nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá trắm cỏ ở giai đoạn cá giống trên địa bàn tỉnh thừa thiên huế - Pdf 15

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
TLCN: Tỷ lệ cảm nhiễm
CĐCN: Cường độ cảm nhiễm
KST: Ký sinh trùng
TTK: Thị trường kính
Tr: Trùng
STT: Số thứ tự
MIN: Giá trị nhỏ nhất
MAX: Giá trị lớn nhất
TB: Trung bình
CM: Centymet
MG/L: Miligam/lít
CTV: Cộng tác viên
NXB: Nhà xuất bản
PTS: Phó tiến sỹ
CĐNTB: Cường độ nhiễm trung bình
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.3. Tình hình nuôi cá nước ngọt trong 3 năm 2009, 2010 và 2011 trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 2.4. Tình hình nuôi ao cá Trắm Cỏ và cá nước ngọt ở huyện Quảng Điền
năm 2011
Bảng 2.5.Tình hình nuôi cá Trắm Cỏ lồng của huyện Quảng Điền năm 2011
Bảng 2.6. Tình hình ương nuôi cá lồng tại xã Quảng Thành
Bảng 2.7. Tình hình ương nuôi cá lồng tại xã Quảng Thái
Bảng 2.8. Tình hình ương nuôi cá nước ngọt ở thị xã Hương Thủy trong 3 năm
2009, 2010, 2011
Bảng 2.9. Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật
Bản
Bảng 2.10. Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Philippines
Bảng 2.11. Các loài ký sinh trùng ký sinh trên 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ, Việt
Nam

triển ngành nuôi trồng thủy sản.
Trong những năm gần đây nghành thủy sản đã đem lại những đóng góp to lớn
cho nền kinh tế của Việt Nam, theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết
tổng kim nghạch xuất khẩu thuỷ sản 8 tháng đầu năm 2010 đem lại là 2,95 tỷ USD.
Đến năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã cán đích 6,1 tỷ USD, tăng 21% so
với năm 2010 và tăng gấp hơn 3 lần so với mức 2 tỷ USD năm 2002.
Thừa Thiên Huế có bờ biển dài 126 km và hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai, chạy dài khoảng 27 km bắt đầu từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương với diện
tích 5.200ha. Vùng biển Thừa Thiên - Huế có hơn 500 loại cá và các loài hải sản có giá
trị kinh tế cao, năng suất khai thác hợp lý là 40.000 - 50.000 tấn/năm. Hơn nữa, với
hơn 20 km vùng núi đá ven biển từ Lăng Cô đến đảo Sơn Trà đã tạo nên một vùng biển
đa dạng sinh học, thuận lợi cho việc bảo tồn, nuôi trồng và phát triển các loài thủy sản
quý hiếm.
Cá Trắm Cỏ là một trong những đối tượng nuôi có giá trị và lợi nhuận kinh tế
cao. Tuy nhiên việc nghiên cứu các loại dịch bệnh, ký sinh trùng đối với cá Trắm nói
chung và ở giai đoạn cá giống nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ những vấn
đề trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện giúp đỡ của khoa Thủy sản trường Đại học
Nông Lâm Huế và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu bệnh ký
sinh trùng trên cá Trắm Cỏ ở giai đoạn cá giống trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên
Huế”
Mục tiêu của đề tài này là:
+ Tìm hiểu thành phần giống ký sinh trùng ở Cá Trắm Cỏ giai đoạn cá giống.
+ Đánh giá mức độ cảm nhiễm của ký sinh trùng ở Cá Trắm Cỏ thuộc giai đoạn
cá giống.
+ Tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Trắm Cỏ
2.1.1 Đặc điểm phân loại và hình thái cấu tạo
2.1.1.1. Hệ thống phân loại
Ngành có dây sống : Chordata

/
00
(Nguyễn Chính và ctv., 1977).
Thích ứng với nhiệt độ từ 13-32
0
C nhưng nhiệt độ tối ưu là 22-28
0
C, khoảng pH thích
hợp từ 5-6, ngưỡng ôxy thấp từ 0,5-1mg/l (Nguyễn Khoa Diệu Thu., 1979). Độ pH
thích ứng từ 5-9, pH thích hợp nhất 7-8. Độ trong tốt nhất (đối với cá trưởng thành) từ
60- 70 cm. Ngưỡng oxy cao hơn cá mè (0.5- 1 mg/l), mức oxy hoà tan thấp hơn 3 mg/l
ít có ảnh hưởng.
2.1.4. Phân biệt giới tính
Con đực: Đặc điểm sinh dục phụ đầu mùa sinh sản mới hình thành. Vây ngực
cứng, tia vây hẹp, màu hơi hồng, có chiều dài phủ 9 vảy.
Con cái: Vây ngực hơi mềm, tia vây rộng, màu hơi nhạt, có chiều dài phủ 8 vảy.
2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
2.1.5.1. Đặc điểm dinh dưỡng
Cơ quan tiêu hoá: Cá Trắm Cỏ có miệng tương đối ngắn, chiều dài miệng
trung bình 7.4% thân, mồm dưới và hàm dưới tương đối ngắn. Lược mang thưa, số
lược mang trên cung mang thứ nhất 21-22 chiếc. Răng hầu hai hàm rất sắc dạng lưỡi
liềm, công thức răng hầu 4.2-4.5, có thể nghiền nát thực vật trên cạn và dưới nước.
Ruột tương đối ngắn so với các loài ăn thực vật khác chỉ bằng 220- 295% chiều dài
thân. Ở cá Trắm Cỏ không có dạ dày, do đó quá trình tiêu hoá thức ăn do ruột đảm
nhiệm.
Tính ăn: Cá Trắm Cỏ thuộc loại ăn tạp, rất tham ăn và ăn rất nhiều. Song thức
ăn chủ yếu là thực vật, tuy nhiên cá Trắm Cỏ không phải ăn thực vật cả đời mà tính ăn
của nó có sự thay đổi. Cá Trắm Cỏ có thể ăn một lượng thức ăn lớn trong ngày. Ngoài
thức ăn về thực vật, cá Trắm Cỏ còn sử dụng các loại thức ăn khác như bột ngũ cốc,
các loại sản phẩm thải công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, phân động vật.

Trong sinh sản nhân tạo cá Trắm Cỏ đẻ sớm hơn, thường vào trung tuần tháng 3 đã cho
đẻ đạt kết quả cao. Thời gian đẻ thường tập trung vào trung tuần tháng 3 đến cuối
tháng 4, thời gian cho đẻ có hiệu quả từ tháng 4 đến tháng 6.
- Điều kiện sinh thái sinh sản: Cá Trắm Cỏ thuộc loại đẻ trứng bán trôi nổi.
Bãi đẻ ngoài tự nhiên thường ở trung lưu các sông, nơi có nhiều ghềnh thác hoặc nơi
giao nước giữa hai nguồn, nơi uốn khúc của sông. Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản từ
22- 29
0
C. Lưu tốc nước 1-1.7m/s. Trứng sau khi nở trôi theo dòng sông và nở thành cá
bột. Trong sinh sản nhân tạo ở miền Bắc cá Trắm Cỏ đẻ tái phát dục sau 60- 85 ngày
nuôi vỗ. Ở miền Nam cá Trắm Cỏ tái phát dục sau 25- 28 ngày, nếu ở nhiệt độ cao
(trong khoảng nhiệt độ thích hợp) chỉ 18- 20 ngày. Trong điều kiện nhân tạo cá phát
dục hình như quanh năm.
Đặc điểm trứng và sinh sản
Trứng cá Trắm Cỏ thuộc loại bán trôi nổi, trứng có hình cầu, màu vàng hay màu
vàng xanh. Đường kính trứng khi nở 1- 1.2mm, sau khi hút nước đường kính trứng
biến thiên từ 3.3 -5.1mm [3]. Sức sinh sản tuyệt đối của cá Trắm Cỏ ở miền Bắc là
315.000-2.100.000. Sức sinh sản tương đối là 50 - 224 trứng/g thể trọng. Sức sinh sản
thực tế trong sinh sản nhân tạo là 47.670 - 103.000 trứng/kg cá cái (Lương Đình Trung,
1968). Ở đồng bằng sông Cửu Long, sức sinh sản thực tề cá Trắm Cỏ vào khoảng
88000 trứng/kg, chu kỳ phát dục là 35 ngày (Phạm Minh Thành, Bùi Lai,1968). Cá
Trắm Cỏ 9 tuổi vẫn sinh sản được nhưng chất lượng trứng giảm. Vì vậy nên chọn cá
sinh sản từ 4 - 7 tuổi.
2.2. Kỹ thuật nuôi cá Trắm Cỏ
2.2.1. Nuôi cá Trắm Cỏ ở lồng, bè trên sông, hồ
2.2.1.1 Thiết kế và xây dựng lồng
Lồng có dạng hình khối chữ nhật hoặc mùng, kích thước dài x rộng x cao, và
kích thước phổ biến hiện nay là: 3m x 2m x 1,7m hoặc 4m x 3m x 1,7m.
Thông thường lồng được làm bằng tre hóp cả cây, gỗ hoặc nhựa composite. Hai
đầu để khe hở từ 0,5 - 1 cm để nước lưu thông dễ dàng, hai mặt bên và đáy thường

+ Thường xuyên kiểm tra hoạt động của cá, nếu thấy cá bơi lội khác thường
phải vớt lên kiểm tra.
+ Nếu nổi đầu do thiếu ôxy phải kéo lồng ra xa khu vực môi trường ô nhiễm. Có
thể tăng cường khuấy sục khí làm tăng lượng ôxy hòa tan.
- Kiểm tra sàn ăn để xác định khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn.
- Cứ 3 ngày vệ sinh lồng cá 1 lần và kiểm tra lồng.
2.2.1.5. Phòng trị bệnh cho cá nuôi
Cá Trắm Cỏ nuôi lồng, bè thường mắc một số bệnh: Nấm thuỷ mi, trùng bánh
xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ. Mỗi loại bệnh có triệu chứng và bệnh lý riêng, cần
thường xuyên theo dõi biểu hiện của cá để phòng trị.
Để chủ động phòng ngừa bệnh cho cá nuôi, trong quá trình nuôi nên tiến hành
dùng vôi để cải tạo môi trường.
+ Đối với vôi: Đựng trong bao treo ở đầu nguồn nước, cách mặt nước khoảng
1/2 độ sâu của nước trong lồng. Liều lượng 3-4kg vôi cho 10m
3
nước trong lồng.
+ Sulphat đồng (CuSO
4
) phòng ký sinh đơn bào, liều lượng 50g/10m
3
nước,
tuần 2 lần.
Không dùng thuốc, hoá chất kháng sinh đã cấm sử dụng.
2.2.2. Nuôi ao
2.2.2.1. Chuẩn bị ao
Tát hoặc tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, đăng cống, vét bùn nếu lượng bùn
quá nhiều.
Bón vôi khắp đáy ao để diệt cá tạp và các mầm bệnh bằng cách rải đều từ 7 đến
10 kg vôi bột cho 100 mét vuông đáy ao.
Sau tẩy vôi 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao từ 20 - 30 kg phân chuồng

kéo dài không. Nếu có, tạm dừng cho ăn và thêm nước vào ao.
Khi thấy cá bị bệnh hoặc chết rải rác cần hỏi cán bộ kỹ thuật hoặc khuyến ngư
để biết cách xử lý.
2.2.2.4. Thu hoạch
Sau 5 đến 6 tháng nuôi có thể đánh tỉa số cá lớn để ăn hoặc bán và thả bù cá
giống để tăng năng suất nuôi. Phải ghi lại số lượng cá đã thu và thả lại sau mỗi lần
đánh tỉa (ghi cả số con và số kg cá).
Cuối năm thu toàn bộ cá (có thể chọn những cá nhỏ giữ lại làm giống cho vụ
nuôi sau).
Sau khi thu hoạch toàn bộ phải ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả cá
đánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở cho
đầu tư tiếp ở vụ nuôi sau.
2.3. Tình hình ương nuôi cá Trắm Cỏ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Ở Thừa Thiên Huế cá Trắm Cỏ đã được đưa vào nuôi từ rất lâu với 2 hình thức
nuôi chủ yếu là nuôi ao và nuôi lồng. Các ao nuôi cá Trắm Cỏ địa phương phân bố rải
rác trên địa bàn tỉnh, nhưng được thả nuôi nhiều ở thị xã Hương Thủy, trong đó cá
Trắm Cỏ nuôi ao thường được nuôi cùng với một số loài cá nước ngọt như Mè Trắng,
Rô Phi,…để tận dụng thức ăn, tầng nước nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người
nuôi. Các ao nuôi có diện tích trung bình từ 1000-3000m
2
với mật độ thả từ 1-2 con/m
2
,
con giống được thu từ các trại giống trên địa bàn tỉnh. Những năm gần đây, nghề nuôi
cá nước ngọt trên địa bàn thị xã Hương Thủy phát triển nhanh, từ diện tích nuôi cá 200
ha năm 2003, đến năm 2012 tăng lên 607 ha. Hàng năm, Phòng Kinh tế thị xã xây
dựng mô hình nuôi trồng thủy sản thí điểm, nhằm giúp bà con đa dạng đối tượng nuôi
để giúp bà con có đầu ra ổn định và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Với hình thức nuôi
lồng, phát triển nhiều dọc sông Bồ đặc biệt phát triển mạnh ở huyện Quảng Điền, tập
trung ở các xã Quảng Thọ, Quảng Thái, Quảng Thành… đã và đang đem lại một nguồn

2011: “ Mặc dù nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện vẫn còn gặp một số khó khăn,
như: chất lượng con giống chưa đảm bảo, thời tiết diễn biến phức tạp vào đầu và giữa
vụ làm cho tôm, cá chết nhiều nên đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nuôi trồng
thuỷ sản trên địa bàn. Tuy vậy, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, quyết liệt và kịp thời
của Ban Thường vụ Huyện ủy, sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn của Sở Nông nghiệp
và PTNT, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự cần cù, chịu khó, sáng tạo của bà con
nông dân nên công tác nuôi trồng và khai thác thủy sản trên địa bàn huyện Quảng Điền
đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi.” (Nguồn: Tổng kết tình hình nuôi trồng
thủy sản huyện Quảng Điền năm 2011)
Trong đó “nuôi cá nước ngọt là lĩnh vực được khuyến khích phát triển, mở rộng
diện tích. Trong năm qua, UBND huyện đã chỉ đạo phòng Nông nghiệp và PTNT,
Trạm Khuyến nông, lâm, ngư phối hợp với các đơn vị liên quan mở các lớp tập huấn,
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân. Trong quá trình nuôi, các cán bộ kỹ thuật
cũng đã thường xuyên tiếp cận địa bàn để hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nuôi và đã
đạt được một số kết quả tích cực.” (Nguồn : Tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản
huyện Quảng Điền năm 2011)
Bảng 2.4. Tình hình nuôi ao cá Trắm Cỏ và cá nước ngọt ở huyện Quảng Điền
năm 2011
Số hộ nuôi Diện tích nuôi Lượng giống
thả
Sản lượng thu Năng suất bình
quân
360 hộ 100,53 ha 1.577.600 201,3 tấn 2 tấn/ha
( Nguồn: Tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản huyện Quảng Điền năm 2011)
Bên cạnh đó hình thức nuôi cá Trắm Cỏ lồng trên địa bàn huyện trong các năm
qua rất được chú trọng phát và đem lại một nguồn thu nhập ổn định cho người dân.
Bảng 2.5. Tình hình nuôi cá Trắm Cỏ lồng của huyện Quảng Điền năm 2011
Số hộ nuôi Số lồng nuôi Số lượng giống
thả
Sản lượng thu

nhân rộng mô hình nuôi cá Trắm Cỏ lồng, năng suất bình quân đạt từ 4-6 tạ/lồng/năm,
đem lại nguồn thu nhập hàng chục triệu đồng cho bà con.
Anh Phan Vinh Thanh, ở làng La Phương Thượng cho biết: "Cách đây gần 10
năm, cả xã chỉ có một hộ nuôi cá Trắm Cỏ trong lồng. Sau đó 2 năm, nhận thấy mô
hình mang lại nguồn thu nhập ổn định, nên HTX Quảng Thọ 2 đã đầu tư vào nuôi cá
lồng. Đến nay, cả xã đã có gần một nửa số hộ dân địa phương nuôi cá lồng trên sông
Bồ".
Hình 2.3. Lồng nuôi cá Trắm Cỏ trên sông Bồ ở xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế
2.4. Tình hình dịch bệnh trên cá Trắm Cỏ nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong nhiều năm trở lại đây nghề nuôi cá Trắm Cỏ lồng cũng như nuôi ao đã và
đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên
làm giàu từ nghề này. Có thể nói nghề nuôi cá Trắm Cỏ nói riêng và cá nước ngọt nói
chung đã trở thành nghề ăn nên làm ra đối với nhiều hộ dân ở các huyện Quảng Điền,
Hương Trà, thị xã Hương Thủy…. Tuy nhiên, việc biến đổi khí hậu ngày càng trở nên
phức tạp, môi trường nuôi bị ô nhiễm trầm trọng, bệnh trên cá mỗi ngày càng phát
triển, trong khi đó nguời nuôi vẫn đang còn nuôi theo kinh nghiệm là chính, việc phòng
bệnh cho cá vẫn chưa được quan tâm đúng mức, nên trong quá trình nuôi, mỗi khi cá bị
bệnh việc chữa trị còn lúng túng gây thiệt hại lớn đến kinh tế hộ. Các đối tượng nuôi
truyền thống lâu nay như mè, trôi, trắm, chép vẫn được duy trì và thả nuôi với nhiều
hình thức như: nuôi chuyên, xen ghép, lồng bè.v.v do được thị trường ưa chuộng, thịt
thơm ngon, chi phí thấp, nên cá Trắm Cỏ vẫn là đối tượng được các hộ chọn nuôi thả
chính trong ao, lồng.Tuy nhiên, nghề nuôi cá Trắm Cỏ vẫn gặp phải khó khăn lớn nhất
đó là dịch bệnh.
Đặc biệt trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên cá Trắm Cỏ thường
xuyên xảy ra, làm cá chết rải rác, đến hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người dân. Vào
cuối năm 2011, ở xã Lộc Sơn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, cá Trắm Cỏ nuôi
có các biểu hiện bất thường như: cá bỏ ăn, đàu có màu đen… lúc đầu cá chết rải rác,
sau đó cá chết hàng loạt gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Theo thông tin ban đầu là do
chất lượng con giống không đảm bảo, môi trường nước xung quanh lồng nuôi bị ô

Isopoda 1
Chưa xác định 38
Bảng 2.9. Các loài ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật Bản
Ở Thái Lan, công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của
C.B Wilson. Năm 1926, 1927, 1928 ông đã thông báo về hiện tượng cá bị nhiễm hai
loại rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt [10]. Theerawoot
Lerssuthichawal (1997) đã nghiên cứu sán lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan.
Paiboon-Yutisri; Ampirum-Thuhanruksa (1985) khi khu hệ ký sinh trùng ở Thái Lan
đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng trong đó ông đã xác định được 3 loài ngoại ký sinh
trùng và 13 loài nội ký sinh trùng trên cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus).
Năm 1975, ở Philippines, 1975 C.C Velasquez đã cho ra đời cuốn sách “sán lá
song chủ Trematoda ở Philippines” trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống, 21 họ sán
lá sông chủ ký sinh trùng trên 27 họ cá của ở Philippines ) [12]. Các tác giả như
Arthus, JR. Luman-May, S. Khi tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Philippines
đã điếu tra xác định được 201 loài ký sinh trùng ở 172 loài cá gồm:
Tên loài Số lượng (loài)
Apicomplexa 1
Ciliophora 16
Mastigophora 1
Microspora 1
Myxoza 9
Trematoda 90
Monogenea 22
Cestida 6
Nematoda 20
Acanthocephala 5
Mollusca 1
Branchiura 2
Copepoda 21
Isopoda 5

2.5.2. Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam là nhà ký sinh trùng học
người pháp Albert Billet (1856-1915). Ông đã mô tả loài mới đó là sán lá song chủ
Distomun hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá nheo Việt Nam [10].
Người Việt Nam đầu tiên có những công trình nghiên cứu quy mô và đầy đủ
nhất về ký sinh trùng là Hà Ký. Năm 1968-1971, khi điều tra ký sinh trùng trên 16 loài
cá kinh tế ở Bắc Bộ, Việt Nam, ông đã xác định được 120 loài ký sinh trùng thuộc 48
giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp, bao gồm như sau:
Tên loài Số lượng (loài)
Mastigophora 2
Myxozoa 18
Ciliophora 17
Monogenea 42
Cestoda 4
Trematoda 8
Nematoda 12
Acanthocephala 2
Crustacea 15
Bảng 2.11. Các loài ký sinh trùng ký sinh trên 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ, Việt
Nam
Năm 1976, Nguyễn Thị Muội và ctv đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc
vùng đồng bằng Bắc Bộ, đã phân loại được 9 loài ký sinh trùng trên 12 loài cá . Từ
năm 1981-1985 công trình nghiên cứu: “Khu hệ ký sinh trùng ở 20 loài cá nước ngọt ở
miền Trung và Tây Nguyên” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà, đã phát hiện và
phân loại được 177 loài ký sinh trùng, trong đó lớp sán lá đơn chủ chiếm số lượng loài
đáng kể [7]. Tiếp theo công trình nghiên cứu : “Thành phần ký sinh trùng trên một số
loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh – Khánh Hoà ” của Ngyuễn Thị Muội và
Đỗ Thị Hoà (1978 – 1980). Công trình này đã phát hện được 80 loài ký sinh trùng ký
sinh trên cá biển.
Năm 1984, Bùi Quang Tề đã nghiên cứu và phân loại được 15 loài ký sinh trùng

da của cá, đặc biệt là ở giai đoạn cá hương, cá giống bị nhiễm Ichthyobodo trong vòng
5 ngày cá có thể bị chết 95% thậm chí có ao chết đến 97%.
Cá bị nhiễm bệnh thường có dấu hiệu bất hường, cơ thể có cảm giác ngứa ngáy,
bơi không định hướng. Mang có màu đỏ nâu không bình thường, da và mang có nhiều
dịch nhờn. Cá bị bệnh nặng hoạt động yếu, cơ thể có màu đen dần, các tác nhân cơ hội
như vi khuẩn, nấm xâm nhập vào cơ thể.
2.6.2. Bệnh do ngành trùng lông (cliophora)
2.6.2.1. Bệnh do trùng bánh xe-Tricodinosis
Do 7 loài trùng bánh xe: Trichodina hetrerodentata, Trichodina, T. domerguei,
T. sp, Paratrichodina corlissi, Paratrichoina sp gây ra. Hầu hết chúng ký sinh trên mang
và da cá khi mới mắc bệnh. Cá mới mắc bệnh thường có dấu hiệu: da tiết ra nhiều nhớt
có màu trắng đục và chuyển qua màu xám. Mang có màu sắc nhợt nhạt. Cá cảm thấy
ngứa ngáy và thường nổi lên mặt nước thành từng đàn hoặc tập trung ở vùng nước
chảy gần miệng cóng.
Khi cá bị bệnh nặng thì ký sinh trùng phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở
không thể hô hấp được. Những con bệnh nặng người mang đầy nhớt và bạc trắng. Cá
bơi không định hướng lật bụng vài vòng và chìm xuống ao.
2.6.2.2. Bệnh trùng quả dưa – Ichthyophthiriosis
Do trùng quả dưa thuộc giống Ichthyophthyrius multifiliis có dạng rất giống quả
dưa, đường kính 0,5-1mm gây ra. Chúng thường ký sinh ở da, vây, mang của cá. Khi
cá bị bệnh thì da, vây, mang có nhiều trùng bánh xe bám thành những hạt lấm tấm rất
nhỏ màu trắng đục có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Da mang có nhiều nhớt, màu sắc
nhợt nhạt.
Cá bệnh nổi từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt. Cá tập trung ở gần bờ
những nơi có nhiều cỏ, cá quẩy nhiều do ngứa ngáy. Trùng bám nhiều ở mang phá hoại
biểu mô làm cá ngạt thở. Khi cá bị bệnh nặng trở nên yếu ớt chỉ ngoi đầu lên thở, đuôi
bất động cắm xuống nước.
2.6.2.2. Bệnh tà quản trùng – Trùng miệng lệch – Chilodonellois
Do 2 loài Chilodinella hexasticha và Chilodinella piscicolla gây ra, chúng
thường ký sinh trên mang, da của cá Trắm Cỏ. Khi cá mới nhiễm bệnh thì dấu hiệu

2.6.3 Bệnh do giun sán ký sinh
2.6.3.1. Bệnh sáng lá 16 móc – bệnh Dactylogyosis
Do Dactylogyosis gây ra, chúng co cơ thể nhỏ dài, lúc còn nhỏ có màu trắng
nhạt và vận động rất hoạt bát.
Dactylogyosis thường ký sinh trên da, mang của cá nhưng chủ yếu là ký sinh
trên mang. Chúng ký sinh trên nhiều loài cá nước ngọt ở mọi độ tuổi nhưng chủ yếu là
ở giai đoạn cá giống. Khi chúng bám vào mang và da thì sẽ tiết ra men hialuronidaza
phá hoại tổ chức tế bào làm cho mang và da cá tiêt ra nhiều dịch nhờn làm ảnh hưởng
đến hô hấp của cá. Cá bơi lội tât thất thường, nổi đầu, cơ thể gầy yếu, mang và da bị
viêm loét tạo điều kiên cho vi khuẩn, nấm phát triể và gây bệnh. Gây chết rải rác tới
hang loạt cho cá hương và cá giống.
2.6.3.2. Bệnh sán lá đơn chủ để con (sán lá 18 móc) – Gyrodactylosis
Tác nhân gây bệnh là do Gyrodactylus gây nên, chúng có kích thước Dactylogy.
Cơ thể chúng rất linh hoạt, vân động tương tự Dactylogyrus.
Gyrodactylus cũng ký sinh trên da, mang cá nhưng chủ yếu là ký sinh trên da.
Khi chúng ký sinh với số lượng lớn, làm cho tổ chức tế bào nơi chúng ký sinh tiết ra
lớp dịch nhầy màu trắng tro. Cá ít hoạt động và hoạt động không và hoạt động không
bình thường, một số cá nằm dưới đáy ao, một số nổi lên mặt nước đớp không khí, cá
mất dần khả năng hoạt động và bơi ngửa bụng. Cá bị lở loét tạo điều kiện cho vi khuẩn
và nấm phát triển và gây bệnh. Cá mất dần khả năng bắt mồi, khi bị nhiễm với cường
độ cao thì có thể gây chết hàng loạt.
2.6.3.3 Bệnh sán lá song thân – Bệnh Diplozoosis
Do Diplozoodae gây ra, chúng ký sinh trên ký chủ và hút máu của ký chủ để
sống. Chúng phá hoại tổ chức tế bào và viêm loét cho cơ thể vật chủ, tạo điều kiện
thuận lợi cho các tác nhân cơ hội xâm nhập và gây bệnh.
Khi cá bị nhiễm bệnh thường có dấu hiệu bơi lờ đờ, nổi đầu, dạt vào bờ, mang
có hiện tường nhợt nhạt, có dịch nhầy trắng đục bao phủ làm cản trở quá trình hô hấp
của cá, làm cá ngạt thở.
2.6.3.4. Bệnh sưng mang do ấu trùng sán lá Centrocestosis
Tác nhân gây bệnh là ấu trùng Metacercatosis của sán lá song chủ Centrosestus


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status