạo
chúng. Do vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đạt được mục tiêu tăng
trưởng nhanh trong phát triển kinh tế, nhưng nó phải gắn với sự bền vững trong
phát triển. Điều đó được hiểu trên các giác độ kinh tế - kỹ thuật - xã hội - môi
trường.
Từ những phân tích trên đây có thể tóm tắt: Công nghiệp hoá và hiện đại
hoá gắn kết chặt chẽ trong một quá trình lịch sử tất yếu khách quan nhằm tạo nên
những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước, không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở khai thác và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế đất nước, xây dựng cơ cấu kinh tế đa dạng
với khu vực công nghiệp là then chốt và trình độ khoa học - công nghệ ngày càng
hiện đại, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác và hội nhập kinh tế
quốc tế.
1.3. Các mô hình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở các nước đang phát
triển
1.3.1. Mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (chiến lược hướng nội)
● Mục tiêu của chiến lược thay thế nhập khẩu
Các nước đang phát triển trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá theo chiến lược thay thế nhập khẩu, do điều kiện kinh tế - xã hội của
mình và những tác động khách quan của điều kiện kinh tế quốc tế, nên việc xác
định mục tiêu cụ thể trong chiến lược này có những điểm khác nhau. Tuy vậy, về
vào sản xuất hoặc cung cấp công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý. Trong quá trình ấy,
những chính sách như cố định tỷ giá đồng nội tệ thường được giữ ở mức cao để
khuyến khích thay thế nhập khẩu; mức lãi suất rất thấp và bao cấp rộng rãi cho
các doanh nghiệp nhà nước; nhà nước kiểm soát giá cả và thương mại, đặc biệt là
ngoại thương chặt chẽ.
Nhìn chung, hầu hết các nước khi theo đuổi mô hình công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu đều chú trọng nhiều đến việc xây dựng hệ thống các doanh nghiệp
nhà nước. Do vậy, trong thời kỳ công nghiệp theo hướng thay thế nhập khẩu, khu
vực kinh tế quốc doanh đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước đang phát triển. Từ
thực tế các nước đang phát triển vào thập kỷ 50, 60 cho thấy, chính sách bảo hộ
sản xuất và thị trường trong nước tiến triển qua ba giai đoạn:
+ thứ nhất, bảo hộ với cường độ cao để khuyến khích sản xuất và tiêu
dùng trong nước;
+ thứ hai, giảm dần mức độ bảo hộ, yêu cầu các doanh nghiệp trong nước
vươn lên hạ giá thành, nâng cao chất lượng hàng hoá;
+ thứ ba, các doanh nghiệp trong nước khống chế được thị trường trong
nước và vươn ra thâm nhập thị trường quốc tế.
● Kết quả và hạn chế của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu
Việc thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu đã đem lại sự mở mang nhất
định các cơ sở sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, quá trình đô thị hóa bắt đầu.
Chính sách khuyến khích công nghiệp trong nước có tác dụng mở rộng và tăng
cường phát triển các doanh nghiệp cũng như đội ngũ doanh nhân dân tộc trong
công thương nghiệp.Tuy vậy, thực tế cho thấy nếu dừng lại quá lâu ở giai đoạn
chiến lược thay thế nhập khẩu sẽ vấp phải những trở ngại rất lớn. Trong xu
hướng quốc tế hoá và khu vực hoá kinh tế ngày càng tăng lên dẫn đến sự liên hệ
và tuỳ thuộc tất yếu giữa các quốc gia trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng
hoá. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật đang
trở thành yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế và tự bản thân nó đã phá
vỡ các mối quan hệ đóng cửa giữa các quốc gia. Tâm lý nóng vội chủ quan của
các nước đang phát triển đã dẫn đến thực tế là việc xây dựng và phát triển những
Thứ năm, mô hình công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu thực chất là
nhằm vào thoả mãn nhu cầu trong nước là chính, chú trọng nhiều đến tỷ lệ tự cấp
của thị trường nội địa. Với chiến lược như vậy, thương mại quốc tế không được
coi trọng, không tận dụng được ảnh hưởng tích cực của kinh tế thế giới đối với
sự phát triển kinh tế trong nước. Điều đó tất sẽ hạn chế việc khai thác tiềm năng
của đất nước trong việc phát triển thương mại và các quan hệ kinh tế đối ngoại
khác.
Thứ sáu, kinh tế của các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu công
nghiệp hoá có nhiều khó khăn, tổng cầu vượt quá tổng cung và thường thông qua
nhập khẩu để cân bằng. Xu hướng này không thể khắc phục được trong thời gian
ngắn, nếu hạn chế quá mức nhập khẩu. Việc thực hiện chính sách bảo hộ không
thích hợp sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
8
1.3.2. Mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (chiến lược hướng
ngoại)
Từ cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 một số quốc gia đang phát triển do
nhận thức sớm về vai trò tác động của kinh tế thị trường đã nhanh chóng chuyển
đổi chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do vậy, chiến lược công nghiệp
hoá hướng về xuất khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển trong
mấy thập kỷ gần đây.
● Mục tiêu của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu
- Mục tiêu cơ bản của chiến lược là dựa vào đầu tư trực tiếp cũng như sự
hỗ trợ về vốn, kỹ thuật bên ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh và đẩy nhanh
xuất khẩu. Nhân tố then chốt trong toàn bộ quá trình này là chính phủ sở tại tạo
những điều kiện tốt nhất để hấp dẫn đầu tư trực tiếp của tư bản nước ngoài, đồng
thời tiến hành những cải cách kinh tế trong nước tạo môi trường thuận lợi cho
vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả hơn
+ Thành lập các khu vực kinh tế đặc biệt dưới nhiều tên gọi khác nhau
như đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do.
+ Thực hiện tự do hoá nhập khẩu đồng thời với cải cách tỷ giá.
+ Thu hút công nghiệp nước ngoài và phát triển khoa học - kỹ thuật phục
vụ cho xuất khẩu.
- Kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu
Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu là chiến lược đòi hỏi sự kết hợp của
cả bảo hộ sản xuất trong nước với trợ cấp xuất khẩu như trợ cấp tín dụng xuất
khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với các ngành sản xuất hàng xuất khẩu hoặc liên
quan đến xuất khẩu, cho phép sử dụng những khoản thu được nhờ xuất khẩu để
nhập khẩu, miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ có liên
quan tới xuất khẩu, tìm hiểu thị trường nước ngoài cho các nhà sản xuất hàng
xuất khẩu.
- Khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Công nghiệp hoá theo hướng xuất khẩu ở nhiều nước đang phát triển trong
mấy thập kỷ qua có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các loại hình doanh nghiệp này với vốn đầu tư không lớn, có những khả năng tạo
ra nhiều việc làm với chi phí thấp, sản xuất kinh doanh đa dạng, dễ thích ứng với
sự biến động của thị trường và những thay đổi của công nghệ. Nó có khả năng
phát huy nguồn lực tại chỗ để phát triển những ngành nghề truyền thống, đồng
thời góp phần cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.
● Kết quả và hạn chế
Cho đến nay chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu về cơ bản đã
đem lại nhiều thay đổi to lớn ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, cần phải
nhấn mạnh rằng, chỉ riêng khuynh hướng ngoại không bao giờ đủ để đem lại
thànhcông kinh tế của bất kỳ quốc gia đang phát triển nào. Nhưng nếu hướng
ngoại là xu hướng bao trùm trong mọi ngành kinh tế quốc dân thì nó đòi hỏi một
loạt những chính sách quản lý, điều tiết, nền kinh tế vĩ mô toàn diện. Hệ thống
những chính sách đúng đắn, kịp thời trên thực tếđã đem lại sự ổn định và tính
như một chỉnh thể thống nhất nhưng lại chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Thực tế cho
thấy, cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường quốc tế đòi hỏi các nước đang
phát triển phải điều chỉnh chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xu hướng
chung ngày nay nhiều nước đang quan tâm lựa chọn mô hình công nghiệp hoá
bền vững theo hướng hội nhập quốc tế.
● Mục tiêu của chiến lược công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội
nhập
- Phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia trên cơ sở khai thác tối đa
nguồn lực trong và ngoài nước để đạt tăng trưởng kinh tế cao;
11
- Gắn tăng trưởng kinh tế với sự bền vững trong phát triển: vừa hướng
mạnh ra thị trường thế giới, vừa coi trọng thị trường trong nước. Không để tình
trạng doanh nghiệp trong nước thua trận ngay trên sân nhà;
- Công nghiệp hoá không chỉ hướng về xuất khẩu mà còn theo hướng hội
nhập khu vực và thế giới với việc tham gia sâu rộng vào các tổ chức kinh tế khu
vực và quốc tế (APEC, WTO, NAFTA, AFTA…)
● Chính sách và biện pháp triển khai chiến lược công nghiệp hoá bền
vững theo hướng hội nhập
Nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá bền vững theo hướng
hội nhập là kết hợp hài hoà giữa hướng về xuất khẩu với thay thế nhập khẩu.
Chiến lược này là vừa đẩy mạnh vươn ra thị trường quốc tế nhưng vẫn coi trọng
thị trường trong nước. Trong khi tăng cường phát huy lợi thế so sánh về các mặt
hàng nông sản, nguyên liệu sơ chế, sản phẩm trung gian dựa vào nguồn lao động
dồi dào, đồng thời lấy các yêu cầu của thị trường quốc tế làm hướng phát triển
các ngành sản xuất trong nước. Hiện nay, các nước đang phát triển muốn tăng
trưởng nhanh cần có sự bổ sung những nhân tố bên ngoài để kết hợp với những
nhân tố sẵn có bên trong nhằm đạt hiệu quả cao xét cả về mặt kinh tế và xã hội.
Cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập phải có tính linh hoạt cao, có khả
năng thích ứng và đổi mới nhanh chóng. Một cơ cấu đông cứng, tĩnh tại là không
thích hợp. Vì vậy, cùng với những biện pháp hướng mạnh về xuất khẩu, cần
đồng thời thực hiện một số biện pháp thay thế nhập khẩu cần thiết để nuôi dưỡng
và vực dạy các ngành công nghiệp non trẻ của đất nước, tranh thủ những cơ hội
và khả năng có lợi của thị trường trong nước.
- Xây dựng thể chế kinh tế thị trường và hệ thống pháp luật phù hợp với thông
lệ quốc tế.
Những tổ chức kinh tế quốc tế mà các nước đang phát triển tham gia đều
là những tổ chức đã được thành lập từ trước gắn với những thể chế đã được thoả
thuận. Do vậy, các nước đang phát triển khi thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá bền vững theo hướng hội nhập phải đổi mới thể chế của mình cho phù hợp
với thông lệ quốc tế.
- Chú trọng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá trong
điều kiện hội nhập quốc tế.
Nguồn lực con người (Manpower) hay nguồn nhân lực (Human resouses)
là cái quyết định biến các tiềm năng của tự nhiên thành của cải phục vụ cho xã
hội. Đây là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định sự thành bại của mô hình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá vì muốn làm chủ được quá trình này các nước đang phát
triển phải có một nguồn lực được đào tạo có chất lượng cao. Đội ngũ nhân lực
này bao gồm những người hiểu biết tốt hơn về công nghệ và kỹ năng quản lý, và
những người có tay nghề cao. Thực tế cho thấy, không thể nói đế công nghiệp
hoá, hiện đại hoá một đất nước trong thời đại khoa học kỹ thuật mà lại thiếu
nguồn lực con người tương xứng. Do vậy, về chính sách của nhà nước cần:
Coi giáo dục đào tạo là phương tiện chủ yếu quyết định chất lượng
của nguồn nhân lực. Chính sách giáo dục phải định hướng vào các mục
tiêu kinh tế - xã hội, kỹ thuật, nhân văn, chính trị và phát triển năng lực
bản thân con người.
13
Thực tế cho thấy, chiến lược công nghiệp háo bền vững theo hướng hội
nhập phần nào khắc phục những lệch lạc và thái quá trong phát triển, tạo lập một
cơ chế phát triển cân đối hơn, năng động hơn với việc mở rộng liên kết quốc tế
và khu vực mạnh hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn. Trên cơ sở đó, nền kinh tế của
các quốc gia sẽ khắc phục được những tác động tiêu cực trong công nghiệp hoá
mà các mô hình trước phải trả giá.Tuy nhiên, khi thực hiện mô hình công nghiệp
hoá bền vững theo hướng hội nhập, các nước sẽ gặp phải những khó khăn mới và
cũng là thách thức trong phát triển.
14
Thứ nhất, để đảm bảo phát triển bền vững, các nước nhiều khi phải chấp
nhận giảm nhịp độ tăng trương kinh tế, trong khi phải không ngừng tăng phúc lợi
xã hội và đầu tư bảo vệ môi trường. Như vậy, vấn đề việc làm, đời sống, đầu tư
cho phát triển sẽ bị hạn chế.
Thứ hai, nền kinh tế các nước đang phát triển còn ở điểm xuất phát thấp,
việc hội nhập quốc tế bên cạnh những thuận lợi, thì chiến lược hỗn hợp sẽ gặp
phải những khó khăn mới. Trong quá trình tự do hoá thương mại và tự do hóa
đầu tư, nền công nghiệp non trẻ của các nước sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt
hơn, cạnh tranh không không cân sắc với các doanh nghiệp đã lớn mạnh từ bên
ngoài. Bên cạnh đó, còn kéo theo sự lệ thuộc nhiều hơn về vốn, công nghệ và thị
trường vào các nước đang phát triển. Thực tế cho thấy, sự lệ thuộc về kinh tế
nhiều khi sẽ dẫn đến lệ thuộc về chính trị, làm ảnh hưởng đến chủ quyền an ninh
quốc gia.
Việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập
đang là vấn đề mới trong giai đoạn thử nghiệm và định hình. Điều chắc chắn
trong quá trình triển khai sẽ phát sinh những hạn chế mới. Đây là những vấn đề
mà các nước cần nắm bắt để điều chỉnh, khắc phục để đạt được mục tiêu của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước mình.
phẩm hàng chế biến, chế tạo. 75% số hàng nhập khẩu của Hàn Quốc vẫn là hàng
tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hay còn thiếu.
Khi theo đuôi chiến lược công nghiệp hoá hướng nội, nhà nước đã thi
hành hàng loạt biện pháp bảo hộ thị trường nội địa để hỗ trợ cho nền công nghiệp
non trẻ. Trong lĩnh vực tiền tệ, từ 1953-1962, đồng ngoại tệ luôn giữ tỷ giá cao
so với đồng Won của Hàn Quốc. Chính phủ còn sử dụng cả biểu thuế cao và hạn
chế số lượng nhập khẩu để bảo vệ thị trường trong nước và khuyến khích thay
thế nhập khẩu, hệ thống giấy phép nhập khẩu đã được áp dụng. Tuy đã có một số
biện pháp giúp một số ngành công nghiệp trong nước tiến hành xuất khẩu, nhưng
về cơ bản những biện pháp hướng nội vẫn là chủ yếu.
16
Mặc dù nền kinh tế đất nước đang đứng trước nhiều khó khăn, nhà nước
sớm ý thức được vai trò của giáo dục đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực.
Nhà nước đã thi hành phổ cập giáo dục trong toàn dân. Từ 1952-1956 tiền chi
cho giáo dục tạo gần 100 triệu USD rút ra từ tiền viện trợ. Số tiền chính phủ chi
cho giáo dục cũng tăng rất nhanh qua các năm, năm 1954 và 375 triệu Won, năm
1957 là 3217 triệu Won, năm 1960 là 6237 triệu Won(giá cuối thập kỷ 80), so
với chi ngân sách nhà nước thì chi phí này lần lượt đạt mức 4%, 9,2% và 14,9%.
Việc huy động sự đóng góp của các gia đình cho giáo dục đào tạo chiếm tới 2/3
tổng chi phí trực tiếp cho giáo dục. Thành tựu đạt được trong giáo dục đào tạo
mang ý nghĩa chính trị nhiều hơn, còn tác động trực tiếp đến sản xuất vẫn còn
hạn chế.
Nhìn chung trong giai đoạn (1953-1962), kết quả đạt được khi công
nghiệp hoá hướng nội còn ở mức độ thấp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
hàng năm 3,7%. Xuất khẩu khong đáng kể chỉ đạt 1% tổng thu nhập quốc dân.
Vốn dùng cho phục hồi kinh tế và phát triển các ngành công nghiệp mới tạo sản
phẩm thay thế nhập khẩu chủ yếu dựa vào viện trợ từ nước ngoài trong đó mỹ
sách thay thế nhập khẩu và bảo hộ cho tất cả các đối tượng đã cho phép các công
ty kém hiệu quả tồn tại và như vậy xuất khẩu bị kìm hãm. Điều này, đã làm cho
ngoại tệ thiếu lại càng thiếu hơn và tạo áp lực ngày càng tăng cho việc hạn chế
nhập khẩu. Tình hình ấy kéo theo những bất ổn định về kinh tế - xã hội, thất
nghiệp và lạm phát gia tăng, tình hình chính trị cũng rối loạn. Kết thúc giai đoạn
phát triển (1953-1962) mang tính chất thử nghiệm theo mô hình công nghiệp hoá
theo hướng thay thế nhập khẩu là sự sụp đổ của chính phủ Lý Thừa Vãn.
2.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 1962-1971: quá độ chuyển từ
hướng nội sang hướng ngoại
2.2.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội
Từ 1962, khi đưa ra kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm (1962-1966), Hàn
Quốc đứng trước hai hướng lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế. Hướng thứ
nhất là chiến lược phát triển hướng nội với cốt lõi là thay thế nhập khẩu và
hướng thứ hai là hướng ngoại, coi trọng sự phát triển ngoại thương làm động lực
thúc đẩy kinh tế phát triển. Thực tế, những năm đầu của kế hoạch 5 năm, Hàn
Quốc chú trọng chiến lược công nghiệp hoá hướng nội… Chiến lược công
nghiệp hoá thay thế nhập khẩu có một số tác động tích cực với tình hình kinh tế xã hội khi đó. Việc mở mang sản xuất đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao
động. Quá trình đô thị hoá cũng bắt đầu diễn ra làm biến đổi nhanh chóng bộ mặt
kinh tế của đất nước. Những công ty sản xuất thay thế hàng nhập khẩu khi cọ sát
với thương trường, ngoài việc tìm kiếm bạn hàng trong nước, họ đã mời tư bản
nước ngoài vào liên doanh, hợp doanh trong những lĩnh vực có công nghệ phức
tạp và khó khăn về tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp trong nước đã tổ chức
sản xuất theo kiểu quan hệ trung tâm với ngoại vi, nghĩa là duy trì một số ít cơ sở
sản xuất những bộ phận chủ yếu và một số mạng lưới nhỏ cơ sở chân rét (dưới
hình thức tư nhân, gia công tại nhà) để tạo ra những cấu kiện phụ. Khi sản phẩm
cuối cùng được lắp ráp có thể tiêu thụ ở trong nước hoặc ở nước ngoài thông qua
vai trò trung gian của những công ty ngoại quốc có quan hệ làm ăn với họ. Bằng
cung cách kinh doanh như vậy, một số công ty đã chủ động tạo ra những lợi thế
cạnh tranh tương đối cho đến khi họ tự đứng vững với tư cách là doanh nghiệp
độc lập. Chính từ những loại hình doanh nghiệp này, đã tạo dựng lên đội ngũ
vốn cho đầu tư phát triển, Hàn Quốc đã có chính sách huy động tối đa các nguồn
vốn trong nước, đồng thời chú trọng thu hút nguồn vốn nước ngoài. Sự tăng
trưởng nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho Hàn Quốc tìm kiếm vay
vốn nước ngoài. Ngay trong giai đoạn 1962-1971, trong công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở Hàn Quốc có vai trò rất quan trọng của đầu tư trực tiếp và vốn vay từ
nước ngoài. Hàn Quốc đã tiến hành cải cách hệ thống tỷ giá hối đoái vào năm
1964, thay thế chế độ tỷ giá cố định bằng chế độ tỷ giá linh hoạt. Hệ thống tỷ giá
linh hoạt này đã làm cho đồng Won của Hàn Quốc thực sự gắn bó với đồng đô la
Mỹ và bị chi phối bởi những qui định của IMF, đó là thuận lợi để thu hút đầu tư
từ bên ngoài. Để khuyến khích thu hút nguồn vốn nước ngoài bổ sung cho phần
tích luỹ trong nước còn thiếu, chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Đạo luật tổng
hợp về thúc đẩy vốn đầu tư nước ngoài, trong đó cam kết bảo hiểm rủi ro. Năm
19
1960, Hàn Quốc ban hành bộ luật đầu tư và sau hai năm thì luật này được triển
khai, dòng đầu tư nước ngoài bắt đầu chảy vào Hàn Quốc ngày càng tăng lên.
Trong giai đoạn 1962-1971 nguồn vốn nước ngoài vào Hàn Quốc đã lên
tới 2,5 tỷ USD chủ yếu bằng nguồn vốn vay. Thông qua hoạt động đầu tư nước
ngoài, tuy ít nhưng đã tạo cơ hội cho Hàn Quốc tiếp thu và sư dụng kỹ thuật mới,
kinh nghiệm quản lý sản xuất tiên tiến.
Bảng 2.1: Đầu tư của tư bản nước ngoài vào Hàn Quốc 1962-1971
(Theo giá của thời điểm đầu tư)
Năm
Triệu USD
Năm
1970
73
1966
8,0
1971
127,0
(Nguồn: IMF, International Financial Statistics Yearbook 1984, tr.176;
EPB, Major Statistics of Korean Economy 1986, bảng 9-11, tr.205.)
Về huy động vốn trong nước, sau khi thử nghiệm chính sách "Đồng tiền
rẻ" (giữ lãi suất tiền vay và cho vay thấp) không thành công vì lạm phát cao làm
giảm lãi suất thực tế, nhiều khi âm nên không thu hút được nguồn tiết kiệm trong
dân cư. Do vậy, chính sách huy động vốn trong nước đã có sự thay đổi: năm
1965, ngân hàng Hàn Quốc đã nâng lãi suất tiền gửi từ 12% lên 12,5%. Kết quả
nguồn tiền tiết kiệm gửi vào ngân hàng thương mại tăng gấp đôi mỗi năm. Tiền
gửi tiết kiệm so với tổng thu nhập quốc dân đã tăng từ 3,8% năm 1965 lên 21,7%
năm 1969. Thực tế cho thấy, khoảng 1/5 quỹ thu nhập của dân cư đã không
chuyển sang quỹ tiêu dùng mà được tái đầu tư để công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Việc này tuy có giảm sức mua của thị trường nội địa, nhưng nó có tác động tích
cực tới khu vực công nghiệp xuất khẩu đồng thời tạo được niềm tin cho thị
trường nội địa sau này.
Để có thị trường vốn lớn hơn, chính phủ Hàn Quốc đa dạng hoá hệ thống
tài chính. Ngoài các ngân hàng, nhà nước còn cho phép thành lập các tổ chức tài
chính phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, tổ chức uỷ thác, các công ty tài chính
ngắn hạn và các thị trường chứng khoán. Tổng giá trị các quỹ tăng 82 lần, từ 209
đã góp phần quan trọng đa dạng hoá thị trường tài chính của Hàn Quốc. Với sắc
lệnh của tổng thống (8-1972) đã làm tê liệt tài chính không chính thức (UMM),
các công ty tài chính ngắn hạn, các công ty tài chính và tiết kiệm tương hỗ đã
được thành lập và các tổ chức tín dụng đã được hiện đại hoá. Sự phát triển của
các tổ chức này tuy bị ảnh hưởng bởi các hạn chế tác nghiệp khác nhau, trong đó
có cả vấn đề lãi suất nhưng chúng tỏ ra thành công trong thu hút nguồn vốn.
Song song với chính sách khuyến khích tiết kiệm, thuế cũng là nguồn thu
cho ngân sách nhà nước. Thuế đánh vào thu nhập cá nhân của khu vực phi công
nghiệp năm 1965 là 1,28% trong tổng thu nhập quốc dân, năm 1970 là 3,51%
trong tổng thu nhập quốc dân. Nhằm thu nhập từ thuế nhiều hơn cho phát triển
công nghiệp, Nhà nước trong một giai đoạn nhất định đã cố gắng giảm bớt chi
phí cả trong lĩnh vực quân sự và dân sự để tập trung đầu tư cho phát triển kinh tế.
Với chủ trương huy động vốn bằng việc đẩy nhanh tích luỹ trong nước, bằng
21
những biện pháp trên, vốn tích lũy từ các nguồn trong nước trong tổng số đầu tư
tăng từ 25% năm 1962 lên 60,9% năm 1971 và tỷ lệ đầu tư trong tổng thu nhập
quốc dân cũng trong thời gian ấy tăng từ 15% lên 25%. Phần đầu tư từ viện trợ
nước ngoài trong tổng đầu tư giảm mạnh, từ 50% vào đầu những năm 1960
xuống 20% vào cuối thập kỷ này
- Chính sách đầu tư và hỗ trợ công nghiệp, xuất khẩu
Chính sách đầu tư phát triển
Để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhà nước đã khuyến khích
giới công thương trong nước kinh doanh phát triển công nghiệp. Các nhà doanh
nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, được phép chuyển đổi ngoại hối với tỷ giá
ưu đãi, được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu
cần thiết cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới, cho phép khấu hao thiết
bị nhanh. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các nhà doanh nghiệp mua đất công
- Số tuyệt đối ( tỷ Won)
279
1.134
- Tỷ lệ trong tổng đầu tư (%)
47,9
39,5
Các chỉ tiêu
Tổng đầu tư trong nước ( tỷ Won)
Tổng tiết kiệm trong nước:
Tổng vốn nước ngoài:
(Nguồn: Korea in the World economy, 1993)
Thực hiện mục tiêu kinh tế là xây dựng những ngành công nghiệp cơ bản
và hạ tầng cơ sở quốc gia, phần đầu tư từ ngân sách vào khu vực kinh tế Nhà
22
nước đã tăng lên từ 4% GDP vào thời gian (1963-1965) lên gần 6% GDP những
năm sau đó. Đến cuối thập kỷ 60, Hàn Quốc đã có trên 100 doanh nghiệp quốc
doanh, trong đó có những doanh nghiệp có quy mô lớn như KEPCO, POSCO.
Cũng vào thời gian này, các doanh nghiệp nhà nước của Hàn Quốc chiếm tỷ
trọng 30-35% vốn đầu tư.
một nền kinh tế mà ở đó chính phủ kiểm soát tín dụng một cách chặt chẽ và việc
vay của các tổ chức ngân hàng không phải là dễ dàng.Bên cạnh những biện pháp
23