MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đã có từ lâu đời và ngày càng
phát triển mạnh mẽ vào thập niên cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của
thế kỷ 21. Hình thành một ngành kinh tế mũi nhọn, mỗi năm đóng góp hàng tỉ
đồng vào ngân sách nhà nước. Theo chiến lược của ngành Thủy sản đến năm
2010 xuất khẩu thuỷ sản đạt 891 nghìn tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt
trên 4 tỉ USD. Tuy nhiên theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt
Nam (VASEP) cho biết: trong năm 2008, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt
trên 1,2 triệu tấn, trị giá đạt trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối lượng và
19,8% về giá trị so với năm trước.
Bên cạnh những kết quả tăng trưởng vượt bậc như vậy đồng thời nguồn
tài nguyên Thuỷ sản cũng bị khai thác quá mức làm cho nguồn lợi thuỷ sản tự
nhiên nói chung và nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt nói riêng ngày càng trở nên
cạn kiệt, một số loài cá trở nên quý hiếm và có nguy cơ diệt vong như cá
Chiên, cá Anh vũ,…trong đó có cá Chày mắt đỏ cần được bảo tồn và phát
triển.
Trong các thuỷ vực nuôi cá nước ngọt bệnh làm giảm sinh trưởng của
cá cá chậm lớn, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hoặc gây tử vong cho
cá, dẫn đến thiệt hại lớn cho nghề nuôi cá. Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên
nhân gây ra những bệnh nguy hiểm cho cá đặc biệt ở giai đoạn cá hương và
cá giống làm cho cá chết hàng loạt như nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán lá
đơn chủ, giun và giáp xác... Đồng thời, bệnh do KST còn là nguyên nhân mở
đường cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập gây bệnh như vi khuẩn,
nấm…
Bởi vậy, trong quá trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi muốn đạt tỉ lệ
sống cao, cá phát triển tốt thì việc theo dõi bệnh thường xuyên là việc làm rất
đã phát hiện ra hai loài rận cá mới trong khu hệ cá nước ngọt ở đây. Sau một
năm cũng ở Thái Lan, ông lại có những mô tả về loài giận cá mới ký sinh trên
cá Trê
Theo M.A.Tubangi, 1947, tại Phillipine đã nghiên cứu phát hiện một
số loài Sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Digenea), giun tròn và
giun đầu móc, góp phần làm phong phú thêm những phát hiện về khu hệ KST
cá nước này.Theo Velasquez, 1951 đã phát hiện mô tả về một loài Giáp xác
ký sinh trên da cá đông thời ông cũng có hơn 30 công trình phân loại - nghiên
cứu vòng đời của giun sán ký sinh (Lumalan và Arthus, 1992).
Ngành KST học của Inđônêxia thực sự phát triển là nhờ M.Sachlan,
năm 1952 ông viết cuốn “Notes on the parasites of freshwater fish in
Indonesia”, đây là cuốn sách có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu
khu hệ KST cá nước ngọt tại Phillipine sau này (Arthur, 1996).
Ở Liên Xô, Bychowsky và ctv, 1962 đã giới thiệu bảng phân loại KST
cá nước ngọt ở Liên Xô, trong đó bổ sung 1.211 loài. Bảng phân loại này sau
được tái bản và bổ sung bởi B. Schulman và Gussev (1984;1985) với hơn
2.000 loài.(Đỗ Thị Hoà, 2004)[4]
Tại Ấn Độ, theo I Lan Parperna, 1965 đã công bố 116 loài KST trên cá
nước ngọt, trong đó 20 loài Sán đơn chủ, 13 loài Sán song chủ, 43 dạng ấu
trùng, 7 loài Sán dây cả ở giai đoạn non và giai đoạn trưởng thành, một loài
giun đầu móc, một loài đỉa, 1 loài móc lông và 6 loài giáp xác. Theo tổng kết
của Thapar, 1976 thành phần loài trong khu hệ KST của Ấn Độ ngày một
phong phú: Tính riêng loài sán lá đơn chủ, đến năm 1972 là 80 loài, nhưng
đến năm 1973 thì con số này đã thay đổi lên tới 100 loài.(Hà Ký và Bùi
Quang Tề, 2007)[7]
Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương hợp quốc (FAO), Trung Quốc
là một trong 7 quốc gia có ngành thuỷ sản phát triển vào bậc nhất thế giới.
Theo ông Ms Cen Feng (1998) thì sản lượng thuỷ sản của nước này chiếm
và Henneguya
hemibagri sp. Các tiêu bản hiện đang được lưu giữ tại Phòng sinh học Trường Đại học Sư Phạm Tây Nam Trung Quốc.
Mới đây khi nghiên cứu về Centrocestus formosanus (Trematoda),
Zeng Bo-Ping và Liao Xiang - Hua (2000) cho thấy sự nhiễm của loài Sán
này trên mang cá Trắm cỏ không mang tính mùa vụ, không ảnh hưởng bởi sự
thay đổi của nhiệt độ môi trường. Nghiên cứu giun sán trong khu hệ cá sông
Pearl, tỉnh Quảng Đông, Phan Hongle cũng đã phát hiện và mô tả 6 loài Sán
thuộc họ Bucepbedae, trong đó có 2 loài có tên mới với khoa học. Còn nhiều
những nghiên cứu khác về bệnh cá nói chung và KST nói riêng tại Trung
Quốc.
Không chỉ ở Trung Quốc, Liên Xô, Ấn Độ, Phillipine hay Inđônêxia mà
còn nhiều quốc gia khác như Nhật Bản, Malaysia, Bangladesh… cũng có nhiều
tác giả nghiên cứu KST cá. Yamaguti (1894 - 1976), nghiên cứu về giun sán
trong số những loài Ông tìm thấy trong khu hệ KST ở Nhật Bản là 90 loài và 14
giống có tên mới đối với khoa học.
L.H.Lim và ctv, trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1983 - 1987 phát hiện
54 loài trong khu hệ cá nước ngọt vùng bán đảo Malaysia. Khu hệ cá nhiệt đới
Bangladesh cũng tìm thấy 69 loài giun sán ký sinh trong đó 1 loài thuộc lớp
(Monogenea), 24 loài thuộc lớp (Digenea), 10 loài thuộc lớp (Cestoda), 28 loài
thuộc lớp (Nematoda) và 6 loài thuộc lớp (Acanthocephala)
Theo Arthus, 1992 ở Phillipine, giữa tháng 7 năm 1986 và tháng 2 năm
1990 đã kiểm tra 41 thùng hàng gồm 560 cá nước ngọt nhập khẩu vào nước
này thì 82,9% số thùng bị nhiễm từ một hoặc nhiều loài KST như Trichdina
Ichthyophthyrius, Trypanosoma, Myxobolus, Dactylogyrus, Gyrodactylus
ascocotyle, Bothriocephalus, Lernaea và Argulus.
Theo Subasinghe và ctv, 1992, đã nghiên cứu về sự nhạy cảm của
trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis đối với cá Rô phi (Oreochromis
Langkawi, Malaysia đã phát hiện được một giống, loài mới thuộc lớp sán lá
đơn chủ là Sundatrema langkawiense .
2.2. Tình hình nghiên cứu KST ở Việt Nam
Người đặt nền móng nghiên cứu KST cá ở Việt Nam là Albert
Billet.Ông đã phân loại được Distonum hypselobagri Billet, 1898
(Isoparochis hypse-lobagri) ký sinh trong bóng hơi của cá trê (Bùi Quang Tề,
1999)[9].
Năm 1959-1961 có cuộc điều tra về giun sán ký sinh ở cá biển vịnh
Bắc Bộ do một số nhà KST học ở Liên Xô cũ thực hiện. Điển hình là
Parukhin, P.G. Oschmarin, Yu- L- Mancav, ….Các tác giả tiến hành kiểm tra
trên 66 loài cá kinh tế và phân loại được hơn 200 loài giun sán ký sinh (Bùi
Quang Tề, 1999)[9]
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về KST ở cá nước ngọt được bắt
đầu từ năm 1960 ở miền Bắc và từ sau 1975 thì công việc đó tiếp tục được
làm ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu
Long.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu từ sau năm 1960. Công trình nghiên
cứu đầu tiên về KST và bệnh cá của Tiến sĩ Hà Ký (1960 - 1975), đối với
nhiều loài cá kinh tế miền Bắc. Ông đã phát hiện được 120 loài ký sinh trùng
ký sinh thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ, 10 lớp ký sinh trên các loài cá nước
ngọt tại miền Bắc Việt Nam. Trong đó có 42 loài mới, 1 giống mới đối với
khoa học, xác định được 2 phân họ mới.
Theo Đỗ Thị Hoà và ctv, 1978-1980 nghiên cứu thành phần ký sinh
trùng trên một số loài cá biển tại Khánh Hoà. Kết quả phát hiện được 80 loài
ký sinh trùng ký sinh thuộc 55 giống, 17 bộ, 6 lớp. Trong 80 loài thu được thì
có 46 loài sán, 18 loài giun tròn, 7 loài giun đầu móc và 9 loài giáp xác (Đỗ
Thị Hoà, 2004)[4]
Với khu hệ cá nước ngọt miền Trung và Tây Nguyên, Nguyễn Thị
nhiễm ấu trùng sán lá ruột từ 8,1-48,5% cao nhất là cá Trắm cỏ 48,5% và thấp
nhất là cá Chim trắng. Ngoài ra còn thấy xuất hiện ấu trùng của sán lá gan nhỏ
trên cá Trắm cỏ với tỷ lệ 0,5%. Cũng tại Nam Định nghiên cứu trên 7 loài cá
thịt nuôi thấy rằng tỷ lệ nhiễm sán lá ruột tương đối cao từ 41,7-83,5%. Trong
đó cá Trắm cỏ nhiễm với tỷ lệ 83,5%, cá Mè trắng nhiễm 77,2% và đã thấy ấu
trùng của sán lá gan nhỏ ký sinh trên cá Mè trắng.
Theo Võ Thế Dũng và ctv, 2006, nghiên cứu ký sinh trùng có nguồn
gốc từ cá ở hai loài cá Mú nuôi và ngoài tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cho
thấy cá Mú nuôi có tỷ lệ nhiễm trung bình ấu trùng Metacercaria là 80% và
cường độ nhiễm là 35 ấu trùng/con cá. Trong khi đó, cá Mú ngoài tự nhiên có
tỷ lệ nhiễm từ 86 – 95%, cường độ nhiễm lên tới 176 ấu trùng/con cá.
Theo Trần Thị Kim Chi, 2006, nghiên cứu 8 loài cá nước ngọt ở Nghệ
An và thấy rằng cả 8 loài cá đều nhiễm sán lá ruột thuộc 2 họ là
Heterophyidae, Echinostomatide thuộc các giống loài Haplochis taichui,
Haplochis pumilio, Haplorchis yokogawai, Centrocestus formosanus,
Stellantchasmus falcatus, Echinochamus japonicus. Không thấy nhiễm ấu
trùng của sán lá gan nhỏ trên 8 loài cá đã kiểm tra ở đây.
Nghiên cứu về bệnh sán lá đơn chủ của một số đối tượng cá biển nuôi
tại Khánh Hoà, Đỗ Thị Hoà và Phan Văn Út (2007) đã phát hiện được 2 loài
sán lá đơn chủ ký sinh ở da (Benedenia epinepeli, Neobenedenia sp) và 4 loài
sán lá đơn chủ ký sinh ở mang cá (Pseudorhapdosynochus epinepheli,
Pseudorhapdosynochus sp, Diplectamum sp, Ancytocephalus sp )
Theo Nguyễn Thị Hà, 2007, nghiên cứu về ký sinh trùng có nguồn gốc
từ cá ảnh hưởng đến sức khoẻ con người đã tiến hành điều tra, phân tích trên
759 con cá Song và cá Bống Bớp, cá Đối. Kết quả điều tra nghiên cứu cho
thấy, tỷ lệ cá Bống Bớp nuôi trong ao nhiễm Metacercaria 97,2%, ngoài tự
nhiên là 98,9%; trên cá Song nuôi 47,2%, ngoài tự nhiên cá song không bị
nhiễm. Đã định được 8 loài sán lá song chủ (Trematoda) thuộc 2 bộ, 4 họ, 8
Theo Jean – Francois, 1981 cho biết các loài cá nước ngọt ở nước này
chủ yếu thuộc họ cá chép (Cyprinidae). Đồng thời cũng ở đây nhà khoa học
Danjiang Kon Reservoir đã kiểm tra 53 mẫu cá thì thấy 26 mẫu trong 53 mẫu
nhiễm Nematoda Camallanus cotti Fujita (1927) chiếm tỉ lệ 49,06%.
Theo Li Liam Xiang và Wang Jiangua, 1993 phát hiện một loài mới
Myxidium octospinum thuộc lớp trùng bào tử có sợi tơ kí sinh trong túi nước
tiểu của cá Trắm cỏ ở hồ Bảo An – Trung Quốc. Các tác giả cho biết bào tử
có hình ovan và trên bề mặt có 8 khía. Nhìn bề ngoài trùng tương tự như M.
acanthobramas (Wu & Chen, 1997) và M. hemiculteri (Fen & Wang), 1990
nhưng trùng có kích thước của bào tử nhỏ hơn.
Cùng nghiên cứu về sán lá đơn chủ Bauer O. N., 1969, 1977 cho biết
một con cá mè 2 tuổi có 10,647 trùng kí sinh, cá Chép cỡ 3 - 4,4 cm có
Dactylogyrus kí sinh với cường độ cảm nhiễm 20 - 30 trùng có thể làm chết
cá. Cũng vào thời gian đó ông cho biết ở cá khoẻ mạnh, trọng lượng cơ thể
1,2g, trong khi đó cá bị nhiễm Gyrodactylus chỉ nặng 0,5g đồng thời hàm
lượng bạch cầu tăng và lượng hồng cầu giảm (Bùi Quang Tề, 1997).
Theo Rolbiecki. L là nhà KST học người Ba Lan đã nghiên cứu tính đa
dạng phong phú của khu hệ KST ký sinh trên phân họ cá Chép và phân họ cá
Vược ở Vistula Lagoon từ tháng 12 – 1994 đến tháng 3 – 1997. Ông nghiên
cứu trên 2398 mẫu cá (1091 mẫu cá thuộc phân họ cá Vược và 1307 mẫu cá
thuộc phân họ cá Chép). Kết quả thu được 61 loài KST thuộc các lớp
Monogenea,
Microsphorea,
Protozoa,
Myxozoa,
sp,
Acanthogyrus
tilapiae,
Contracaecum sp, Procamallanus sp, Lamproglena monodi, Lernaea
cyprinacea, Dolops ranarum.
Tại Bulgaria, 2008 S.A. Shukerova và ctv, 2008 nghiên cứu trên họ cá
chép. Kết quả thu được 168 mẫu cá nhiễm ký sinh trùng trên 180 mẫu cá kiểm
tra chiếm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng là 92,2%. 10 loài ký sinh trùng đã được
tìm thấy trong đó có ấu trùng sán dây.
2.4. Nghiên cứu KST trên cá Chày mắt đỏ tại Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu về ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ tại
Việt Nam là tiến sĩ Hà Ký (1968). Dưới đây là thành phần loài ký sinh trùng
ký sinh trên cá Chày mắt đỏ được nghiên cứu tại Việt Nam.
Các loài KST ký sinh trên cá Chày mắt đỏ
Nhóm KST
Loài KST
Nơi
KS
TLN
(%)
CĐN
2-97
Hà Ký (1968)
Hà Ký (1968)
Dactylogyrus squaliobarbi
A. Gussev 1962
Dactylogyrus magnicirrus
Gussev 1955
Trematoda
Nematoda
Mang
Mang
7.06
2
Dactylogyrus anschuricus
Mang
1/3
2
14.12
1-2
Hà Ký (1968)
Mang
2/3
2
Mang
1/3
2
Mang
3/3
2
Mang
21.18
1-3
sey 1988
Agamospirura sp Hà Ký
1968
Dendronucleata
phetnuschewskii
Sokolivskaya 1962
Pseudorhadinollynches
vietnamesis Mora et sey
1989
Larvea lernaea sp
Argylus japonicus Thiele
1900
(1988)
Ruột
1-8
Hà Ký (1968)
Ruột
Mora et Sey
(1988)
Ruột
Mora et Sey
(1988)
3.3. Địa điểm nghiên cứu
- Mẫu cá được thu và phân tích tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy
sản 1. Đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh.
Hình 3.2. Ao thu mẫu cá Chày mắt đỏ
3.5. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích, xác định thành phần giồng loài KST ký sinh
trên cá Chày mắt đỏ giai đoạn cá giống nuôi tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thuỷ sản 1
- Đánh giá mức độ nhiễm KST ký sinh trên cơ thể cá Chày mắt đỏ
3.3. Nguyên liệu
3.3.1. Số mẫu thu, cỡ cá thu
- Thu trong một ao cá giống
- Tổng số mẫu: 105 cá thể
- Cỡ cá thu: Cá giống cỡ 4-10cm
3.3.2 Dụng cụ và hoá chất cần thiết trong nghiên cứu ký sinh trùng trên cá
Dụng cụ và hoá chất cần thiết
- Kính giải phẫu: Thị kính x10
Vật kính x0.62, x0.8, x1.2, x1.5, x2, x2.5, x3, x3.5, x4, x4.5
- Kính hiển vi : Thị kính x10
Vật kính x4, x10, x20, 40, x100
- Bộ đồ giải phẫu : dao liền cán để cạo nhớt, dao cán dời để rạch cơ
-Kéo : Kéo (mũi thẳng, mũi cong, mũi bằn)
- Ống hút các loại dùng để bắt sán
- Khay men, cốc thuỷ tinh, cân
- Máy ảnh
Các hoá chất cần thiết:
lớp vải mỏng ướt hoặc giấy sạch bọc kín chúng lại.
Khi thu ký sinh trùng cần theo dõi chúng nhằm mục đích không làm
mất ký sinh trùng, không để KST dính vào ống hút tránh nhầm lẫn KST giữa
các cơ quan. Thu KST là sán lá đơn chủ (Monogenea) ký sinh trên mang dùng
xilank tách từng tơ mang dưới kính giải phẫu sau đó dùng ống hút hút KST
vào đĩa lồng nhỏ.Thu KST là giun đầu móc, sán dây vì giác bám của chúng
bám sâu vào thành ruột rất khó lấy ra và dễ dứt khi lấy nên phải dùng dùi giải
phẫu khoét sung quanh nơi KST bám, dùng ống hút hút KST ra
Đối với ký sinh trùng ngoại ký sinh
Ký sinh trùng đơn bào ngoại ký sinh
Cạo nhớt da, vây, mang, xoang mũi...chú ý khi cạo nhớt trên thân cá
cần nhẹ nhàng nếu không vảy cá sẽ bong ra rất nhiều và khi đưa lên soi kính
khó tìm KST.
Nhớt thu được cho lên lam kính, nhỏ một giọt nước cất lên vị trí có
mẫu sau đó đậy lamen lên trên và xem dưới kính hiển vi. Ban đầu xem kính ở
độ phóng đại nhỏ để phát hiện nhũng loài ký sinh trùng có kích thước lớn, sau
xem ở độ phóng đại lớn tìm ký sinh trùng có kích thước nhỏ hơn
Ký sinh trùng đa bào ngoại ký sinh
Các loài ký sinh trùng có kích thước lớn như trùng mỏ neo, các loài rận
cá...có thể quan sát được bằng mắt thường và có thể dùng pank thu trục tiếp.
Còn các loài ký sinh trùng khác như các loài sán lá đơn chủ có kích thước nhỏ
hơn thi thu bằng cách cạo nhớt sau đó quan sát dưới kính hiển vi và cần thiết
có thể dùng cả kính giải phẫu
Nghiên cứu ký sinh trùng ở mang: Dùng kéo cắt nắp mang, cắt hai đầu
cuối cung mang để trên đĩa petri, cho thêm nước, xem lần lượt các cung
mang, dùng xilank nhọn cẩn thận vạch xem các tia mang dưới kính giải phẫu,
tiếp theo cạo nhớt mang ép trên lam kính xem dưới kính hiển vi ở độ phóng
đại từ nhỏ đến lớn để không bỏ sót ký sinh trùng có kích thước nhỏ.
Ký sinh trùng đơn bào
Cố định mẫu bằng cách phết kính: Dùng lammen đặt lên trên lam kính
ở vị trí có mẫu, kéo ngược lammen về phía sau sao cho nhớt cơ thể dàn đều
một lớp mỏng trên lammen, sau đó để khô tự nhiên trong không khí, xếp mẫu
trong các hộp có lót lớp giấy để bảo quản, với những mẫu cố định bằng cách
này cần nhuộm càng sớm càng tốt. (Có thể sau khi các kính phết để khô trong
không khí nhúng vào dung dịch shaudin ấm từ 10-15 phút, sau đó rửa cồn 70 0
cho qua dung dịch iốt loãng trong vòng 15- 20 phút để rửa sạch thuỷ ngân,
rửa lại bằng cồn iốt, bảo quản trong cồn 700)
Ký sinh trùng thuộc lớp sán lá: Định hình bằng cách đè ép giữa hai
phiến kính rót cồn 700 vào giữa 2 phiến kính giữ sán ở trạng thái đó trong thời
gian từ 5-10 phút tuỳ vào kích thước và độ dày của sán, có thể sử dụng nước
nóng để làm cho sán không hoạt động sau dó mới dùng cồn để cố định. Ngoài
ra cũng có thể dùng Formol 4% hoặc 10% để cố định. Bảo quản trong cồn
hoặc formol
Sán lá đơn chủ có thể dùng ammoniac 1% để định hình và làm rõ các móc
bám
3.4.4. Nhuộm mẫu, làm tiêu bản
Mẫu là các loài ký sinh trùng đơn bào:
Trùng lông (Ciliophora), trùng bào tử sợi (Myxosporea), trùng amip
(Rhizopoda), vi bào tử (Microsporidia): có thể nhuộm theo hai cách nhuộm
bạc nitơrat 2% (AgNO3 2%) hoặc hematoxylin.
Dùng bạc nitơrat 2% (AgNO3 2%): Các lammen có mẫu đã giữ khô,
xếp vào đĩa petri mặt có trùng ngửa lên trên. Dùng pipet nhỏ dung dich
AgNO3 2% lên chỗ phết mẫu, đậy nắp đĩa petri để tất cả vào buồng tối trong
thời gian 10- 15 phút, lấy ra rửa qua nước cất 3-4 lần. tất cả các kính sau khi
rửa chuyển sang đĩa nước cất khác để mặt có trùng hướng lên trên, đem phơi
dưới ánh sáng mạnh của mặt trời trong thời gian từ 1- 1,5 tiếng, sau đó phơi
* Tỉ lệ nhiễm
Tổng số cá nhiễm ký sinh trùng
Tỉ lệ nhiễm ( %) =
x 100
Tổng số cá kiểm tra
* Cường độ nhiễm
- Cường độ nhiễm trung bình là số trùng trung bình trong một thị
trường hoặc trên một tổ chức cá
- Cường độ nhiễm ít nhất hoặc nhiều nhất là số trùng ít nhất và nhiều
nhất trong một lần đếm
Công thức tính:
Đối với ký sinh trùng thộc lớp đơn bào
Tổng số trùng của 15 thị trường kiểm tra
Cường độ nhiễm trung bình =
15
Đối với lớp sán lá :
Tổng số trùng trên các lamen kiểm tra
Cường độ nhiễm trung bình =
Số lamen kiểm tra
Đối với ký sinh trùng lớn: giun, giáp xác…đếm toàn bộ ký sinh trùng
ký sinh trên cá
Cường độ nhiễm ít nhất là số ký dinh trùng nhiễm ít nhất trong một lần
đếm
Cường độ nhiễm trung bình nhiều nhất là số trùng nhiễm nhiều nhất
10,7
Trung bình
7,45 ± 0,16
4.2. Thành phần ký sinh trùng ký sinh trên cá chày mắt đỏ giai đoạn cá
giống
Trong thời gian thực tập chúng tôi đã tiến hành thu 105 mẫu cá Chày
mắt đỏ và tiến hành phân tích kiểm tra kết quả thu được 04 loài ký sinh trùng
ký sinh thuộc 03 giống và 03 họ. bao gồm 1 loài trùng miệng lệch
Chilodonella piscicola
sán
lá
đơn
chủ
1 trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis, 2 loài
Dactylogyrus
manschuricus,
Dactylogyrus
hypophthamichthys.
4.2.1 Loài Chilodonella piscicola.
Ngành Ciliophora Doflein, 1901
Lớp Kinetophragminophorea, de Puytorec et al.,1974