ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----------------------
HOÀNG VIỆT HÀ
CÔNG NGHIỆP HÓA Ở HÀN QUỐC
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được sử
dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Những kết quả trình
bày trong luận văn chưa từng được công bố trong một công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Hoàng Việt Hà
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS.Nguyễn Mạnh Hùng
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Ký hiệu
APEC
AFTA
ADB
Chaebol
CHN-HĐH
CRDC
Nguyên nghĩa
Diễn đàn hợp tác kinh tế chấu Á – Thái Bình Dương
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Ngân hàng phát triển châu Á
Quỹ tiền tệ quốc tế
Hỗ trợ phát triển chính thức
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Kinh tế xã hội
Kinh tế thị trường
Khoa học công nghệ
Bộ thương mại và công nghệ Hàn Quốc
Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ
Tư bản chủ nghĩa
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc
Tổ chức tái thiết Hàn Quốc của Liên hợp quốc
Tổ chức thương mại thế giới
Ngân hàng thế giới
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
1
3.1
2
3.2
3
94
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Sự thần kỳ” mà các nước NICs (các nước công nghiệp mới) ở Châu Á
đạt được trong những thập kỷ qua không phải là sự ngẫu nhiên, mà là cả một quá
trình tìm tòi, thử nghiệm và phấn đấu kiên trì của các quốc gia, vùng lãnh thổ công
nghiệp mới Châu Á. Trải qua những thăng trầm, thất bại và thành công, họ đã
tìm ra một mô hình phát triển kinh tế phù hợp với những điều kiện thực tế ở mỗi
nước, đó là chìa khóa để đi từ những nước, lãnh thổ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành
những quốc gia có nền công nghiệp phát triển, hòa nhập vào cộng đồng kinh tế thế
giới với địa vị không ngừng được nâng cao.
Hàn Quốc là một đất nước nhỏ nằm ở phía cực Đông của châu Á được biết đến
là một nước công nghiệp mới điển hình. Mặc dù xếp vị trí thứ 109 trên thế giới về mặt
lãnh thổ nhưng Hàn Quốc lại là trung tâm của các hoạt động kinh tế, văn hoá và nghệ
thuật của Châu Á. Hàn Quốc đã trải qua thời kỳ thực dân trị của Nhật Bản vào đầu thế
kỷ 20 và sau đó là cuộc chiến tranh Hàn Quốc (1950-1953) nhưng trong một thời gian
ngắn, Hàn Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc, vẫn thường
được biết đến là “Kỳ tích Sông Hàn”. Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội
của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì hiện nay,
tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới. Từ những năm 1970
nhiều công ty lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới. Trong
số đó có thể kể tới Samsung, Hyundai hay GM Daewoo. Cho đến nay, Hàn Quốc đã là
một quốc gia công nghiệp đứng vị trí cao trên trường thế giới. Ngành công nghiệp
chất bán dẫn, ô tô, đóng tàu, sản xuất thép và công nghệ thông tin của Hàn Quốc có vị
trí hàng đầu trên thị trường thế giới. Hàn Quốc đang được thế giới công nhận và đánh
giá là một trong 4 con rồng phát triển nhất của châu Á. Sở dĩ có được bước tiến bộ
vượt bậc và phát triển thành một nước công nghiệp như ngày nay là cả một quá trình
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức
mới do quá trình toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế mang lại. Trong bối cảnh các nguồn
lực kinh tế của Việt Nam còn nhiều hạn chế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước công nghiệp đi trước là một bước đi
đúng đắn. Vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm công nghiệp hóa của các nước đi trước
để tìm ra những giải pháp cho Việt Nam là một vấn đề cấp thiết.
Đề tài “Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
được học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị.
* Câu hỏi nghiên cứu:
- Những thành công và thất bại của Hàn Quốc trong quá trình thực hiện công
nghiệp hóa là gì?
- Việt Nam sẽ học hỏi được những gì và vận dụng như thế nào từ bài học kinh
nghiệm rút ra trong quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc?
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích:
Nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc, rút ra và đánh giá những
bài học kinh nghiệm từ quá trình đó để vận dụng ở Việt Nam. Trên cơ sở những bài
học thành công và thất bại của Hàn Quốc đưa ra một số định hướng góp phần nâng cao
hiệu quả của việc vận dụng những bài học kinh nghiệm này vào quá trình công nghiệp
hóa ở Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về công nghiệp hóa.
Đánh giá thành tựu và hạn chế của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc từ đó
rút ra được những bài học kinh nghiệm để vận dụng ở Việt Nam.
Đánh giá khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc vào quá
trình công nghiệp hóa ở Việt Nam.
ở Hàn Quốc vào Việt Nam
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ
CÔNG NGHIỆP HÓA Ở CÁC NƯỚC
1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài
Vấn đề công nghiệp hóa nói chung, vấn đề công nghiệp hóa ở các quốc gia trên
thế giới cụ thể là ở Việt Nam nói riêng là một vấn đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu
từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu mỗi tác giả đều có những
hướng nghiên cứu riêng biệt, một số nghiên cứu những lý luận cơ sở, một số khác chỉ
tập trung vào một vài quan điểm cụ thể trong quá trình vận dụng, đặc biệt việc nghiên
cứu kinh nghiệm công nghiệp hóa đúc kết từ các nước phát triển đi trước để áp dụng
vào Việt Nam là một nội dung chưa được nghiên cứu sâu rộng. Nghiên cứu công
nghiệp hóa ở Hàn Quốc và việc vận dụng bài học kinh nghiệm ở Việt Nam, một mặt,
học viên muốn tìm hiểu nguyên nhân sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc, một quốc
gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, mặt khác nghiên cứu về việc áp dụng
những kinh nghiệm công nghiệp hóa được đúc kết từ quá trình phát triển của nước bạn
cho Việt Nam. Có thể kể ra một số sách, bài đăng tạp chí, công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận văn mà học viên tổng hợp được như sau:
- “Con đường phát triển của một số nước châu Á – Thái Bình Dương” (1996)
của tác giả Dương Phú Hiệp (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội. Tác giả đã
đề cập đến một vài khía cạnh của khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cuốn sách
đã giới thiệu con đường phát triển của một số nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương, tập trung phân tích những nguyên nhân và những bài học thành công của một
số nước trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tuy nhiên ở đây mới chỉ đề
cập đến một vài quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, có đề cập đến một vài quốc gia
Đông Á nổi bật khác như Hàn Quốc, Singapore… nhưng chưa đưa ra được những
phân tích hầu hết các vấn đề liên quan đến công nghiệp hoá, đề khởi các chiến lược,
chính sách, biên pháp nhằm tăng sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam để đối phó hữu
hiệu với các thách thức và tận dụng các cơ hội phát triển ở vùng Đông Á.
- “Quá trình phát triển kinh tế xã hội của Hàn Quốc (1961-1993) và kinh
nghiệm đối với Việt Nam” (2008) của tác giả Hoàng Văn Hiển, NXB Chính trị quốc
gia Hà Nội. Tác giả đã trình bày có hệ thống toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của Hàn Quốc trong những năm 1961-1993 về bối cảnh quốc tế, trong nước và các
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hai mô hình chiến lược hướng nội và hướng
ngoại; những thành tựu tiêu biểu về kinh tế - xã hội và những hạn chế cơ bản của Hàn
Quốc trong hơn ba thập niên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xác định các
6
điều kiện và yếu tố bên trong, bên ngoài tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã
hội trong giai đoạn này; rút ra những đặc điểm những quy luật phát triển chung, những
kinh nghiệm phát triển phát triển của Hàn Quốc đối với Việt Nam. Tuy nhiên đáng tiếc
là tác giả chỉ mới đề cập đến một giai đoạn nhất định trong quá trình thực hiện công
nghiệp hóa ở Hàn Quốc, chưa mở rộng nghiên cứu toàn bộ quá trình này.
- “Nông nghiệp Hàn Quốc trên con đường phát triển” (2010) của tác giả TS
Trần Quang Minh (chủ biên), NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra
những ý kiến tổng quan về nền nông nghiệp của Hàn Quốc, nghiên cứu một vài chính
sách tiêu biểu để giải quyết những vấn đề cơ bản trên con đường phát triển nông nghiệp
hiện đại ở Hàn Quốc, đặc biệt tác giả dành ra một chương nói về các giải pháp của chính
phủ Hàn Quốc và những đề xuất gợi ý cho Việt Nam về việc phát triển nông nghiệp hiện
đại trong quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ đề cập đến riêng lĩnh
vực nông nghiệp, chưa có thêm nhiều nghiên cứu về các ngành kinh tế khác.
- “Một số mô hình công nghiệp hóa trên thế giới và Việt Nam” (2011) của tác giả
Mai Thị Thanh Xuân (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia. Tác giả đã đề cập một cách có
hệ thống các quan niệm về công nghiệp hóa và những nghiên cứu về các mô hình công
thành nước công nghiệp” (2015) Phạm Xuân Đương, Tạp chí Cộng sản. Bài viết đã đề
cập đến một số vấn đề đặt ra cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn cùng những đề xuất mô hình CNH và các giải
pháp đẩy nhanh quá trình CNH HĐH.
- “Những quan niệm cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc điểm, nội
dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”(2002) Nguyễn
Thanh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ. Đề tài đã trình bày các khái niệm khác
nhau về công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời đưa ra những nghiên cứu của mình
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam từ những năm 1960 cho đến cuối những
năm 1990, nhận xét cụ thể về bối cảnh, đặc điểm nội dung của CNH HĐH ở nước ta
trong giai đoạn đó.
- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” (2007)
Trần Thị Chúc, Đề tài nghiên cứu khoa học. Đề tài này cũng đã khái quát được quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam từ những năm sau đổi mới 1986, đánh
giá quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam trên phương diện tích cực và hạn chế, từ đó đưa
ra một vài giải pháp.
- “Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đài Loan
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961-2003) - Bài học kinh nghiệm và
khả năng vận dụng vào Việt Nam” (2004) Trần Khánh Hưng. Luận án tiến sĩ này đã đề
cập đến vai trò của nhà nước trong quá trình CNH HĐH ở Đài Loan và từ đó chọn lọc
nghiên cứu những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
8
- “Vai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
của Malayxia - kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam” (2004) Trần Tuấn
Linh. Luận án tiến sĩ cũng nghiên cứu về vài trò của nhà nước trong việc định hướng
các chính sách trong quá trình CNH Malayxia, từ đó rút ra những bài học về việc xây
dựng chính sách kinh tế trong quá trình CNH HĐH ở Việt Nam.
Nó gắn liền sự xuất hiện của công nghiệp với việc thay thế lao động thủ công bằng lao
động cơ khí hoá. Như vậy, khái niệm công nghiệp hoá chỉ xuất hiện từ cuộc cách
mạng kỹ thuật lần thứ nhất, khởi đầu ở nước Anh vào thế kỷ 18. Đến thế kỷ 19, khái
niệm này mới được làm rõ dần với quan niệm coi đó quá trình biến một lĩnh vực sản
xuất nào đó, hoạt động với sự trợ giúp đắc lực và sự đóng góp lớn của hoạt động cơ
khí. Do công nghiệp phát triển nhanh chóng từ đơn giản đến phức tạp với trình độ cơ
khí hoá, tự động hoá ngày càng cao nên ý nghĩa của khái niệm công nghiệp hoá cũng
ngày càng mở rộng ra. Vì vậy, khi có một quan niệm đúng về công nghiệp hoá sẽ ý
nghĩa đối với khoa học và hoạch định chính sách trong thực tiễn. Công nghiệp hoá là
quá trình rất phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh khó phân biệt về thời gian, về định
tính hay định lượng. Tuỳ theo cách nhìn khác nhau mà người ta có những quan niệm
khác nhau về công nghiệp hoá và bản chất của nó.
Quan niệm đơn giản nhất cho rằng "Công nghiệp hoá là đưa tính đặc thù công
nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các loại hình
công nghiệp". Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử
công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong quá trình thực hiện công
nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp,
nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình
phát triển công nghiệp, mà không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá.
Quan niệm giản đơn trên đây có những mặt chưa hợp lý vì thế, nó được vận dụng rất
hạn chế trong thực tiễn.
Quan niệm phổ biến ở Liên Xô trước đây cho rằng "công nghiệp hoá là quá
trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp". Đó là
sự phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành chế tạo cơ khí, do đó tỷ
trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn. Quan niệm trên xuất
phát từ thực tiễn của Liên Xô khi triển khai công nghiệp hoá. Nhiều năm trước đây nó
được coi là hợp lý và được áp dụng ở một số nước XHCN và các nước đang phát triển
nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Thực tế, việc sao chép một cách máy móc
mô hình công nghiệp hoá của Liên Xô đã không đem lại kết quả như mong muốn ở
những nước này.
sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật để
xây dựng cơ sở vật chất ‒ kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế.
Thứ hai, công nghiệp hóa là quá trình bao trùm toàn bộ mọi ngành, mọi lĩnh vực
của nền kinh tế.
11
Thứ ba, công nghiệp hóa là quá trình mở rộng quan hệ quốc tế.
Thứ tư, công nghiệp hóa không chỉ là quá trình kinh tế ‒ kỹ thuật, mà còn là quá
trình kinh tế - xã hội.
Quá trình công nghiệp hóa diễn ra trên thế giới đã có chiều dài gần 300 năm,
nhưng đến nay người ta vẫn chưa có một sự thống nhất trong cách hiểu về công nghiệp
hóa. Điều đó là do, một mặt, bản thân công nghiệp hóa là một quá trình rộng lớn, có
một nội hàm sâu sắc và một ngoại diên phong phú; mặt khác, điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội và thời đại tiến hành công nghiệp hóa tại mỗi nước là không giống nhau.
Tuy công nghiệp hoá có thể phát sinh những hậu quả tiêu cực nhất định về xã hội, về
môi trường và về văn hóa, nhưng công nghiệp hoá với cách hiểu trên vẫn luôn luôn là
cách thức phát triển mà các quốc gia từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông
nghiệp, muốn nhanh chóng vươn lên một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải
qua. Vấn đề đặt ra không phải là có nên công nghiệp hoá hay không, mà chính là tiến
hành công nghiệp hoá như thế nào để đạt được hiệu quả.
1.2.1.2 Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá cho tất cả
các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí quan trọng. Công
nghiệp hoá đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất với kỹ thuật, công nghệ và
tổ chức sản xuất truyền thống. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên cập nhật và
nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình công nghiệp hoá.
Đa số các ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục
làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh
tế - xã hội của đất nước với các nước phát triển. Trong đó những nước đi sau đã có
một số ít nước (trong đó có Hàn Quốc) thực hiện được hiện đại hoá tương đối cao
trong thời gian ngắn.
1.2.2 Một số mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới
1.2.2.1 Quan niệm và đặc điểm của mô hình công nghiệp hóa
*Quan niệm về mô hình công nghiệp hóa
Mặc dù khái niệm mô hình công nghiệp hóa đã được sử dụng rất phổ biến,
song đến nay vẫn chưa có một sự cắt nghĩa thật rõ ràng về vấn đề này. Theo Almas
Heshmati (2007), mô hình công nghiệp hóa là những quá trình công nghiệp hóa của
một số nước đi trước được sử dụng như khuôn mẫu cho các nước đi sau. Hiểu như vậy
cũng không sai tuy nhiên, quan niệm đó chưa phản ánh được đầy đủ về mô hình công
nghiệp hóa, bởi nếu mô hình chỉ là “khuôn mẫu cho các nước đi sau” thì các nước công
nghiệp hóa đi trước sẽ lấy “khuôn mẫu” từ đâu, hay các nước đang công nghiệp hóa muốn
tìm cho mình một mô hình mới hiệu quả hơn thì làm thế nào để có “khuôn mẫu”?
13
Trở lại với khái niệm cơ sở về mô hình kinh tế, theo nhiều nghiên cứu định
nghĩa mô hình kinh tế là đại diện của một quá trình kinh tế, nó diễn tả các mối quan
hệ đặc trưng giữa các yếu tố (thu nhập quốc dân, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp,
lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, khoa học ‒ công nghệ, thương mại và tài chính…) của quá
trình đó. Theo đó, có thể hiểu mô hình kinh tế chỉ là một “bộ khung” được thiết kế
một cách đơn giản nhất, hay là hình thức diễn đạt hết sức cô đọng các đặc trưng chủ
yếu của đối tượng (theo một phương diện nào đó) để minh họa cho những hiện tượng
và quá trình kinh tế đa dạng và phức tạp. Mô hình kinh tế lại được thể hiện ở nhiều
lĩnh vực, khía cạnh khác nhau, như mô hình kinh doanh, mô hình sản xuất, mô hình
doanh nghiệp, mô hình công nghiệp hóa, v.v... Trong đó, những khái niệm đầu đã
được làm rõ, còn mô hình công nghiệp hóa cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm
thể hiện được mục tiêu cần đạt tới của công cuộc công nghiệp hóa tại một quốc gia hay
vùng lãnh thổ, trong đó mục tiêu kinh tế là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
thành nền kinh tế công nghiệp ‒ dịch vụ, và trong bối cảnh phát triển hiện đại đó còn
là quá trình chuyển nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ sang nền kinh tế tri thức. Ngoài
mục tiêu kinh tế, nhiều nước còn đặt ra mục tiêu về chính trị, xã hội khi xác định mô
hình công nghiệp hóa của mình.
- Bước đi của công nghiệp hóa: Công nghiệp hóa là một quá trình lâu dài và
khó khăn, do đó để đạt được mục tiêu đặt ra người ta thường phải tiến hành qua nhiều
bước, trong đó mỗi bước tương ứng với một khoảng thời gian và nội dung cụ thể. Do
điều kiện mỗi nước khác nhau nên việc xác định các bước đi và độ dài ngắn của mỗi
bước trong quá trình công nghiệp hóa cũng khác nhau.
- Cách thức tiến hành công nghiệp hóa: Một yếu tố quan trọng khác được thể
hiện trong mô hình công nghiệp hóa là việc xác định cách thức tiến hành công nghiệp
hóa. Cách thức tiến hành công nghiệp hóa lại được thể hiện qua việc xác định các
nguồn lực đầu vào, xác định chủ thể thực hiện công nghiệp hóa và thể chế cho sự tiến
hành công nghiệp hóa. Tóm lại, đó là cách thức để một nước đạt được mục tiêu mô
hình công nghiệp hóa đưa ra. Với những mục tiêu đặt ra khác nhau thì phương thức để
đạt tới mục tiêu đó cũng khác nhau.
Các yếu tố hợp thành mô hình công nghiệp hóa có mối quan hệ lôgic chặt chẽ.
Do đó, nếu một quốc gia xác định đúng từng yếu tố cấu thành mô hình công nghiệp
hóa thì sẽ cho phép quốc gia đó đạt thành công trong quá trình thực hiện công nghiệp
hóa, với thời gian ngắn nhất. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường quốc tế luôn
biến đổi, để có được một mô hình công nghiệp hóa hiệu quả, đòi hỏi các nước phải tính
toán đầy đủ mọi khía cạnh để khai thác tối đa các lợi thế do thời đại tạo ra.
15
Thứ hai, mô hình công nghiệp hóa có tính lịch sử
Việc xác định mô hình công nghiệp hóa tại một nước phải xuất phát từ các điều
16
Vào thời kỳ đầu mới giành được độc lập từ tay các nước thực dân, các nước
đang phát triển đều có những điểm tương đồng, như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm
chạp, thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp, mức độ đô thị hóa và sự phát triển
của các ngành công nghiệp non yếu, năng lực quản lý của nhà nước thấp, khả năng
kinh doanh của các doanh nghiệp kém, nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng cần
thiết cho phát triển công nghiệp ít, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, thị trường hàng hóa
công nghiệp quá nhỏ... Những đặc điểm đó đã chi phối việc lựa chọn mô hình công
nghiệp hóa tại các nước này. Thực tế là, vào khoảng hai thập niên 1950-1960, các
nước này xác định mô hình công nghiệp hóa hướng nội.
Do thực trạng của nền kinh tế mang nặng tính thuần nông như vậy nên bước
vào quá trình công nghiệp hóa, nhiều nước đang phát triển đã chọn mục tiêu ưu tiên là
dựa vào nông nghiệp. Sau đó, khi nền kinh tế phát triển hơn, an ninh lương thực đã
được đảm bảo tương đối, các nước lại bắt đầu thực hiện từng bước chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp có năng suất thấp, tăng tỷ
trọng của công nghiệp và dịch vụ có năng suất và hiệu quả cao hơn. Nói cách khác, mô
hình công nghiệp hóa đã được chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại, từ ưu tiên nông
nghiệp sang công nghiệp.
Thực tế, hầu hết các nước châu Á đều ưu tiên phát triển nông nghiệp trong thời
kỳ đầu công nghiệp hóa, đặc biệt là nền nông nghiệp lúa nước và các loại nông, hải
sản khác như cà phê, cao su, hạt điều, chè, hạt tiêu, thủy hải sản, ngô, bông, đậu tương,
đường, sữa…Các chính sách nông nghiệp được các nước áp dụng rất đa dạng, thường
mở đầu từ cải cách ruộng đất để đảm bảo người cày có ruộng; rồi triển khai phát triển
sản xuất quảng canh đến thâm canh, thực hiện từng bước cơ khí hóa, thủy lợi hóa, hóa
học hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tiến, lai tạo và gieo trồng các loại giống mới, thực
hiện cách mạng xanh, cách mạng trắng, xây dựng các ngành công nghiệp chế biến
nông sản, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh cả
trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm
trong nước và mở rộng hội nhập quốc tế.
Bất chấp những khó khăn, thiếu thốn, nhiều nước trong khu vực đã triển khai
các chương trình công nghiệp hóa, cho đến nay một số nước đã đạt thành công lớn, trở
thành những nền kinh tế công nghiệp, những con hổ của châu Á và thế giới. Kết quả
đó khẳng định những yếu tố trên đây đóng vai trò to lớn đối với việc xác định mô hình
công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển thuộc châu Á thời kỳ những năm 19501960, sau khi các nước này giành được độc lập từ các cường quốc thực dân. Hơn nữa,
những yếu tố đó không chỉ ảnh hưởng lớn tới thời kỳ đầu công nghiệp hóa ở các nước
này, mà còn tiếp tục ảnh hưởng lớn tới tiến trình công nghiệp hóa về sau, góp phần
18
nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xóa
đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ
– nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, tăng cường huy động vốn, nâng cấp công
nghệ, phát triển các loại hình doanh nghiệp, nâng cao vai trò của nhà nước và đến lượt
mình nhà nước lại ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong tiến trình công nghiệp hóa.
Trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao là yếu tố cơ bản của sự nghiệp công
nghiệp hóa tại một quốc gia. Cho nên, nếu một quốc gia có nguồn nhân lực yếu kém sẽ
khó thực hiện được mô hình công nghiệp hóa theo hướng hội nhập quốc tế.
Một điều dễ nhận thấy là, các nước trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa do trình
độ nguồn nhân lực còn thấp kém nên không thể nói đến một mô hình công nghiệp hóa
hướng vào tương lai, như hướng vào xuất khẩu hay mở cửa hội nhập, phát triển kinh
tế tri thức. Với một nguồn nhân lực trình độ thấp, cách phù hợp nhất để khai thác và sử
dụng nó là phát triển dựa vào nông nghiệp và các tài nguyên thiên nhiên khác. Do đó,
nếu một quốc gia kém phát triển lựa chọn mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất
khẩu ngay từ đầu sẽ khó thành công, cho dù đó là mô hình có nhiều ưu điểm vượt trội
so với các mô hình khác. Đó là vì trình độ nhân lực và công nghệ của họ không cho
phép tạo ra những sản phẩm hàng hóa có đủ sức để cạnh tranh với hàng hóa của các