Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Nghiên cứu Y học
TỈ LỆ THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA HỌC SINH MẪU GIÁO TỪ 4-6 TUỔI
TẠI QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2006
Phùng Đức Nhật* và cs
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Béo phì là một dịch bệnh mới gia tăng và có thể xem như một vấn đề dinh dưỡng khẩn cấp với
1,6 tỉ người lớn mắc phải trên toàn cầu. Đây cũng là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn cho các bệnh không lây khác như đái
tháo đường, tăng huyết áp, bệnh lý tim mạch, ung thư ở trẻ bị thừa cân béo phì khi trẻ lớn lên.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì và mối liên quan với các yếu
tố nguy cơ ở trẻ từ 4 đến 6 tuổi tại các trường mầm non mẫu giáo trên địa bàn quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang với 1650 trẻ tại các trường mầm non mẫu giáo trên địa bàn
quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả: Tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì là 21,2% (trong đó 13,2% là thừa cân và 8% là béo phì). Giới là nữ, thói
quen ăn nhanh có liên quan đến nguy cơ cao thừa cân béo phì ở trẻ mầm non mẫu giáo. Trẻ thừa cân có khuynh
hướng thích sử dụng thực phẩm có chất béo nhiều hơn và ít thích sử dụng thực phẩm có chất ngọt so với trẻ
không thừa cân. Mẹ của các trẻ béo phì có tỉ lệ hiểu biết rằng tăng cường hoạt động thể lực và giảm chất béo trong
thức ăn giúp giảm thừa cân béo phì cao hơn so với mẹ của các trẻ bình thường. Tuy nhiên, có một tỉ lệ cao các bà
mẹ tin rằng thức ăn nhanh và các loại nước ngọt là tốt hơn các loại thực phẩm thông thường, và tin rằng trẻ mập
mạp thì khỏe mạnh hơn so với trẻ thông thường.
Kết luận: Thừa cân béo phì ở trẻ là một vấn đề sức khỏe mới nảy sinh ở Việt Nam và có thể phát triển thành
dịch trong tương lai không xa. Giáo dục sức khỏe và hoạt động nâng cao sức khỏe cần được thực hiện tích cực
hơn nhằm kiểm sóat và phòng ngừa đại dịch mới này.
ABSTRACT
THE PREVALENCE OF OVERWEIGHT AND ITS RELATED FACTORS IN KINDERGARTEN
CHILDREN FROM 4 TO 6 YEARS OLD IN DISTRICT 5, HO CHI MINH CITY, 2006.
ÐẶT VẤN ÐỀ
và các yếu tố nguy cơ cũng được đề cập. Tuy
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới
vậy vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến
(WHO) trên toàn thế giới đến năm 2005 có
mối liên quan của các yếu tố nguy cơ và thừa
khỏang 1,6 tỉ người trên 15 tuổi thừa cân, trong
cân béo phì cũng như xác định tỉ lệ thừa cân béo
đó ít nhất 400 triệu người lớn bị béo phì. Béo phì
phì của lứa tuổi mẫu giáo 4-6 tuổi tại thành phố
là đại dịch không chỉ giới hạn ở các nước công
Hồ Chí Minh. Ðiều này thúc đẩy chúng tôi tiến
nghiệp, mà đến 115 triệu người béo phì là ở các
hành nghiên cứu đề tài này.
nước đang phát triển(6). Riêng trẻ em, 22 triệu trẻ
Mục tiêu nghiên cứu
dưới 5 tuổi đang bị thừa cân trên thế giới. Thừa
Xác định tỉ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh
cân, béo phì có nguy cơ trên các bệnh như tiểu
mẫu giáo từ 4-6 tuổi tại quận 5 thành phố Hồ
đường type 2, bệnh lý tim mạch, đột quị, và một
Chí Minh.
số ung thư tại túi mật, tuyến vú, đại tràng, tiền
(1)
liệt tuyến và thận .
Xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy
cơ với tình trạng thừa cân, béo phì của nhóm trẻ
Tại Việt Nam, các cuộc điều tra nhân khẩu
được nghiên cứu.
trước năm 1995 cho thấy tỉ lệ thừa cân không
vấn qua bảng câu hỏi.
tra tình trạng dinh dưỡng năm 2006 của Viện
Nhập và xử lý số liệu
Dinh dưỡng cho tỉ lệ 16,3% người Việt Nam từ
Kết quả nghiên cứu được nhập và xử lý trên
25-64 tuổi bị thừa cân, béo phì.
các phần mềm: EpiData 3.0, chương trình Epinut
Phần lớn các trường hợp thừa cân béo phì là
của EpiInfo 6.04, SPSS 11.5.
do tăng năng lượng khẩu phần ăn hoặc giảm
hoạt động thể lực hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.
Nhận thức đây là vấn đề y tế công cộng mới,
2Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Tiêu chuẩn đánh giá
Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới
(1985), với trẻ dưới 9 tuổi chỉ tiêu đánh giá thừa
cân trẻ em là cân nặng/chiều cao (CN/CC) so
sánh với quần thể tham khảo NCHS (National
Center for Health Statistics). Trong nghiên cứu
này chọn chỉ tiêu đánh giá theo CN/CC như sau:
< - 2 SD
Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng
- 2 SD đến + 2 SD
Bình thường
Bình thường
> + 2 SD đến + 3SD thừa cân độ 1
k=7701/30.
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên các trẻ tại các
trường trong mỗi cụm sao cho mỗi cụm có
khoảng 18 trẻ 4 tuổi, 18 trẻ 5 tuổi, 18 trẻ 6 tuổi.
KẾT QUẢ
Ðặc điểm mẫu điều tra
Bảng 1: Ðặc điểm trẻ tham gia nghiên cứu
Giới
Nhóm tuổi
Dân tộc
Ðặc tính
Nam
Nữ
4 tuổi
5 tuổi
6 tuổi
Kinh
Hoa
Khác
Tần số (n=1650)
808
842
558
564
528
CB-VC
Công nhân
Nông dân
Chủ DN
Nghề tự
do
Khác
Mẹ
Tần số
Tỉ lệ
(n=1650) (%)
Cha
Tần số
Tỉ lệ
(n=1650) (%)
83
5,0
98
6,0
106
478
468
325
19,0
324
474
2
51
19,6
10,5
0,1
3,1
357
305
2
84
21,6
18,5
0,1
5,1
174
10,5
239
14,5
Chơi máy vi tính
Tĩnh tại Chơi trò chơi điện tử
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng
Học bài
Tô màu, vẽ tranh,
Thời gian trung bình
(giờ/ngày)
2,1 ± 1,3
1,3 ± 1,0
1,2 ± 0,9
1,4 ± 1,1
1,2 ± 1,0
3
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Thời gian trung bình
(giờ/ngày)
Hoạt động
Ðộng
học đàn…
Chơi đùa với bạn
1,7 ± 1,3
(n %)
203 (25,1) 0,000
147 (17,5) 1 (*)
88 (26,6)
116 (35,0) 0,292
127 (38,4)
Chưa thấy sự khác biệt giữa các nhóm tuổi,
dân tộc của trẻ với tình trạng thừa cân-béo phì.
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ béo
phì giữa trẻ trai và gái: trẻ trai có tỉ lệ béo phì cao
hơn trẻ gái (25,1% so với 17,5%).
Bảng 5: Mối liên quan giữa tình trạng thừa cân của
trẻ với thói quen, sở thích ăn uống của trẻ
Ðặc tính
Nhanh
Tốc độ ăn Bình thường
Chậm
Thích
Bình
thường
Thức ăn
béo
Không thích
Không trả lời
Thích
Thức ăn Bình thường
ngọt
Không thích
Không trả lời
516 (47,8)
308 (28,5)
131 (12,2)
124 (11,5)
37 (12,4)
118 (39,7)
95 (32,0)
0,076
47 (15,8)
37 (12,5)
Trẻ thừa cân-béo phì có khuynh hướng ăn
nhanh (p = 0,001) cao hơn trẻ bình thường, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Trẻ thừa cân
- béo phì có tỉ lệ thích ăn thức ăn béo cao hơn
so với trẻ bình thường (22,6% so với 17,8%) tuy
Nghiên cứu Y học
nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Trẻ bình thường thích ăn ngọt cao hơn có ý
nghĩa thống kê so với trẻ thừa cân béo phì (p =
0,017).
Bảng 6: Kiến thức của bà mẹ về dinh dưỡng
Ðồng ý
Uống nhiều nước trái cây tốt
cho sức khỏe
Nước ngọt tốt cho sức khỏe
của trẻ
87,5%
8,5%
10,8%
82,5%
6,7%
7,8%
71,0%
5,8%
3,6%
40,5%
5,9%
7,6%
85,0%
7,4%
50,5%
thừa cân béo phì
Ðồng ý
Không
đồng ý
80,1%
19,9%
66,8%
33,2%
78,7%
21,3%
64,6%
35,6%
52,6%
47,4%
75,8%
24,2%
15,7%
62,8%
70,3% 0,017
(*)
37,2%
29,7%
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Kiến thức
Giảm thức ăn
nhanh
Ðồng ý
Không
Bình Thừa cân p
thường Béo phì
51,7%
56,0%
0,19
48,3%
44,0%
BÀN LUẬN
Ðánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ
theo chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) có tỉ lệ
là 21,2% và tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng tương ứng là
0,8% Trong đó tỉ lệ thừa cân là 13,2% và béo phì
là 8,0%. Ðây là một con số cao đáng báo động.
bà mẹ cho thấy với thức ăn chế biến, thức ăn
nhanh ngày càng sẵn có và phổ biến, vẫn còn
một tỉ lệ khá cao từ 7,8% đến 10,8% các bà mẹ
cho rằng các thức ăn này tốt cho sức khoẻ của trẻ
Nghiên cứu Y học
hoặc tốt hơn thức ăn nấu tại gia đình. Vẫn còn
4% bà mẹ cho rằng nước ngọt tốt cho sức khoẻ
của trẻ, đây là điều cần quan tâm vì nước ngọt là
“mối nguy hiểm thầm lặng” trong việc gây ra
béo phì vì ít ai để tâm và nhận diện nó như một
mối nguy cơ.
Về thái độ với trẻ béo, mặc dù đa số bà mẹ
(77,6%) không đồng ý rằng trẻ béo khoẻ hơn trẻ
bình thường, nhưng hơn 50% bà mẹ vẫn thích
trẻ béo vì “trẻ mập (béo) thì xinh xắn, đáng yêu
hơn”. Ðiều này cho thấy việc cung cấp kiến thức
cho bà mẹ thì dễ dàng hơn việc thay đổi thái độ
của bà mẹ về mong muốn có một trẻ mập mạp
đáng yêu.
Nhóm bà mẹ có con thừa cân béo phì có kiến
thức đúng rằng: trẻ thừa cân nên tăng vận động
(p = 0,009), giảm thức ăn có dầu mỡ, chất béo (p
= 0,017) cao hơn nhóm bà mẹ có con bình thường
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kiến thức về
phòng chống béo phì bằng việc giảm thức ăn
nhanh và ăn nhiều trái cây của nhóm bà mẹ có
con thừa cân béo phì cao hơn nhóm bà mẹ có
con bình thường (tương ứng là 56% và 51,7%,
bà mẹ không đồng ý thức ăn đóng hộp là tốt cho
sức khoẻ của trẻ nhưng đối với các loại thức ăn
nhanh và thức ăn chế biến sẵn vẫn còn một tỉ lệ
khá cao các bà mẹ chọn loại thức ăn này cho trẻ
vì cho rằng các thức ăn nhanh có thành phần
dinh dưỡng tốt hơn thức ăn nấu tại gia đình và
thức ăn chế biến sẵn thì tốt cho sức khoẻ.
5.
6.
7.
KIẾN NGHỊ
Trong việc phòng chống béo phì ở trường
mầm non, mẫu giáo chúng tôi đề xuất các biện
pháp sau:
Tăng cường việc phòng ngừa thừa cân béo
phì ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo bằng các hình thức
truyền thông gíao dục, nâng cao sức khoẻ phù
hợp. Áp dụng các hình thức giáo dục truyền
thông sáng tạo và đa dạng.
Truyền thông thường xuyên cho phụ huynh
về tác hại của béo phì và các nguyên nhân béo
phì cũng như các phòng chống thích hợp. Ðồng
thời cần nêu tác hại của các loại thức ăn nhanh,
thức ăn chế biến sẵn, các loại nước ngọt trong
thông tin cho các bậc phụ huynh.
Cân đo trẻ thường xuyên để sớm phát hiện
dấu hiệu tăng cân, thừa cân của trẻ và có biện
Nghiên cứu Y học
Trần Thị Hồng Loan (2003). Tình trạng thừa cân và béo
phì các tầng lớp dân cư thành phố Hồ Chí Minh năm 19962001. Trung tâm Dinh Dưỡng thành phố Hồ Chí Minh.
WHO. Controlling the global obesity epidemic.
www.who.int/dietphysicalactivity/goals/en/print.html
WHO.
Obesity
and
overweight
fact
sheet.
www.who.int/dietphysicalactivity/publications/facts/obesity/
en/
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng
Nghiên cứu Y học
7
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008
8Chuyên Đề Y Tế Công Cộng và Y Học Dự Phòng
Nghiên cứu Y học