VIỆN NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI Ở MỘT SỐ NƯỚC
ĐÔNG Á-BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CNĐT : ĐỖ TIẾN SÂM
8119
HÀ NỘI – 2010
1. Sự tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh tế trí thức 37
2. Toàn cầu hóa 39
3. Ảnh hưởng của văn minh phương Tây 42
4. Vấn đề an ninh phi truyền thống 44
CHƯƠNG HAI
SỰ PHÁT TRIỂN V
ĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI
Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG BẮC Á 51
I. Sự phát triển văn hóa và con người ở Trung Quốc
51
1. Một số nhân tố tác động 51
2. Những nhận thức và chủ trương, chính sách phát triển văn hóa 59
3. Thực trạng phát triển văn hóa và con người 70
II. Sự phát triển văn hóa và con người ở Nhật Bản
77
1. Một số nhân tố tác động 77
2. Những chính sách phát triển văn hóa và con người 83
3. Thực trạng phát triển văn hóa và con người 89
II. Sự phát triển văn hóa và con người ở Hàn Quốc
107
1. Một số nhân tố tác động 107
2. Chính sách phát triển văn hóa và con người 108
3. Thực trạng phát triển văn hóa và con người 122
CHƯƠNG BA
SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI
1. Một số đặc điểm cơ bản trong phát triển văn hóa Đông Á 215
2. Tác động của văn hóa đối với sự phát triển bền vững 232
II. Đặc điểm cơ bản trong phát triển con người và tác động của nó đối
với sự phát triển bền vững
235
1. Một số đặc điển cơ bản trong phát triển con người 235
2. Tác động của phát triển con người đối với sự phát triển bền vững 250
CHƯƠNG NĂM
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á
CHO VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CON NGƯỜI 270
I. Bài học về sự bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc
270
1. Xác định di sản văn hóa như là tài sản văn hóa 270
2. Khai thác các giá trị của văn hóa truyền thống trên cơ sở gắn với đời sống hiện tại 273
3. Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc đi li
ền với mở rộng văn hóa ra thế giới 275
II. Bài học về tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 277
1. Nâng cao tính chủ động trong việc tiếp thu tinh hóa văn hóa nhân loại 277
2. Tiếp thu tinh hoa văn hóa ra thế giới một cách có chọn lọc, chống rập khuôn, máy
móc
279
3. Chú trọng đến việc phát huy lợi thế so sánh của mình để tạo nên sự ohats triển đa
dạng của nền văn hóa dân tộc
281
III.
Bài học về
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, đã và đang tác động
sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại, trong đó có văn hóa và
con người. Chính vì thế, Liên hợp quốc, nhất là các tổ chức UNESCO và
UNDP đã nêu lên nhiều sáng kiến kêu gọi các nước thảo luận nghiên cứu về
vấn
đề này.
Trong khu vực Đông Á, các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia và
Singapore cũng đã hoặc đang trải qua quá trình điều chỉnh hoặc cải cách
nhằm thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế và
khu vực. Những kinh nghiệm của các nước này trong phát triển văn hóa và
xây dựng con người sẽ có giá trị tham khảo hữ
u ích cho các nước đi sau.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Á, đang tiến hành công cuộc đổi
mới, hội nhập quốc tế. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất
quan tâm tới việc phát triển văn hóa và xây dựng con người, đồng thời coi
trọng tham khảo kinh nghiệm từ các nước, nhất là khi Việt Nam đã gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Bởi lẽ
:
(1) Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển;
(2) Con người luôn là trung tâm của sự phát triển hiện nay.
Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Sự phát triển văn hóa và
con người ở một số nước Đông Á - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
trong quá trình hội nhập quốc tế” là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận
vừa mang tính thực tiễn sâu sắc. Đề tài cung cấ
p một cách tương đối toàn
diện và hệ thống các quan điểm, giải pháp về sự phát triển văn hóa và xây
dựng con người nhằm thích ứng với những biến đổi mới của tình hình ở
một số nước Đông Á, qua đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch
định đường lối chủ trương, chính sách phát triển văn hóa và xây dựng con
con người Việt Nam trong trường so sánh rộng rãi với giá trị Đông Á và
phương Tây trong tiến trình hội nhập đã khẳng định: “Có thể coi bảng giá
trị quan của người Việt Nam là một trong những bảng giá trị điển hình cho
3
những cộng đồng cư dân văn hoá Đông Á”
1
. Đây chính là những gợi mở
khoa học để các công trình tiếp theo đi sâu hơn về vấn đề vai trò của giá trị
Đông Á đối với sự phát triển của văn hoá và con người ở khu vực này.
Trong đó, cuốn Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực thời kỳ
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (Phạm Minh Hạc chủ biên, 2007)
được đánh giá là bước tiến mới trong nghiên cứu vấ
n đề phát triển văn hóa
con người ở Việt Nam hiện nay. Các tác giả nhấn mạnh, cần phải đề cao giá
trị châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại và sẽ là sai lầm nếu không
chú ý thoả đáng đến sự khác biệt trong “nghiên cứu so sánh giữa các nền
văn hoá, đặc biệt, trong việc hoạch định các kế hoạch phát triển tiếp theo
của các xã hội châu Á, trong đó có Việt Nam”
2
.
Với quan điểm có phần khác biệt, tác giả Nguyễn Văn Dân trong công
trình Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (2006), đã đưa ra
cảnh báo về mặt hạn chế của một số giá trị Đông Á, ví dụ như ý thức cộng
đồng trong việc cản trở óc sáng tạo chủ động của cá nhân. Từ cách tiếp cận
sâu và lý giải sắc sảo, hướng nghiên cứu này cũng
đã đạt được thành tựu
khoa học đáng ghi nhận là khái quát rõ một số đặc trưng tiêu biểu của các
giá trị Đông Á trong sự so sánh với phương Tây.
Tuy nhiên, do hoặc tập trung vào phân tích các giá trị Đông Á, hoặc đi sâu
với các quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và một số nước châu
Âu. Khác với công trình trên, cuốn Những thay đổi về văn hoá, xã hội
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á
(Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Dũng chủ biên, 2006) và công trình Văn
hóa phương Đông - truyền thống và hộ
i nhập (Mai Ngọc Chừ, Nguyễn
Quốc Anh, Đỗ Đức Định , 2006) lại tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của
văn hoá và con người châu Á trong sự phát triển của một số quốc gia trong khu
vực. Trong bài viết Trung Quốc với quy hoạch quốc gia về phát triển văn hóa
thời kỳ 5 năm lần thứ 11(2006-2010) (2007), tác giả Đỗ Tiến Sâm đã trình bày
và phân tích những quan niệm mới của Trung Quốc về vai trò và tầm quan tr
ọng
của văn hóa trong sự phát triển của đất nước này, theo đó văn hóa vừa cung cấp
động lực tinh thần cho sự phát triển, vừa là bảo đảm quan trọng cho sự phát
triển kinh tế và ổn định xã hội. Văn hóa cùng với kinh tế và quốc phòng là tiêu
chí quan trọng để đánh giá sức mạnh tổng hợp của một đất nước.
Thành công của hướng nghiên cứu thứ hai là đã khái quát đượ
c một
cách khách quan tầm quan trọng cũng như những hạn chế cần khắc phục
của văn hoá và nhân cách châu Á trong quá trình hội nhập quốc tế. Song có
thể thấy, các công trình nghiên cứu về sự phát triển văn hóa và con người ở
5
Đông Nam Á còn ít và chưa sâu.
Hướng nghiên cứu thứ ba là các công trình đi vào lý giải về sự tác
động cũng như những kinh nghiệm Việt Nam có thể học được từ sự phát
triển văn hoá và con người ở một số nước Đông Á.
Về kinh nghiệm phát triển văn hoá, các tác giả cuốn Xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc do Nguyễn Khoa
Điềm chủ biên (2001), trong chương ba: Kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hoá
Đông Nam Á còn chưa nhiều.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam đều sử dụng phương
pháp nghiên cứu đơn ngành, như phương pháp lịch sử - văn hóa. Gần đ
ây, một
số công trình nghiên cứu về các giá trị Đông Á, về văn hoá và sự phát triển
của châu Á trong bối cảnh toàn cầu hoá lấy tâm lý học dân tộc làm trọng
tâm, kết hợp với phương pháp liên ngành trong xã hội học và đã đạt được
những thành tựu mới như: Lý giải văn hoá với tư cách là mục tiêu, động
lực của sự phát triển; phân tích ưu điểm, hạn chế của các giá trị
Đông Á;
phân tích các kinh nghiệm phát triển văn hoá con người của một số quốc
gia Đông Á đơn lẻ, nhưng hiện vẫn chưa có một công trình nghiên cứu tổng
hợp chuyên sâu, mang tính so sánh nào nổi bật.
b, Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ những năm 1990 của thế kỷ XX cho đến nay, vấn đề văn hóa, con
người và phát triển văn hóa - con người đã trở thành một chủ đề được thảo
lu
ận nhiều trên các diễn đàn của các tổ chức quốc tế. Tiêu biểu là các hội
thảo, báo cáo của các tổ chức thành viên Liên hợp quốc như: Chương trình
Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn
hóa (UNESCO). Hưởng ứng tích cực đối với vấn đề này, giới học thuật
trên thế giới đã có nhiều hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Hướng th
ứ nhất chủ yếu tập trung vào tìm hiểu các vấn đề chung về
con người và văn hóa của châu Á. Thành tựu của khuynh hướng này là đã
bao quát được những đặc trưng cơ bản của văn hoá và con người châu Á.
Cuốn Đông Á: Truyền thống và chuyển đổi (1989) của học giả John King
Fairbank là một trong số ít tác phẩm dành sự ưu tiên hàng đầu và sớm nhất
để nghiên cứu về lịch sử và biế
n đổi truyền thống của Đông Á qua bốn
rồng nhỏ (Tu Wei-ming (chủ biên), 1996), Tu Wei-ming và một số học giả
khác đã có một đánh giá cao về truyền thống Nho học trong Đông Á hiện
đại. Warner, Malcolm và các tác giả khác trong cuốn Văn hóa và quản lý
tại châu Á (2003) lại lập luận: Văn hóa địa phương được coi là nhân tố
quan trọng trong việc hình thành các kiểu quản lý tại các nước châu Á khác
nhau. Hướng nghiên cứu này s
ử dụng phương pháp liên ngành một cách khá
8
hiệu quả, vì vậy, đã đưa ra được những phân tích và lý giải lý thú, đầy tính thuyết
phục về những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự thành công của các quốc gia
Đông Á trong những năm qua, trong đó vấn đề phát triển văn hoá và con người
được nhấn mạnh.
Trực tiếp đi vào vấn đề toàn cầu hóa cùng với sự phát triển văn hóa
và con người cũng là đề tài được lưu ý và trở thành hướng nghiên c
ứu có
nhiều thành tựu của các học giả phương Tây. Xiaobing Tang và Stephen,
trong cuốn Đi tìm Văn hóa Đông Á đương đại (1996), đã có một khảo luận
về văn hóa Đông Á đương đại, trong đó các tác giả đã đưa ra một bức tranh
toàn cảnh về văn hóa của Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc trong bối
cảnh toàn cầu hóa. Jacques Hersh; Johannes Schmidt; Niels Fold đã đánh
giá toàn diện và sâu sắc về quá trình phát triển và chuyển
đổi xã hội trong
khu vực Đông Nam Á đầy năng động trong cuốn sách Biến đổi xã hội tại
Đông Nam Á do nhà xuất bản Peason ấn hành năm 1997. Trong cuốn sách
này, nhóm tác giả còn xem xét một số vấn đề cơ bản mà Đông Nam Á đang
đối mặt về xã hội, văn hóa, chính trị, công nghiệp hóa và lao động.
Còn Samuel S. Kim (chủ biên) trong cuốn sách Đông Á và toàn cầu
hóa (2000), đã sử dụng cách thức phân tích cấu trúc về toàn cầu hóa trong
khuôn khổ
tục bàn về văn hoá với tiến trình hiện đại hoá của các nước Đông Á. Tuy
nhiên, văn hoá Đông Á là một khái niệm chung, khái niệm mở nên có rất
nhiều quan điểm khác nhau. Với cách lý giải khá thuyết phục, có nhóm học
giả cho rằng, văn hoá Đông Á là hệ thống văn hoá mà hạt nhân là quan
niệm giá trị Nho gia của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các
nước khác. Trong khi đó, học giả Trần Phong Quân lại tỏ ra cực đoan khi
cho rằng, văn hoá Đông Á là văn hoá Nho gia.
Trong quá trình toàn cầu hoá, các nhà nghiên cứu Trung Quốc r
ất quan
tâm tới việc bàn sâu về các nhân tố văn hoá trong mối tương quan với con ng-
ười Đông Á. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình: Khái quát
văn hoá Trung Quốc (Quách Kiến Khánh, 2004), Khái yếu văn hoá sử Trung
Quốc (Đường Ngọc Bình, 2004). Khái luận văn hoá (Thôi Phúc Xuân (chủ
biên), 2007), Hai cuốn Khái luận văn hoá và Hướng đi lịch sử của văn hoá
Trung Quốc (La Văn Quân, 2007), Sử cương văn hoá Trung Quốc
(Phùng
10
Thiên Du,1994), Cương luận lịch sử văn hoá Trung Quốc (Hứa Kết, 2006),
Thành tố văn hoá trong hợp tác Đông Á (Lý Văn, 2005)
Xây dựng văn hoá tiên tiến, xây dựng con người toàn diện XHCN đặc
sắc Trung Quốc là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và
tạo nên một hướng nghiên cứu khác. Đối với xây dựng văn hoá tiên tiến,
đáng chú ý là một số công trình: Nghiên cứu mấy vấn đề
quan trọng trong
xây dựng văn hoá tiên tiến xã hội chủ nghĩa (Quách Kim Bình, 2006),
Nghiên cứu tư tưởng văn hoá tiên tiến Trung Quốc (Vương Phượng Thắng,
2004), Nghiên cứu mấy vấn đề về xây dựng văn hoá tiên tiến (Lưu Uyên,
2005), Nghiên cứu xây dựng văn minh tinh thần XHCN Trung Quốc (Mạng
Thái Vân chủ biên, 2004). Dù có một số khác biệt, song hầu hết các học giả
ưu của văn
hoá Đông Á trong bối cảnh mới.
So với các công trình nghiên cứu của Việt Nam, điểm mạnh trong các
công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài nhất là phương Tây được thể
hiện rõ trong việc đặt vấn đề, trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu
mang tính hệ thống trên cơ sở những phương pháp liên ngành, so sánh,
v.v…Bằng cách làm trên, các công trình đã tìm ra và lý giải một cách thuyết
phục những nhân tố
đem lại sự thành công của Đông Á trong lĩnh vực phát
triển văn hoá và con người, đồng thời cũng phân tích thấu đáo những ưu điểm
và hạn chế của một số giá trị Đông Á truyền thống trong sự phát triển của văn
hoá và con người khu vực. Mặc dù, tính hệ thống của các công trình trên là
tương đối cao, song cho tới nay vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào
nghiên cứu về sự phát tri
ển văn hóa và con người ở Đông Á.
Có nhiều điểm tương đồng với các công trình nghiên cứu của Việt
Nam trong việc tiếp cận và lý giải vấn đề, nhưng các công trình nghiên cứu
của Trung Quốc luôn thể hiện rõ sự chủ động của các tác giả trong việc
khẳng định đặc điểm văn hóa và con người ở mỗi nước Đông Á có sự khác
biệt.Tuy nhiên, do hoặc chỉ chú trọng
đến vấn đề phát triển văn hoá, hoặc
chỉ chú trọng đến vấn đề xây dựng toàn diện con người châu Á, nên tính
toàn vẹn của các công trình trên về các vấn đề nghiên cứu có liên quan trực
tiếp đến đề tài là chưa cao.
Tóm lại, tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, cho đến
nay chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện về sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước
Đông Á
12
Những nhân tố đó cũng đang tác động đến sự phát triển của văn hóa và con
người Việt Nam.
13
Hai là, đánh giá khái quát một số nét cơ bản về thực trạng phát triển văn
hóa và con người ở một số nước Đông Á trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ba là, nêu lên một số đặc điểm cơ bản của sự phát triển văn hóa và
con người ở một số nước Đông Á.
Bốn là, phân tích làm rõ vai trò và sự tác động của yếu tố văn hóa và
con ng
ười đối với sự phát triển bền vững ở một số nước Đông Á trong quá
trình hội nhập quốc tế.
Năm là, rút ra một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham
khảo khi phát triển văn hóa và con người trong quá trình hội nhập quốc tế.
Bám sát mục tiêu và yêu cầu đặt ra, trên cơ sở kế thừa những thành
quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây, trong công trình này chúng
tôi tập trung lý giả
i những nhân tố tác động đến sự phát triển văn hóa và
con người; đồng thời sẽ đi sâu phân tích sự tác động trở lại của văn hóa và
con người đối với kinh tế, chính trị và bảo vệ môi trường; trình bày tương
đối hệ thống nhưng chọn lọc về thực trạng bao gồm cả những mặt được và
chưa được trong phát triển văn hóa và con người ở một số
nước Đông Á,
sau đó rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo
trong quá trình hội nhập quốc tế.
4. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Cách tiếp cận: Công trình sử dụng cách tiếp cận từ góc độ khu vực
học, lịch sử, nhân học văn hóa Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về
thực trạng và đặc trưng củ
a sự phát triển văn hóa và con người trong quá
Ở khu vực Đông Bắc Á, đề tài lựa chọn ba nước: Trung Quốc, Nhật
Bản và Hàn Quốc là đối tượng nghiên cứu. Trong khu vực này, Trung
Quốc là một quố
c gia lớn và có lịch sử, văn hóa lâu đời. Vì vậy, khi hội
nhập quốc tế, văn hóa của quốc gia này chịu sự “va đập” mạnh của văn hóa
phương Tây. Nhật Bản là quốc gia đã hội nhập từ khá sớm, kinh tế đạt
được nhiều thành tựu, nhưng về mặt văn hóa cũng chịu sự tác động của văn
hóa phương Tây. Còn Hàn Quốc là một quốc gia đặc thù về
địa lý, thể chế
chính trị. Đặc biệt, Nhật Bản và Hàn Quốc lại là hai quốc gia vẫn đang có
bộ phận quân đội Hoa Kỳ đồn trú, đã đưa lại những “va chạm” nhất định
giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. 15
Ở khu vực Đông Nam Á, đề tài lựa chọn ba quốc gia là Thái Lan,
Malaysia và Singapore. Trong ba quốc gia này, Thái Lan thuộc Đông Nam
Á lục địa, lấy Phật giáo là quốc giáo và thể chế chính trị quân chủ lập hiến với
vai trò quan trọng của nhà Vua và Hoàng tộc. Malaysia và Singapore là những
nước thuộc Đông Nam Á hải đảo. Tuy nhiên, Malaysia là quốc gia lấy Hồi
giáo là quốc giáo, thể chế quân chủ lập hiến với vai trò to lớn của Quốc
vương. Singapore là quốc gia thành phố, trong
đó 75 % là người gốc Hoa,
có truyền thống Nho giáo, nhưng đã nhanh chóng hội nhập quốc tế và trở
thành một “con Rồng” trong bốn con Rồng Đông Á.
5.2. Nội dung nghiên cứu
- Về nội hàm văn hóa và con người. Có nhiều định nghĩa về văn hóa,
tuy nhiên trong công trình này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa của Hồ Chí
Minh về văn hóa. Đây cũng là định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa
của Việt Nam lựa ch
thận trọng.
Tư tưở
ng Hồ Chí Minh và những quan điểm chỉ đạo của Đảng về văn
hóa và phát triển văn hóa ngoài ý nghĩa phương pháp luận, còn có tác dụng
giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài về phát triển văn hóa. Điều này có
nghĩa rằng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là sự phát triển văn hóa và con
người của các nước Đông Á được đặt trong mối tương quan với phát triển
kinh tế, xã hộ
i, chính trị, đồng thời đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế của
các quốc gia này.
5.3. Bố cục
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và hợp đồng đã ký kết, bản Báo cáo tổng
hợp kết quả nghiên cứu của đề tài được chia thành 5 chương, bao gồm:
Chương một - Một số nhân tố cơ bản tác động đến sự phát triển văn
hóa và con ngườ
i Đông Á.
Chương hai - Sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông
Bắc Á
Chương ba - Sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông
Nam Á.
Chương bốn - Đặc điểm và sự tác động của văn hóa, con người đối
với sự phát triển ở Đông Á.
Chương năm – Bài học kinh nghiệm phát triển văn hóa và con ng
ười
Đông Á đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
17
CHƯƠNG MỘT
MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI ĐÔNG Á
Sự phát triển văn hóa và con người ở Đông Á luôn chịu sự tác động
hay ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau. Để thuận tiện cho việc tiếp
cận khi tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi tạm thời phân chia thành hai nhóm
nhân tố bên trong và bên ngoài. Tuy nhiên, khái niệm “bên trong” và “bên
ngoài” ở đây có ý nghĩa tương đối. “Bên trong”
được hiểu là bên trong khu vực,
bên ngoài quốc gia. “Bên ngoài” có nghĩa là bên ngoài quốc gia và khu vực.
I. NHÓM NHÂN TỐ BÊN TRONG
Có nhiều nhân tố bên trong tác động đến sự phát triển văn hóa và con
người của Đông Á. Tuy nhiên, nổi bật trong số đó là các nhân tố: Sinh thái
nhân văn, kinh tế, chính trị, xã hội và một số giá trị văn hóa truyền thống.
1. Nhân tố địa lý sinh thái nhân văn
Văn hóa Đông Á gắn liền với một không gian có giới hạn gần như
ổn
định, có điều kiện địa lí riêng mang theo những khả năng và quy định nào
đó tạo nên những nét khác biệt của mỗi nền văn hóa, khu vực văn hóa trên
hành tinh này. Kết quả là từ những thách thức lớn lao thậm chí khắc nghiệt
của tự nhiên và sự sống còn trong đấu tranh chống ngoại xâm, con người
Đông Á đã kiên cường chống trả và sáng tạo ra nền văn hóa mang đặc
trưng riêng, khác với văn hóa ph
ương Tây.
1.1. Điều kiện địa lí tự nhiên vùng Đông Á
Về mặt địa lý, Đông Á nằm ở bờ Tây Thái Bình Dương vừa có lục địa
gồm rừng núi và đồng bằng, vừa có biển đảo và bán đảo; là khu vực khí hậu gió
mùa tương đối rõ rệt. Khí hậu trải dài từ Bắc xuống Nam vừa có vùng hàn đới,
tuệ của nguồn nhân lực Nhật Bản sau này.
Lúa gạo được trồng khắp nơi ở Đông Nam Á lên tới phía Nam Trung
Quốc, điều này đã phổ biến hóa chế độ
ăn thực phẩm là thực vật. Lúa nước
1
Có tài liệu phân chia tỷ mỉ hơn, bao gồm: Hàn ôn đới, Trung ôn đới, Noãn ôn đới (ấm
áp), Á nhiệt đới và Nhiệt đới. Chỉ riêng về gió mùa, đã có sự khác nhau giữa “gió mùa
ôn đới” và “gió mùa nhiệt đới”.
http://www.teachercn.com/ISal/Cydlja/2006-1/1/200601224719245_3.html20
có ưu thế là được trồng trong khoảng không gian ổn định từ năm này qua
năm khác và mãi mãi. Phần lớn công việc nhà nông được làm bằng công cụ
thô sơ, trâu bò được sử dụng tạo ra sức kéo khi cày bừa đất nặng nhọc, nhất
là ở những ruộng nước bùn. Cùng với công việc trồng lúa, nghề làm vườn
với sức lao động bằng tay cũng có mặt khắp nơi, trong điều kiện như v
ậy,
việc ăn thịt sẽ là một sự phí phạm. Súc vật và cả con người đều được nuôi
bằng thóc gạo. Con người cũng thích nghi với chế độ ăn các loại gạo đó.
Hệ quả của chế độ canh tác lúa nước tạo ra sự ổn định và phát triển
kinh tế xã hội, tăng dân số rất nhanh ở khu vực Đông Á so với chế độ ăn
thịt và s
ữa của các dân tộc du mục. Chỉ cần một hecta có thể nuôi sống
được từ sáu đến tám người nông dân với chế độ ăn thực phẩm từ thực vật.
Điều này cho thấy chế độ ăn thực vật là một trong những nguyên nhân đã
tạo ra sự đột biến dân số tăng lên rất nhanh ở khu vực Đông Á, đặc biệt ở
Trung Quốc và Indonexia, sớm tạo đ
iều kiện hình thành nền văn minh lúa
ở phía Bắc như Hoàng Hà, người Trung Quốc ngàn năm nay chố
ng lại những
trận lũ lụt thảm khốc thường xuyên xảy ra, bằng cách vừa khơi dòng chảy vừa
phải đắp đê dọc dài theo hai bờ sông. Khắp khu vực Đông Á, từ những vùng
đất bằng ở Java, Philipin, Nhật Bản hay vùng Quảng Châu phía Đông Nam
Trung Quốc, nhờ tre nứa mọc phổ biến thành rừng, người ta đã biết dùng
các cây tre nối thành hệ thống dẫn nước, hoặc làm những “c
ọn nước” đưa
nước từ nguồn rất xa về phục vụ cho việc tưới tiêu và sinh hoạt. Tất cả
công việc này được diễn ra theo những quy định chặt chẽ về lao động và
nghiêm khắc về chế độ tưới tiêu buộc mọi người phải chấp nhận và tuân thủ.
Việc trồng lúa ở Đông Á chắc chắn xuất hiện từ Thiên niên kỉ thứ II
trước Công nguyên,
ở những vùng đất thấp dọc theo các con sông, dần dần
được mở rộng ra những vùng đất có thể tưới tiêu được; thêm nữa kinh
nghiệm sản xuất cũng được đúc kết đặc biệt là trong việc lựa chọn được các
giống lúa chịu hạn, có năng suất cao và ngắn ngày… Từ đó, những cộng
đồng cư dân ngày một lớn dần, từ gia đình, dòng họ tới quốc gia vớ
i một
chế độ chính trị độc đoán, quan liêu, đại diện cho nhà nước là hệ thống
những viên quan cai trị ở khắp vùng Đông Á. Cố nhiên cội nguồn văn hóa
lúa nước cũng còn nhiều vấn đề cần phải bàn; tuy nhiên, chưa bao giờ
người ta quên tầm quan trọng thậm chí sự ràng buộc về hiện thực của một