TRầN LÊ BảO
Nghiên cứu Trung Quốc
số 3(91) - 2009
35
pgs.ts trần lê bảo
Trờng Đại học S phạm Hà Nội i cng ng dõn tc núi
riờng v mi khu vc núi
chung, trong quỏ trỡnh
tng tỏc vi t nhiờn v xó hi, u to
cho cng ng v khu vc sng ca mỡnh
nhng giỏ tr vn húa riờng. Nhng giỏ tr
vn húa ny c sng lc, bo lu theo
lch s, s tr thnh giỏ tr vn húa truyn
thng ca mi cng ng, mi khu vc.
Khu vc ụng vi c im riờng ca
khụng gian vn húa, cựng vi nhng c
thự v a lý, v tc ngi, v kinh t-xó
hi v nhng giao lu vn húa gia cỏc
cng ng trong v ngoi khu vc, ó to
nờn mt s giỏ tr vn húa truyn thng
khỏc bit so vi nhng khu vc khỏc.
khớ hu khỏc nhau tri di t Bc xung
Nam. Khớ hu bin v lc a p i to
M
Một số giá trị văn hóa truyền thống
Nghiên cứu Trung Quốc
số 3 (91) - 2009
36
thnh bn mựa trong khu vc ụng .
iu ỏng núi l khu vc ny cú mt th
mnh v c dõn, vi hn 1,5 t ngi,
khin cho nhiu ni khỏc trờn th gii
khụng th cú c. S lng c dõn ụng
chim khong 40% dõn s chõu hay
1/4 dõn s th gii. Mt dõn s ni õy
khong 230 ngi/km
2
gp 5 ln mt
bỡnh quõn trờn th gii. Vi s dõn ụng
o, mt dy c, ngay t xa xa c
dõn ụng ó bit tỏc ng vo mụi
trng t nhiờn v xó hi, lao ng sỏng
to, to ra nn vn minh lỳa nc, cựng
nhiu hng s vn húa c ỏo khỏc vi
cỏc khu vc xung quanh.
2. Nhng giỏ tr vn húa truyn thng
ca cỏc cng ng c dõn khu vc ụng
Tiờn, Nht Bn v Vit Nam cựng chung
sng; mi cng ng dõn tc li cú nhng
bn sc khỏc nhau, song xột v tiờu chớ
loi hỡnh ca khu vc, cú th coi Trung
Quc l mt khu vc loi hỡnh tiờu biu
cú th xỏc nh nhng giỏ tr chung ca
vn hoỏ ụng . Bi my lý do sau: th
nht, Trung Quc cú a hỡnh rng ln
nht v bao gm cỏc yu t a hỡnh a
dng cú c rng nỳi, ng bng v bin
ht sc tiờu biu cho khu vc ụng . Th
hai, Trung Quc l nc ụng dõn nht
chng nhng so vi khu vc m nht c
th gii (khong 1,3 t ngi). iu quan
trng hn Trung Quc l mt trong nm
nụi vn minh ca nhõn loi, cng l mt
nn vn minh tiờu biu ụng , ỏnh
sỏng vn minh õy cú sc lan to, nh
hng n vn hoỏ cỏc cng ng dõn tc
trong khu vc ụng v ngoi ụng .
Về loại hình, văn hoá Đông thuộc
văn hoá phơng Đông có nguồn gốc thiên
về văn hoá nông nghiệp, khác với văn
hoá phơng Tây thuộc nguồn gốc văn
hoá thiên về du mục và thơng nghiệp.
Từ hai loại hình cơ bản này có thể làm rõ
hơn sự khu biệt giữa văn hoá phơng
Đông (trong đó có văn hoá Đông ) và
văn hoá phơng Tây.
TRầN LÊ BảO
phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Nơi
sinh sống chủ yếu phải là những vùng
đồng bằng, có sông ngòi. Nghề chính là
trồng lúa trên đồng ruộng, nên cách
sống là phải định c, nhà cửa ít di dời,
sống hài hoà với tự nhiên, luôn quan
tâm đến khí hậu, thời tiết mùa vụ,
nguồn nớc, đất đai canh tác, cây cối
quanh môi trờng sống. Cũng vì vậy, họ
luôn cầu mong ma thuận gió hoà, ngô
lúa tốt tơi, con cháu sinh sôi luôn quần
tụ bên nhau.
Về lối t duy, hai loại hình văn hoá
cũng tạo nên những khác biệt của hai
kiểu t duy trái ngợc. Đối với c dân
gốc nông nghiệp phơng Đông, cuộc sống
dờng nh hoàn toàn lệ thuộc vào tự
nhiên, đối tợng phải quan sát và theo
dõi của họ vừa rộng (trông trời, trông
đất, trông mây, trông ma, trông gió), lại
vừa dài (trông ngày, trông đêm). Mặt
khác, nhiều nơi nhờ tự nhiên ban tặng
cho nguồn nớc với nhiều phù sa màu
mỡ, nhiệt độ và độ ẩm cao, ma nắng
thuận lợi, chỉ bỏ ít sức lao động mà vẫn
thu hoạch vì vậy họ chỉ cần thuận theo
tự nhiên mà sống, cũng chẳng cần đi sâu
vào phân tích, lý giải nh các cộng đồng
gốc du mục phơng Tây; cho nên t duy
của họ là t duy trực giác, mang tính
cụ thể thành các quy luật khoa học. Vi
vậy vn hoa phng Tây sản sinh ra
nhiều trị giá, nhiều nha khoa hoc.
Sự tơng đồng về loại hình nguồn gốc
đã đem lại những mô hình ứng xử đối
với tự nhiên và xã hội, mô thức t duy
gần gũi nhau, khiến các cộng đồng Đông
A có những tiền đề hết sức thuận lợi để
gặp gỡ, giao tiếp và quan trọng là đồng
cảm, dễ hoà hợp với nhau cung vi s
thinh vng chung cua khu vc.
c trng c bn khỏc:
T nhng c trng cú tớnh cht gc
ngun chỳng ta cú th thy nhng c
trng c bn khỏc c phỏi sinh: l c
trng v t chc cng ng. Do iu kin
phi i mt vi nhiu thiờn tai, cn huy
ng sc lc ca nhiu ngi, do nhu cu
sn xut nụng nghip, nờn c dõn nụng
nghip cú nhu cu liờn kt cng ng,
tng cng nhõn lc trong vic tr thy
cho ng rung cho nờn c dõn nụng
nghip rt coi trng gia ỡnh v dũng tc. Gia
ỡnh chớnh l ht nhõn liờn kt cht ch
nhng con ngi trong gia ỡnh v dũng
tc trc ht duy trỡ s sng bi li
canh tỏc lỳa nc sau ú l duy trỡ nũi
ging. Cng vỡ sn xut nụng nghip, nờn
c dõn nụng nghip thớch li sng trng tỡnh
cm, ly tỡnh ngha lm u. Li sng
l Vit Nam, Triu Tiờn, Nht Bn v Hn
Quc. Nhng khu vc núi trờn ch yu l
vựng vn húa lỳa nc, cú c ch sỏch
phong. Ngoi ra cũn cú mt s dõn tc du
mc nh dõn tc Mụng C, Tõy Tng, tuy
nm trong vựng vn húa ch Hỏn, nhng
khụng s dng ch Hỏn.
Sau tht bi ca Chin tranh Thuc
phin (1840), th lc Trung Quc b suy
gim mnh, cỏc nc chu nh hng bi
ch sỏch phong ca Trung Quc, bt
u nghi ng v a v ca ch Hỏn. c
bit sau Th chin II vic cm s dng ch
Hỏn c coi l s thoỏt khi v trớ phiờn
thuc ca cỏc nc trong khu vc v cỏc
nc trong khu vc ụng ó sỏng to
v s dng ch vit riờng cho cng ng
mỡnh.
TRÇN L£ B¶O
Nghiªn cøu Trung Quèc
sè 3(91) - 2009
39
Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh
tế mạnh mẽ của Nhật Bản, Hàn Quốc,
Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc đại lục
và Việt Nam; cộng với kinh nghiệm thành
công của việc thành lập EU ở châu Âu, đã
có những ý kiến kêu gọi thành lập Cộng
hoà mục, sự ổn định và trật tự vốn là hình
ảnh một xã hội lý tưởng. Muốn chống loạn
cứu đời, Nho giáo đề xuất phương án tổ
chức xã hội và cai trị tốt, đồng thời chăm
lo giáo hoá con người chu đáo.
Muốn cai trị tốt, cần thiết lập một xã
hội có trật tự trên dưới phân minh, sống
hoà mục ổn định, an cư lạc nghiệp và ít
xáo trộn. Nho giáo lấy mẫu hình gia đình
để hình dung thế giới và coi sự êm ấm gia
đình (cha từ, con hiếu, anh em, vợ chồng
hoà thuận) là mẫu mực của xã hội lý
tưởng. Nho giáo chủ trương một ông vua
toàn quyền, làm chủ mọi mặt kinh tế,
chính trị, quân sự, tư pháp, tôn giáo. Vua
là cha của cả nước và quan cũng là cha mẹ
của dân. Với tư cách là cha mẹ, vua có
trách nhiệm sắp xếp vị trí thứ bậc và phân
phối quyền lợi cho mọi người quan và dân
và mọi người dù là quan hay dân, đều
phải theo thân phận địa vị mà có quyền
lợi và trách nhiệm đối với vua với nước.
Phải tôn trọng mệnh vua, tuân thủ trật tự
đã lập theo phận vị, không được tranh
giành. Quan hệ giữa mọi người được quy
thành lễ nghĩa để mọi người lấy nó làm
chuẩn mực mà sống theo. Lễ nghĩa thậm
chí được coi trọng hơn luật pháp. Vì vậy
cai trị bằng đức là cách cai trị tốt nhất.
Người cầm quyền cần có đức, làm gương
C.N) “bài truất bách gia, độc tôn Nho
thuật” thì Nho giáo thành công cụ ý thức
hệ của chế độ chuyên chế, kéo dài từ đời
Hán cho mãi đến đầu thế kỷ XX, không
chỉ ở Trung Quốc mà được cả các nước
Đông Á học theo.
Gắn bó với chế độ chuyên chế, Nho
giáo không mất đi nội dung là học thuyết
chính trị - đạo đức, mà còn mang thêm
hình thức tôn giáo. Hình thức tôn giáo đó
được thể hiện ở ba mặt: Sách vở thánh
hiền được coi là kinh điển thiêng liêng.
Nội dung học thuyết được thần học hoá.
Các nhà tư tưởng Nho giáo được thần hoá,
sắp xếp thành đạo thống, được thờ phụng
trong văn miếu.
Thực tế hàng chục thế kỷ, Nho giáo vẫn
tồn tại như một tôn giáo, nhất là khi chế
độ quân chủ chuyên chế có ý thức sử
dụng Nho giáo như một công cụ tôn giáo
để cai trị, bên cạnh chính quyền và quân
đội. Nho giáo tồn tại như một tôn giáo với
những cơ sở thực tế của một nền văn minh
nông nghiệp với xu hướng tôn giáo đa
thần và thể chế tập trung chuyên chế trên
cơ sở làng họ phân tán cùng với truyền
thống tôn tộc lâu đời.
Và trong tình hình đó, nhà nước xã hội
đã thần hoá thánh hiền, biến Nho giáo từ
là một học thuyết chính trị đạo đức thành
hiếu học, trọng văn hoá, trọng người có
chữ trong cả cộng đồng.
Đối với tổ chức cộng đồng, tu dưỡng cá
thể lẫn tâm lý tôn giáo, Nho giáo đều có
tác dụng tạo ra một xã hội trật tự, ổn định.
Con người sống với nhau theo tình nghĩa,
TRÇN L£ B¶O
Nghiªn cøu Trung Quèc
sè 3(91) - 2009
41
hòa mục. Đồng thời Nho giáo cũng giáo dục
con người lòng nhân ái, trọng nghĩa tình, biết
tự kìm chế và giữ gìn đạo đức. Bên cạnh đó,
Nho giáo cũng có những hạn chế, tiêu cực.
Đó là sự say mê với cái khung cảnh điền
viên, xóm làng, sự gắn bó với quê hương
tổ tiên và quan điểm đối lập với nghĩa và
lợi làm cho con người thích cầu an, tầm
mắt chật hẹp, sợ mạo hiểm, khó thích ứng
với cạnh tranh, với kinh tế hàng hoá, với
đô thị, nên gây trở ngại cho sự nghiệp
hiện đại hoá.
- Một tác động khác cũng cần nói đến là
Nho giáo hay kiểu tôn giáo Đông Á đã đẻ
ra một xu hướng tâm linh rất đặc sắc.
Con người luôn có nhu cầu ăn no mặc
ấm, ở yên, vui chơi Ngoài nhiều nhu cầu
về vật chất và tinh thần đó, con người
chung. Trước Trời, con người thấy gần
hơn, không cảm thấy yếu đuối, bé nhỏ, tội
lỗi như đứng trước chúa sáng thế. Trời
cũng theo dõi, thưởng phạt, nhưng hiếu
sinh không đe doạ bằng thiên đường địa
ngục và cuộc phán xét cuối cùng. Nho
giáo không có quan niệm về ngày tận thế.
Vì vậy Kinh Dịch - một trong những bộ
kinh của Nho giáo kết thúc không ở quẻ
Ký tế (đã hoàn thành) mà ở quẻ Vị tế
(chưa hoàn thành) chính là như vậy.
Con người vốn thiện, mang sẵn tính
nhân nghĩa, sống với mọi người xung
quanh theo tinh thần đạo đức như vậy.
Tất nhiên vì tham dục con người có thể
làm điều ác. Nhưng mỗi người cần tu
dưỡng để giữ tính thiện, để đem lại phúc
đức cho con cháu sau này. Con người
sống trong dòng giống lâu dài và giữa
nhân quần, nên không cảm thấy nỗi cô
đơn, sự tuyệt vọng. Họ thấy sống với bà
con, chết về với cha ông và hồn vẫn quanh
quẩn với con cháu. Cho nên chết không
gây ra cảm giác chấm dứt, tuyệt vọng.
Cũng là sự hoà đồng giữa Trời, Đất và con
Người. Như vậy, đối với thiên nhiên, con
người không có thái độ thù địch.
Ở đây, cái yên vui của Nho giáo không
khỏi là đơn giản và có phần ngây thơ.
Một số giá trị văn hóa truyền thống
gc ch khụng phi sn vt c sỏng to
tu ý ca Chỳa, thỡ ngc li tụn giỏo ú
tuy cú kỡm hóm s phỏt trin ca khoa hc
v trit hc, nhng nú vn cũn cn thit
v v an i, to ra tõm linh thanh thn
trc nhng bin ng ngy cng d di
ca kinh t th trng v s khng hong
ca mụi trng sng trong xu th hi
nhp.
T u th k XX, Nho giỏo nú ó tan
ró, nhng cha phi l mt i. Vic tin
Tri, Mnh, vic th cỳng qu thn, th
cỳng t tiờn ó tỏch khi nhau quy t theo
hng khỏc, nhp vo nhng h thng
khỏc nh vo n chựa, vo di tớch vn
hoỏ, vo nh th dũng h Nu Nho giỏo
ch l mt tụn giỏo c th, chc s ỏnh
giỏ v nú khụng phc tp lm. Nhng nu
nhỡn ú l mt hỡnh thc tụn giỏo ụng ,
mt cung cỏch tớn ngng, mt xu hng
tõm linh, thỡ nh hng ca Nho giỏo
cha phi l ó ht. Nhng tụn giỏo ó v
ang hỡnh thnh vn l i theo qu o
dung hp ca Tam giỏo.
Tuy hc thuyt Nho giỏo cú nhng hn
ch, song khụng th ph nhn hon ton
nhng giỏ tr vn húa cng nh úng gúp
ca nú i vi vic hỡnh thnh nhõn cỏch
con ngi ch th xó hi v mụ hỡnh t
chc cng ng ca xó hi Trung Hoa
hoà mục, ổn định, trật tự và đưa con
người trở về với cái “thiện” vốn là bản
tính của nó.
Những đóng góp đó đã tạo nên những
phẩm chất, mẫu mực trong con người
Nho giáo thủa trước, và một mô hình xã
hội trật tự yên ổn có kỷ cương nền nếp.
Tuy nhiên, xây dựng con người mới một
xã hội mới không hoàn toàn tách rời việc
cải tạo con người cũ và xã hội cũ. Con
người là một thực thể xã hôi mang tính
lịch sử. Xã hội chuyển từ hình thái này
sang hình thái khác không thể không
mang theo những giá trị văn hóa truyền
thống. Mọi cái tích luỹ thành để trở thành
truyền thống về cơ bản đều thích nghi với
một hoàn cảnh cụ thể nào đó, một hình
thái kinh tế xã hội nào đó. Phải biết gắn
chặt với thực tiễn ngày nay mà kế thừa và
phát huy truyền thống mới có thể tiến
bước vững mạnh, nhanh chóng. Vì vậy
con người chịu ảnh hưởng của văn hóa
Hán ngày nay cũng có nhiều đổi mới so
với giá trị truyền thống.
- Con người Đông Á ngày nay với tinh
thần khoa học hiện đại, không sợ mệnh
trời, chủ động cải tạo tự nhiên và xã hội kể
cả thay đổi số mệnh của mình. Con người
ngày nay được trau dồi về tư tưởng, tình
cảm, tri thức, tài năng và thể lực không
hóa truyền thống cơ bản của khu vực
Đông Á. Đó là những giá trị có tính gốc
nguồn từ cư dân trồng lúa, những giá trị
trong tổ chức cộng đồng từ quan hệ gia
đình dòng họ đến làng xã quốc gia và một
giá trị chung nổi bật trong giao lưu và tiếp
biến văn hóa trong vùng văn hóa Hán đó
là ngôn ngữ Hán và Nho giáo.
Những giá trị này có vai trò quan trọng
trong việc hình thành nhân cách và tổ
chức cộng đồng của con người Đông Á.
Nó trở thành truyền thống, thành sức
mạnh tinh thần vô cùng mạnh mẽ độc
hữu của cư dân khu vực Đông Á, động
viên họ tiến bước vào thế kỷ XXI, hội nhập
với thế giới trong xu thế toàn cầu hóa.
Mét sè gi¸ trÞ v¨n hãa truyÒn thèng…
Nghiªn cøu Trung Quèc
sè 3 (91) - 2009
44
3. Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu
do sự tác động mạnh mẽ của khoa học
công nghệ nhất là cộng nghệ thông tin và
công nghệ sinh học, làm biến đổi nhanh
chóng đời sống toàn hành tinh từ kinh tế,
chính trị đến an ninh, văn hóa giáo dục,
môi trường… Toàn cầu hóa cũng tạo cơ
đa số các cộng đồng Đông Á gìn giữ, tôn
trọng và đề cao. Tuy nhiên, giá trị văn hóa
hoàn toàn không phải là cái gì bất biến.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, với sự tác động ghê gớm của nền
kinh tế thị trường thì những giá trị văn
hóa mang tính chất khu vực, quốc gia, dân
tộc… đều chịu những biến đổi nhất định.
Trong sự biến đổi đó, rõ ràng các giá trị có
tính nhân loại, giá trị có tính toàn cầu nói
chung được tăng lên thì lẽ tự nhiên các giá
trị văn hóa khu vực, dân tộc sẽ giảm
xuống. Vấn đề là cần giải quyết thỏa đáng
mối quan hệ giữa truyền thống và hiện
đại, giữa tính nhân loại và tính dân tộc
trong các nền văn hóa. Trong thời đại toàn
cầu hóa về văn hóa, Liên hiệp Quốc đang
kêu hãy đối thoại giữa các nền văn hóa, biết
bao dung văn hóa để các cộng đồng tránh khỏi
những bất đồng, những xung đột về các giá trị
văn hóa. Toàn cầu hóa về văn hóa không có
nghĩa biến mọi nền văn hóa thành một mô
hình văn hóa của một cường quốc nào đó,
mà là sự cổ vũ cho đa dạng văn hóa trong
khu vực và trên toàn hành tinh.
Khi hội nhập quốc tế, các giá trị văn
hóa truyền thống lẫn các giá trị khác
không còn bị khép chặt trong biên giới
chật hẹp của mỗi quốc gia dân tộc. Một
giỏ tr vn húa ca cng ng ụng
nhỡn chung l c bo lu, song cng cú
nhiu bin i khỏc trc. Nu nh trc
õy hiu hc do ham hiu bit, khỏm
phỏ; mc ớch hc l lm ngi, thỡ
ngy nay tinh thn hiu hc vn cũn ph
bin, nhng mc ớch hc ó thay i i
nhiu, nht l trong la tui tr. Vic hc
khỏm phỏ, hiu bit, hc lm ngi
gi õy khụng quan trng bng hc cú
a v xó hi cao, hc cú nhiu tin
iu ỏng lo ngi l ch nhng giỏ tr
nhõn vn, phn khoan dung ca s hc cú
nguy c b y ra ngoi l ca s hc.
Cỏnh ca hi nhp m ra cng ng
ngha vi cỏc giỏ tr vn húa khỏc, cú c tt
v xu cựng du nhp. Cựng vi tri thc
mi ca nn vn minh l nhng li sng
thc dng, cc oan, v k cng trn vo
khu vc ụng ang e da git cht giỏ
tr chõn chớnh ca s hc. Vỡ vy cn giỏo
dc cho mọi cụng dõn c bit th h tr
trong mi cộng ng thy c ý ngha
chõn chớnh ca vic hc tp, coi tinh thn
hiu hc l mt giỏ tr truyn thng ca
mi dõn tc, xỏc nh mc ớch ca hc
tp l tr thnh con ngi chõn chớnh
va cú phm cht o c va cú trỡnh
chuyờn mụn cao gúp phn xõy dng
t nc, thỳc y s tin b ca xó hi,
truyn thng ngy nay ó b m nht. Xó
hi hin i nhiu ln lờn ỏn li sng
buụng th, thanh niờn nam n cú quan h
vi nhau tin hụn nhõn ngy cng nhiu.
Quan h v chng trong cỏc gia ỡnh cng
khỏc trc. bn vng ca cỏc gia ỡnh
cng mng manh hn. S cp v chng ly
Một số giá trị văn hóa truyền thống
Nghiên cứu Trung Quốc
số 3 (91) - 2009
46
hụn ngy cng tng v iu ỏng lo ngi
l thi gian ly hụn sau khi kt hụn v
tui ly hụn ngy cng thp dn. Rõ rng
giỏ tr gia ỡnh truyn thng ang b phỏ
v nghiờm trng. Lý gii iu ny cng
khụng h n gin. Tuy nhiờn cú th thy
rng quan h hụn nhõn v gia ỡnh cú xu
hng thc dng v li chy theo ng
tin, ớch k ngy mt tng. Nhiu cuc
hụn nhõn hon ton khụng phi xut phỏt
t tỡnh yờu ca c hai phớa m hon ton
l nhng tớnh toỏn v a v xó hi, v li
ớch vt cht. in hỡnh l nhng cuc hụn
nhõn vi ngi nc ngoi Vit Nam,
nhng cụ gỏi Vit xp hng ngi nc
ngoi cú tin chn ly lm v, bt k
i quỏ nhiu. Nc ụng dõn nh Trung
Quc vn l cỏi nụi ca Nho giỏo giỏo dc
con ngi bit tụn trng gia ỡnh, dũng h
nhng cng ó phi lờn ting cnh bỏo
nhiu v ly hụn luụn xy ra, li sng thỏc
lon, buụng th c sỏch bỏo vit ra
nhan nhn thnh c mt tro lu vn hc
tỡnh dc. t nc Nht Bn hc tp
phng Tõy, phỏt trin c trm nm nay,
nhng vn gia ỡnh cng nhiu bc
xỳc, s ngi c thõn tng, gia ỡnh
khụng bn vng cng lm Cú th núi s
phỏ v cỏc khuụn kh gia ỡnh s kộo theo
nhiu hu qu khụn lng i vi xó hi
ụng . Khi gia ỡnh khụng cũn bn cht,
b m ly hụn, con cỏi mt ch da v c
vt cht v tinh thn, khụng ngi chm
lo, c bit tõm lý b tn thng nng n.
T ú cỏc t nn v tr em lang thang,
nghin hỳt, cp git, im, bng ng,
git ngi mang tớnh cht xó hi en
Tht ra nhng gia ỡnh ly hụn thỡ mi
thnh viờn u phi chu hu qu ca s
vic ny, nhng nhy cm v thit thũi
nht l con cỏi. Nh vy tng gia ỡnh t
bo ca xó hi khụng cũn yờn n thỡ c xó
hi lm sao cú th gi l trong lnh v yờn
n. Mt trong nhng c s ca s tin b
xó hi do vy ó b tn thng, b e da
ngay khõu quan trng y l gia ỡnh.
bo v v lm phong phỳ nhng giỏ tr
vn húa truyn thng thụng qua tip nhn
cú chn lc tinh hoa nhng giỏ tr ca cỏc
nn vn húa khỏc, cng quan trng nh
tỡm ra nhng bin phỏp hu hiu nht
chng li s lai cng, cao hn l b ng
húa bi cỏc nn vn húa khỏc.
Trong iu kin ton cu húa hin nay,
cỏc cng ng ụng nu bit kt hp
hi hũa cỏc giỏ tr truyn thng vi cỏc giỏ
tr hin i, bit loi b nhng yu t li
thi, gi ly nhng tinh hoa, tng cng
giao lu vn húa vi quc t tip nhn
nhng giỏ tr vn húa mi, s vt qua
c mi thỏch thc, mi cú th khi dy
c vai trũ ng lc ca cỏc giỏ tr vn
húa truyn thng, phc v cho s phỏt
trin v tin b xó hi. Mt khỏc cỏc cụng
ng ụng , cng cn ch ng hi
nhp kinh t quc t, theo tinh thn phỏt
huy ti a ni lc ca truyn thng ng
chng ng vn chia s nhng kinh
nghim, nc giu giỳp nc nghốo,
nc vn minh dỡu dt nc chm phỏt
trin chc chn ụng s cú nhiu con
Rng hn na, phc hng ụng gúp
phn phỏt trin v n nh khu vc cng
nh th gii.