ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC KINH TẾ PHÁT TRIỂN
( Dành cho sinh viên và học viên cao học )
Câu 1: Những điều kiện cần thiết thực hiện mô hình phát triển rút ngắn:
a. Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả: mô hình phát triển rút ngắn đòi hỏi có
nhiều vốn trong nước và ngoài nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật ngày
1 hiện đại.
Nguồn vốn bên trong: vốn tích lũy từ ngân sách, các doanh nghiệp và từ các cá nhân. Con
đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích lũy vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã
hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, khai thác và
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, thực hiện tiết kiệm.
Nguồn vốn bên: vốn viện trợ của các nước, các tổ chức kinh tế - xã hội; vốn vay ngắn
hạn, dài hạn với các mức lãi suất khác nhau của các nước và các tổ chức kinh tế; vốn đầu
tư của nước ngoài vào hoạt động sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết... Biện pháp cơ
bản để tận dụng, thu hút vốn bên ngoài là đẩy mạnh, mở rộng các hình thức hợp tác quốc
tế, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh nước ngoài, tranh thủ
mọi sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, vay vốn ở các nước.
Với việc huy động nguồn lực lớn cho đầu tư sẽ tạo ra sự phát triển kinh tế với tốc độ khá
cao, tạo cơ sở cho việc cải thiện điều kiện sống và giải quyết nhiều vấn đề xã hội.
Để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích luỹ thấp; tích luỹ thấp thì tăng
trưởng kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo; cần phải tận dụng mọi khả năng để thu
hút các nguồn vốn từ bên ngoài. Đây là nguồn vốn có vai trò rất quan trọng, không những
giúp các nước nghèo khắc phục một phần khó khăn về vốn trong thời kỳ đầu mà còn góp
phần nâng cao trình độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động... Vì thế,
tranh thủ nguồn vốn bên ngoài là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, mặt trái của nguồn vốn nước ngoài cũng không nhỏ. Sử dụng nguồn vốn nước
ngoài phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ nước ngoài tăng lên... Do vậy,
không thể kỳ vọng quá lớn vào nguồn vốn bên ngoài. Sử dụng nguồn vốn nước ngoài là rất
cần thiết nhưng rất cần cân nhắc, lựa chọn.
Để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, xây dựng và phát triển thị trường vốn
là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng. Nhờ có thị trường vốn, người sở hữu vốn nếu
tiến cần có đầu tư nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật giỏi. Chính họ là
người tiếp thu, ứng dụng thành tựu của thế giới vào quốc gia mình, và cũng chính
họ sẽ đề xuất, xây dựng những quy trình công nghệ mới cho phép tăng nhanh năng
suất, rút ngắn các bước đi trong tiến trình phát triển.
Trong nguồn nhân lực mới ấy, việc xây dựng giai cấp công nhân là một nhiệm vụ trọng
tâm, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ
chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật và
công nghệ mới, trí thức hoá mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân và đội
ngũ trí thức, tập hợp và đoàn kết với các thành phần khác, phấn đấu đưa sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến thành công.
Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải coi việc
đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,
giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Phải đào tạo ra một cơ
cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ
nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ kinh tế, cán bộ trong các
ngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật... Việc xây dựng nguồn nhân lực phải tiến hành
với tốc độ, quy mô thích hợp, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốt
nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao
động sáng tạo của họ để sáng tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng
góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
d. Thị trường: Chúng ta biết rằng, không thể phát triển nền kinh tế hàng hóa khi
thiếu thị trường bởi thị trường là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự sống còn
của quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa. Đối với các nước đang phát triển, thị
trường không chỉ là nơi tiêu thụ hàng hóa mà còn là nơi tiếp cận nguồn vốn, lao
động và công nghệ… Vì vậy muốn phát triển nhanh không thể không mở rộng thị
trường, tham gia hội nhập quốc tế. Ngày nay xu thế toàn cầu hóa đã và đang lôi
cuốn các nước vào thị trường chung toàn cầu. Nói cách khác việc hội nhập quốc tế
là đòi hỏi khách quan, song hội nhập ra sao để tận dụng được các điều kiện do thị
trường mang lại là tùy thuộc nội lực và chiến lược hội nhập của mỗi quốc gia.
Câu 3: Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội:
1. Vai trò của nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định nền kinh tế vĩ
mô.
Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không thể "cất cánh" trừ phi nó có được nền tảng là
một cơ sở hạ tầng vững chắc. Vì thế, nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định nền kinh
tế vĩ mô của đất nước. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là sự bất ổn định do các cuộc
khủng hoảng chu kỳ. Sự ổn định kinh tế là điều mà mọi nhà nước đều mong muốn vì nó có
lợi cho tất cả mọi người. Do vậy, nhà nước phải duy trì sự ổn định đó. Nhà nước sử dụng
các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế, sử dụng ngân sách để tiến
hành đầu tư công cho các công trình; xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng dựa trên căn cứ và
tiêu chí kinh tế thích hợp nhằm giảm thiểu những gánh nặng chi phí của ngân sách nhà
nước và của nền kinh tế; tiến hành việc kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của các tập
đoàn kinh tế nhà nước để duy trì sự ổn định nền kinh tế. Một thực tế hiện nay là các cơ
quan hoạch định chính sách của nhà nước ta phân quyền quá tản mạn nên khó thực hiện
được giải pháp đồng bộ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Vì vậy, để bảo
đảm việc điều tiết nền kinh tế được hiệu quả, đòi hỏi nhà nước phải thực hiện những cải
cách cơ bản để đơn giản hoá bộ máy hành chính và phải tiến hành quản lý, kiểm soát chặt
chẽ đầu tư công. Với tư cách chủ đầu tư, nhà nước hướng các chương trình đầu tư của
mình vào mục tiêu tối đa hoá lợi ích của quốc gia.
2. Vai trò của nhà nước đối với việc điều tiết các yếu tố ngoại vi
Yếu tố ngoại vi là ảnh hưởng do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của
các doanh nghiệp hay cho xã hội. Yếu tố ngoại vi xảy ra khi có sự khác biệt về phí tổn
hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Các chi phí hoặc lợi ích này không được tính đến trong
hệ thống giá cả và thị trường. Những chi phí ngoại vi cho sản xuất phải tính đến cả sự tắc
nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra...
3
4
tài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp
tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt…
Trong nền kinh tế thị trường cả người mua lẫn người bán đều muốn khi đã đồng ý trao đổi
thì sự thoả thuận phải được thực hiện. Trong các quan hệ lao động, mối quan hệ giữa người
chủ và người làm công, thì người lao động dù với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổ
chức hiệp hội cũng đều có sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc, tiền lương với
chủ sử dụng lao động. Nếu không có luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó
có thể thực hiện được.
Nhà nước phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và quyền được hưởng các
lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu đó. Nếu không có sự bảo đảm ấy,
một số người sẽ gặp những rủi ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vực
kinh doanh mà rốt cuộc lợi nhuận lại là của người khác. Nhà nước trong vai trò bảo đảm
tính công bằng trong các hoạt động xã hội thông qua sự bảo hộ của mình đối với sở hữu tư
nhân như nhà máy, công xưởng, kho chứa và các sản phẩm hữu hình khác... đồng thời áp
dụng đối với cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ, chẳng hạn như sách, bài viết, phim ảnh, hội
họa, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, thương hiệu, thiết kế, bào chế thuốc hay chương trình
phần mềm... Đây là những can thiệp quan trọng của nhà nước trong việc bảo vệ bản quyền
tác giả và qua đó, khuyến khích những hoạt động sáng tạo, khả năng trí tuệ của các nhà
khoa học, các nghệ sĩ.
4. Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm cạnh tranh và chống độc quyền
4
5
Vai trò này của nhà nước thể hiện ở những biện pháp kiểm soát thông qua điều tiết
đối với những hãng có khả năng chi phối, kiểm soát các vụ việc sáp nhập công ty nhằm
ngăn ngừa khả năng độc quyền hoá các ngành công nghiệp, kiểm soát các hành vi chống
cạnh tranh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung ứng, đồng thời bảo vệ
Để bảo đảm năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, nhà nước phải tạo lập "sân chơi"
bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế, không thiên vị với bất cứ
một loại hình doanh nghiệp nào, tránh tình trạng bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước.
5. Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm phúc lợi lợi xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, có một số người thu nhập còn hạn chế, trong khi đó, số
khác lại có nguồn thu nhập cao. Do vậy, vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thu
nhập là rất quan trọng để thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội. Trên thực tế, chính
phủ của nhiều quốc gia thực hiện điều này thông qua chính sách thuế, đặc biệt là thuế thu
nhập nhằm tạo sự công bằng hơn trong phân phối.
Hiện nay đang tồn tại hai khuynh hướng đối lập nhau. Một là, ủng hộ vai trò của
nhà nước trong việc hạn chế tập trung tài sản và duy trì sự lan toả các năng lực kinh tế giữa
các chủ sở hữu (ý kiến này dành được nhiều sự ủng hộ của xã hội). Hai là, chương trình
phân phối lại của nhà nước thông qua thuế thu nhập sẽ làm cho một số người có thu nhập
cao giảm động cơ làm việc để tăng thu nhập, giảm tiết kiệm, giảm đầu tư và do đó sẽ gây
tổn hại tới tăng trưởng kinh tế.
5
6
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao
phúc lợi công cộng, xoá đói, giảm nghèo. Các vấn đề như việc làm, sức khoẻ, bảo hiểm y
tế, lương hưu, trợ cấp khó khăn… luôn là những vấn đề cần đến sự quan tâm của nhà nước,
để khích lệ được mọi thành phần lao động trong việc tạo ra của cải và tiết kiệm chi dùng
những của cải ấy.
Ở nước ta, dù đạt mức thu nhập trung bình thấp (theo tiêu chuẩn quốc tế) nhưng
một bộ phận lớn dân cư vẫn đang ở cận ngưỡng nghèo. Những người này có thể rơi xuống
dưới ngưỡng nghèo bất kỳ lúc nào khi mà giá lương thực, thực phẩm tăng cao hoặc khi gia
đình của họ có người ốm, khi tiền học phí, tiền thuê nhà… đột nhiên tăng cao. Vì vậy, nhà
lạm phát vẫn tiếp diễn hoặc trở nên xấu đi thì chắc chắn sẽ gây bất lợi cho hoạt động điều
hành và uy tín của chính phủ. Vì vậy, trong hoạt động của mình, chính phủ cần phải tái lập
sự kiểm soát các chính sách kinh tế vĩ mô.
Nhà nước là công cụ có thể làm dịu đi phần lớn những tác động tiêu cực của hệ
thống thị trường. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa nhà nước có thể bao biện, đứng ra
làm thay tất cả các hoạt động thị trường, mà chỉ nên chú trọng tới những lĩnh vực thị
trường không thể làm được, hoặc mức độ làm được không thể hoàn hảo bằng sự can thiệp
của nhà nước. Làm được như vậy thì mới duy trì được sự tăng trưởng và phát triển ổn định,
bảo đảm được tính bền vững của thị trường./.
B. Giải pháp nhà nước đóng góp nhiều hơn:
6
7
- Thường xuyên chú trọng đến việc củng cố cơ cấu tổ chức của từng bộ máy từ
Trung ương đến cấp huyện để thống nhất nhất quán về quan điểm, thông suốt và nâng cao
về chuyên môn.
- Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành. Điều này đòi hỏi quyết tâm chính trị cao
của các cấp uỷ Đảng. Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính phải tổ
chức điều hành quyết liệt, bám sát thực tế, bám sát các Nghị định đã ban hành để triển khai
nhanh, thống nhất và triệt để.
- Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính phải gắn với đổi mới hệ thống
chính trị. Điều này thể hiện sự nhất quán, Đảng là người lãnh đạo toàn bộ hoạt động của bộ
máy hành chính, bộ máy hành chính là công cụ quan trọng thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng từ Trung ương đến địa phương.
- Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính không được dừng lại mà phải
thường xuyên kiện toàn, củng cố và hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng, khắc phục
sự thụ động trong công việc, phải chủ động, sáng tạo, vận dụng linh hoạt đúng những quy
7
8
•
•
Diện tích lãnh thổ là yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, quốc phòng, diện tích
càng lớn thì nhìn chung càng có điều kiện để phát triển kinh tế, thực hiện các giải pháp
đa dạng trong quốc phòng. Đương nhiên diện tích lãnh thổ phải tính đến các điều kiện
về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên.
Địa hình, địa mạo cũng tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho phát triển kinh tế hoặc
tổ chức quốc phòng (địa hình đồi núi hay bình nguyên, sa mạc, có biển hay không có
biển...).Nước nào kiểm soát được biển thì nước đó sẽ kiểm soát được tất cả
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng trọng yếu và lâu dài đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia, nó bao gồm đất đai, khoáng sản, rừng, biển, nguồn nước, nguồn
năng lượng tự nhiên. Tài nguyên thiên nhiên đã và đang là trung tâm của những cuộc tranh
giành, thậm chí xung đột giữa các quốc gia đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt; khoáng sản kim
loại; nước và những nguyên tố hiếm phục vụ kỹ thuật, quốc phòng. Do tầm quan trọng của
tài nguyên thiên nhiên vốn đang bị cạn kiệt mà nhiều lãnh thổ trước đây vốn ít được quan
tâm như Bắc Cực, Nam Cực gần đây đã trở thành trung tâm chú ý của các quốc gia.
Dân số
•
•
9
trị quốc tế đều là những nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh. Thực lực kinh tế cũng là
biểu hiện đồng thời cũng là một nhân tố của năng lực cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay.
Giao thông, thông tin liên lạc
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc vừa là hạ tầng của nền kinh tế trong hòa bình vừa là
hạ tầng để tiến hành chiến tranh trong thời chiến. Nó đảm bảo cho con người, hàng hóa và
tin tức lưu thông thông suốt trong nền kinh tế, quân đội, khí tài chiến tranh, đảm bảo hậu
cần trong chiến tranh cũng như thu thập các thông tin một cách đầy đủ, kịp thời để ra quyết
định. Trong điều kiện hiện nay, vai trò của thông tin ngày càng trở nên quan trọng và nhiều
khi quyết định thành bại trong cả kinh tế lẫn tiến hành chiến tranh.
Chất lượng của chính phủ
•
•
•
Bản chất chính trị của chính phủ: chính phủ đại diện cho giai cấp, tầng lớp nào
trong xã hội, có đại diện cho đông đảo người dân của quốc gia hay không. Bản chất
chính trị của chính phủ cũng được xem xét trên hai mặt đối nội và đối ngoại, một chính
phủ có hợp lòng dân, hợp với các giá trị, xu thế của thế giới hay không ảnh hưởng đến
vị thế quốc gia và thành bại trong chiến tranh vì chiến tranh là một sự tiếp nối của
chính trị.
Trình độ luật hóa, dân chủ hóa của chính phủ: yếu tố này thể hiện ở mức độ hoàn
thiện của hệ thống luật pháp trên các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp, mức độ công
khai, dân chủ và quyền lợi chính trị của người dân trong các cuộc bầu cử.
Cơ cấu và hiệu quả điều hành của chính phủ: thể hiện ở việc sắp xếp tổ chức bộ
Về phát triển kinh tế
Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh
Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Chủ trương phát triển
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và có những bước phát triển.
Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu
bước đầu rất quan trọng: GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình
quân 3,8 - 4%/năm; công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu
dùng tăng 13 -14%/năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm (1). Việc thực hiện tốt
ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đây được
đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN trong
chặng đường đầu tiên. Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế
quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế
- xã hội và bước đầu giải phóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới.
Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái. Nền kinh tế
tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy
thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện, hầu hết các chỉ tiêu chủ
yếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng
13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượng
lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 1990
(2). Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá. “Nước ta đã ra
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một
số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát
triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (3).
Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của kinh tế
thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù cùng chịu tác động
của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm
nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập
thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). GDP bình quân 5 năm đạt 7%. Mặc
dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008),
nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn đạt cao. Tổng vốn FDI thực hiện
đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và tăng
thêm ước đạt 150 tỷ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn
2001 - 2005. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu
đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16%. GDP năm 2010 tính theo giá thực
tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000.
Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu còn rất
chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuy thấp hơn kế hoạch
(7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân các nước trong khu vực.
Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt
7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên thế giới nói
chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên 2,1 lần năm 2000
(thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm).
Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011. Mức tăng trưởng tuy thấp hơn mức tăng
5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn thì đây là mức
tăng trưởng hợp lý. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tính tăng 3,4% so với
năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2012 tăng
6,81%. Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP. Xuất, nhập khẩu
hàng hóa tăng 18,3% (10). Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ
kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới.
Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng 7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên
96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35
tỷ USD.
11
Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn
vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Cơ chế quản lý
doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xóa bao cấp, thực
hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh
doanh. Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm
năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước. Kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới về
chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạo việc
làm cho nhiều người dân.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành,
kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
12
13
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Hoạt
động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý
của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng. Với chủ trương tích cực và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày
càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương
mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),... Đến nay, Việt
Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định
thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về
kinh tế đối ngoại.
Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ
đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010. Còn theo chuẩn do
Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung
(bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ
58% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn khoảng 17% năm 2008. Như vậy, Việt Nam
13
14
đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm
2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc đã đề ra (14). Tại cuộc Hội
thảo quốc tế với tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu
Á do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được
đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á (15).
Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp
từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về
xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; dự tính đến cuối năm 2010, hầu hết các tỉnh,
thành sẽ đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ người lớn (từ 15 tuổi trở lên)
biết chữ đã tăng từ 84% cuối những năm 1980 lên 90,3% năm 2007. Từ năm 2006 đến nay,
trung bình hằng năm quy mô đào tạo trung học chuyên nghiệp tăng 10%; cao đẳng và đại
học tăng 7,4%. Năm 2009, trên 1,3 triệu sinh viên nghèo được Ngân hàng chính sách xã
hội cho vay với lãi suất ưu đãi để theo học.
Hoạt động khoa học và công nghệ có bước tiến đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ (bao gồm khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật) đã góp phần
cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới
của Đảng và Nhà nước; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập từ
nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực thông tin - truyền thông, lai tạo một số giống cây
trồng, vật nuôi có năng suất cao, thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng cầu, đóng tàu
những đột biến tích cực, biểu hiện rõ nét nhất là nguồn vốn sử dụng kém hiệu quả, lãng
phí, thất thoát nhiều, chất lượng nhân lực còn hạn chế, chưa tạo được động lực cho sự phát
triển kinh tế và năng suất lao động.
Hai là, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm hơn dự kiến. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và
thủy sản trong GDP 5 năm qua chỉ giảm được 0,67 điểm phần trăm so với năm 2005 (mục
tiêu đặt ra là phải giảm khoảng 5 – 6 điểm phần trăm). Tương tự, tỷ trọng công nghiệp và
xây dựng trong GDP chỉ tăng khoảng 0,08 điểm phần trăm so với năm 2005 (mục tiêu đặt
ra là khoảng 2 – 3 điểm phần trăm); tỷ trọng các ngành dịch vụ trong GDP 5 năm qua cũng
chỉ tăng khoảng 0,59 điểm phần trăm. Mặt khác, trình độ công nghệ ở nhiều doanh nghiệp,
nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp, chi phí năng lượng, nguyên nhiên liệu cho một
đơn vị sản phẩm trong quy trình sản xuất khá lớn, nhưng sản phẩm làm ra lại đơn điệu,
chất lượng thấp, giá thành cao... Trình độ phát triển giữa các vùng kinh tế cũng còn khoảng
cách quá xa. Các vùng kinh tế trọng điểm chưa tạo được sức lan tỏa thúc đẩy những vùng
khác cùng phát triển. Các thành phần kinh tế chưa được khuyến khích phát triển trên cùng
một mặt bằng về cơ chế chính sách...
Ba là, nguồn nhân lực kỹ năng lao động, có tay nghề cao thiếu trầm trọng, đang là
vật cản kìm hãm chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Chỉ số xếp hạng cạnh tranh của Việt Nam theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã giảm
trong giai đoạn 2006 – 2009, từ thứ 64 xuống 75 năm 2009. Năm 2010, tuy đã tăng 16 bậc
trong bảng xếp hạng (lên vị trí số 59), nhưng 4 yếu tố cơ bản được coi là ảnh hưởng tới chỉ
số cạnh tranh của Việt Nam (gồm lạm phát, kết cấu hạ tầng, lao động có trình độ và tham
nhũng) vẫn chưa được cải thiện nhiều. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ hỗ trợ sản xuất,
kinh doanh chậm phát triển và chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế, dẫn đến hậu quả tăng
chi phí trung gian và các yếu tố đầu vào, năng lực cạnh tranh thấp.
Bốn là, tài chính quốc gia còn hạn hẹp; thu ngân sách nhà nước chủ yếu mới đáp
ứng nhu cầu chi thường xuyên và trả nợ, phần lớn vốn đầu tư phát triển phải dựa vào các
khoản vay trong nước và ngoài nước thông qua hình thức phát hành trái phiếu, và huy
động vốn để xây dựng một số công trình giao thông, thuỷ lợi, giáo dục. Gánh nặng kinh
phí để chi trả khi các trái phiếu chính phủ đến hạn thanh toán sẽ dễ tạo khả năng bấp bênh
tế trong 3 lĩnh vực quan trọng là cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị
trường tài chính, trọng tâm là cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức tài
chính; cơ cấu lại doanh nghiệp, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,
ngay từ năm 2012 chuẩn bị các điều kiện để từ năm 2013 đến năm 2015 tạo được chuyển
biến mạnh mẽ, cơ bản, có hiệu quả rõ rệt.
Cơ cấu lại đầu tư công theo hướng sửa đổi quy chế phân cấp quản lý, trước hết là đầu tư từ
nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, phải bảo đảm nguyên tắc chỉ quyết
định đầu tư đối với dự án đã đủ thủ tục theo quy định và khi đã xác định rõ nguồn, mức
vốn và khả năng cân đối nguồn vốn. Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên
làm căn cứ để phê duyệt hoặc cắt giảm dự án đầu tư. Việc quyết định phê duyệt dự án có
nguồn vốn hỗ trợ từ Ngân sách Trung ương thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia,
các Chương trình mục tiêu, các khoản hỗ trợ có mục tiêu phải được kiểm soát chặt chẽ, có
sự thẩm định về nguồn vốn và cân đối vốn của cấp có thẩm quyền ở Trung ương. Bảo đảm
các yêu cầu về tiến độ, trình độ công nghệ, chất lượng và an toàn các dự án, công trình
quan trọng quốc gia.
Cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại,
các tổ chức tài chính, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị
trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường vàng
và ngoại tệ, khắc phục tình trạng đô la hóa; kiểm soát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của doanh
nghiệp nhà nước, vay trả nợ nước ngoài, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư
vào lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán và các nguồn vốn nóng khác.
Cơ cấu lại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, nâng cao năng lực quản trị doanh
nghiệp, tính công khai, minh bạch, đồng thời có chính sách tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát huy nội lực, tái cấu trúc, giảm giá thành sản
phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý
nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ
thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô.
Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài. Phân định rõ nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội với hoạt động kinh doanh của
Nghiên cứu các phương án để điều chỉnh giảm dần mức thuế thu nhập doanh nghiệp; đổi
mới chính sách thu từ đất đai, thu kinh doanh bất động sản, tăng mức thu thuế tài nguyên.
Đối với chính sách xuất, nhập khẩu, kiềm chế nhập siêu: Trong các năm 2012-2013 tiếp
tục khuyến khích xuất khẩu, có biện pháp phù hợp với các quy định của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) để kiểm soát nhập khẩu, giảm mạnh nhập siêu. Tiếp tục đầu tư vào các
sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm có lợi thế quốc gia, sản phẩm thay thế hàng nhập
khẩu và phát triển nhanh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp cơ khí, chế tạo, công nghiệp điện
tử. Thực hiện cơ chế giá thị trường đối với giá điện, than và giá dịch vụ công chậm nhất
vào năm 2013. Quy định việc chi tiêu mua sắm, đầu tư công phải sử dụng những hàng hóa,
thiết bị, máy móc đã sản xuất được trong nước và thực hiện có hiệu quả cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
4. Tập trung thực hiện 3 đột phá, 12 định hướng chiến lược phát triển kinh tếxã hội giai đoạn 2011-2020. Cơ bản xây dựng xong hệ thống pháp luật gắn với cải cách,
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, sửa đổi,
bổ sung hoặc ban hành mới các luật theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ
Quốc hội khóa XIII.
Tiếp tục kiện toàn bộ máy của Chính phủ và chính quyền các cấp, sớm thực hiện thí điểm
mô hình chính quyền đô thị. Rà soát sửa đổi lại các quy định về phân cấp giữa trung ương
và địa phương; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là trong việc cấp giấy phép hoạt
động, đăng ký kinh doanh, nộp thuế. Chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động, sử dụng có hiệu
quả nhất thời kỳ cơ cấu dân số vàng, đẩy mạnh đào tạo mới và đào tạo lại nguồn nhân lực
để nâng cao năng suất lao động trong toàn bộ nền kinh tế. Phát động và duy trì phong trào
tiết kiệm toàn xã hội cả trong sản xuất và tiêu dùng, tạo ý thức xã hội chung và tính gương
mẫu trong toàn thể cán bộ, công chức. Siết chặt trật tự kỷ cương, đẩy mạnh đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát, nhất là trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử
dụng vốn nhà nước. Tiếp tục đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ tiền lương đối với
cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, hưu trí và người có công.
Rà soát, đánh giá các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là ở các vùng kinh tế
trọng điểm, ưu tiên bố trí vốn đầu tư dứt điểm để sớm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả.
Phát triển nhanh hệ thống giao thông đô thị, nhất là giao thông công cộng. Từng bước phát
các dịch vụ công cho y tế.
6. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, quan tâm đến nhân lực lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp, khoa học và công
nghệ, văn hóa nghệ thuật; nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là bậc đại học; tập trung
chuyển từ đào tạo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng đào tạo nghề, thực hiện đào tạo một
triệu lao động nông thôn hàng năm; điều chỉnh chính sách về giáo dục mầm non, giáo dục
ở miền núi; làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để bảo đảm nhu cầu học tập của các đối
tượng, nhất là giáo dục mầm non.
Củng cố và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng, tăng cường hiệu
quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa ở các cấp, đồng thời cải tạo, nâng cấp và đầu
tư xây dựng mới một số công trình văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao hiện đại.
Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực, đẩy mạnh đầu tư phát triển
mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới căn bản cơ chế quản lý khoa
học – công nghệ, phát triển kinh tế tri thức. Quan tâm phát triển mạnh mẽ công tác nghiên
cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, gắn khoa học – công nghệ với sản xuất trong tất
cả các ngành và lĩnh vực, phát triển mạnh thị trường khoa học – công nghệ.
7. Hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả các chính sách, pháp luật về tài
nguyên và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Thực hiện nghiêm túc
quy trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt, kiểm tra, giám sát việc đánh giá tác động môi
trường đối với chiến lược, các quy hoạch, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh
tế-xã hội. Kiên quyết xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tại các khu kinh
tế, khu công nghiệp, làng nghề. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
8. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tập trung
xây dựng, thực hiện các đề án cải cách tư pháp bảo đảm chất lượng, tiến độ; làm tốt công
tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán,
Hội thẩm, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, cán bộ thi hành án. Từ nay đến
2013 phải khắc phục cơ bản tình trạng thiếu cán bộ đảm nhiệm các chức danh tư pháp. Cán
18
cư theo quy hoạch; tạo điều kiện phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an
ninh trên các địa bàn trọng điểm, xung yếu. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục quốc phòng,
an ninh trong nhân dân.
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, truyền thống, hợp tác
chiến lược với các nước láng giềng có chung biên giới. Thúc đẩy giải quyết các vấn đề tồn
tại về biên giới lãnh thổ, chú trọng vấn đề biển Đông một cách thỏa đáng, cân bằng trên
nguyên tắc hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử quốc tế và khu vực.
Phát huy vai trò và huy động các nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
về phát triển đất nước.
Câu 6: Nêu được những cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế- xã hội đất
nước ta hiện nay. Đồng thời đưa ra được một số giải pháp để nước ta tận dụng các cơ
hội, vượt qua các thách thức đó.
a. Cơ hội:
Từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Bình
thường hóa quan hệ với Mỹ; gia nhập ASEAN; ký kết Hiệp định khung Việt Nam - EU
(tháng 7/1995); ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2000 và
chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 là những mốc quan trọng cho
phép Việt Nam bắt kịp vào đợt sóng toàn cầu hóa thập niên 1990. Đường lối chủ động, tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế và làm bạn với tất cả các quốc gia khác cũng cho phép Việt
Nam giữ vững ổn định chính trị và năng động kinh tế, tránh được ảnh hưởng tiêu cực từ
19
20
cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu trong suốt mười năm qua. Về mức độ ổn định, theo
đánh giá toàn cầu của Trung tâm Phát triển Quốc tế và Xử lý Xung đột (CIDCM), Việt
Nam chỉ đứng sau Singapore trong số các nước Đông Nam Á và sau Trung Quốc,
Uzbekistan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand trong toàn châu Á. Trong điều
nền kinh tế Việt Nam cũng ngày càng trở nên phức tạp, và trong thời gian vừa qua cũng đã
đứng trước thách thức chịu tác động mạnh mẽ bởi bất kỳ sự biến động và bất ổn nào dù
nhỏ của kinh tế thế giới. Đặc biệt, các nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong
đó có ASEAN, đều đang tăng trưởng với tốc độ cao, nên càng tiềm ẩn nhiều rủi ro và biến
động gây ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế nước ta.
Một khi độ mở của thương mại càng cao thì nguy cơ dễ bị tổn thương càng lớn trước
những cú sốc giá, những rào cản thương mại và sự thay đổi chính sách của các nước nhập
khẩu hàng hóa Việt Nam.
c. Giải pháp:
3.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều có mức tăng trưởng từ 3% đến 10%
bình quân hàng năm, trong đó, ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao nhất vượt trên mức
20
21
tăng trưởng chung của nền kinh tế, hai ngành nông nghiệp và công nghiệp đều có tỷ lệ tăng
trưởng thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng chung. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế ngành sẽ dịch chuyển theo
hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành công nghiệp và ngành nông
nghiệp. Tăng trưởng kinh tế hàng năm sẽ theo phương thức 3-6-9 (nông nghiệp 3%, công
nghiệp 6% và dịch vụ 9% trong khoảng 30 năm).
Như vậy, trọng tâm phát triển trong mô hình tăng trưởng mới là ngành dịch vụ. Đây là ý
tưởng cơ bản về mô hình tăng trưởng kinh tế mới trong nghiên cứu của tác giả, cũng là giải
pháp chủ yếu, cơ bản và lâu dài để thực hiện thành công chuyển đổi mô hình tăng trưởng
kinh tế. Quy luật phát triển chung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới là chuyển từ kinh
tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tiếp theo là kinh tế dịch vụ. Có thể coi đây là
nền kinh tế hậu công nghiệp hoặc nền kinh tế dựa vào tri thức. Việt Nam đang từ nền kinh
tế nông nghiệp chuyển sang nền kinh tế công nghiệp, tuy nhiên, chúng ta phải “đi tắt đón
lưới cầu, đường, cảng biển, cảng hàng không, kho tàng… liên tục được nâng cấp và xây
dựng mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội.
Tuy nhiên, các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cụ thể không đều. Viễn thông và hàng không phát
triển tương đối nhanh và đáp ứng ngày càng tốt các yêu cầu đặt ra, trong khi một số lĩnh
vực khác như hệ thống giao thông đường sắt, đường thủy và đường bộ, điện, nước… chưa
đáp ứng yêu cầu phát triển, trở thành điểm ách tắc, “thắt cổ chai” nghiêm trọng.
21
22
Cho đến nay, đây là lĩnh vực được ưu tiên đầu tư cao nhất. Song thực trạng chung của hệ
thống hiện nay là chất lượng thấp, còn xa mới đáp ứng yêu cầu vận tải và lưu thông hàng
hóa.
Mạng lưới hạ tầng giao thông, cả đường bộ, đường sắt lẫn đường biển chưa liên kết trong
một quy hoạch tổng thể có tầm nhìn xa, chưa bảo đảm tính liên kết - bổ sung nhau hợp lý.
Đất nước hẹp trải dài nhưng thiếu các tuyến đường cao tốc (sắt và bộ) theo trục Bắc Nam.
Tuy có hai tuyến trục đường bộ (đường 1A và đường Hồ Chí Minh) nhưng mặt đường nhỏ
hẹp, phần lớn chỉ có hai làn xe, hệ thống cầu yếu nên dễ bị ách tắc và hạn chế tốc độ xe
chạy. Mặt khác, thiếu hệ thống đường “xương cá” theo hướng Đông-Tây, đặc biệt là các
đường ngang nối với các cảng biển nên hiệu quả sử dụng thấp.
Hệ thống giao thông hiện tại chưa gắn kết thông suốt trong và ngoài nước, khiến vận tải đa
phương thức gặp nhiều khó khăn, trở thành yếu tố cản trở mạnh mẽ quá trình hội nhập và
cạnh tranh quốc tế. Hệ thống đường bộ tuy được đầu tư nâng cấp nhiều trong những năm
gần đây, song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách. Các tuyến
đường nhánh nối các trục giao thông huyết mạch với các trung tâm kinh tế khu vực sản
xuất tập trung, kho bãi, cảng biển, cảng hàng không… ít về số lượng, nhỏ bé về quy mô,
lại phân bổ thiếu hợp lý. Các cảng biển, cảng hàng không chính chậm được mở rộng và
nâng cao năng lực tiếp nhận, chưa kết nối tốt với hệ thống đường bộ. Đường sắt chậm
22
23
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là một định
hướng chung nhất cho sự đổi mới hệ thống luật pháp Việt Nam. Định hướng trên phải theo
hướng hiện đại và quốc tế nghĩa là hội tụ những gì tiến bộ và hiện đại nhất mà nhân loại đã
đạt tới, và đương nhiên phải phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới, phù hợp
với những điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Bộ máy điều hành của Nhà nước từ khi đổi mới đến nay đã có nhiều thay đổi theo hướng
tiến bộ, như: sáp nhập các bộ, giảm các đầu mối quản lý ở cấp Trung ương, gia tăng quyền
cho các địa phương, gia tăng các cơ quan giám sát… Tuy nhiên, bộ máy điều hành của
Nhà nước vẫn còn dấu ấn của cơ chế “xin - cho”. Do vậy, cần cơ cấu lại chức năng điều
hành của Nhà nước theo hướng: gia tăng chức năng hoạch định chiến lược, chính sách, luật
pháp, gia tăng vai trò kiểm tra giám sát, thưởng phạt, xử lý các vụ việc sai trái, gia tăng các
chức năng ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng kết cấu hạ tầng, kiểm soát độc quyền bảo vệ
môi trường, đảm bảo an sinh xã hội, thực thi các dịch vụ công, giảm bớt các cơ chế “xin cho”, giảm bớt các hoạt động kinh doanh, giảm bớt các biện pháp hành chính… Một chức
năng rất quan trọng, có thể là quyết định, đó là tuyển chọn nhân tài vào bộ máy Nhà nước.
Tiếp tục hoàn thiện và phát triển đồng bộ các loại thị trường
Các loại thị trường ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành cả về mặt thể chế cũng như
các chủ thể tham gia, do vậy bàn tay của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và có tầm
quyết định. Trong các loại thị trường có hai thị trường rất cơ bản và quan trọng, đó là thị
trường tài chính và thị trường bất động sản. Hai thị trường này phát triển lành mạnh thì nền
kinh tế phát triển lành mạnh. Hai thị trường này ở các nước phát triển đã hoạt động rất tự
do trong một khuôn khổ thể chế từng được xem là hiện đại nhất. Tuy nhiên, những thể chế
hiện có ở các nước này đã không kiểm soát được các dòng vốn ào ạt đổ vào hai thị trường,
tạo ra các “bong bóng kinh tế”, gây nên rủi ro “đổ vỡ”. Vấn đề là cần có một thể chế giám
sát, cảnh báo và ngăn chặn hữu hiệu các dòng vốn đầu cơ gây ra những rủi ro bất trắc cho