BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ÐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHÙNG ĐỨC NHẬT
THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở TRẺ MẪU GIÁO
QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số: 62.72.70.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thƣ viện quốc gia Việt Nam
- Thƣ viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM
- Thƣ viện Đại học Y Dƣợc TP. HCM
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
Đặt vấn đề
Thừa cân béo phì (TCBP) đang trở thành một trong
những vấn đề y tế công cộng quan trọng. Theo Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) năm 2008 trên thế giới có 1,4 tỉ người lớn từ 20
tuổi trở lên bị thừa cân béo phì, trong đó có 500 triệu là béo phì.
Năm 2005 có 20 triệu trẻ thừa cân béo phì dưới 5 tuổi. Dự đoán
đến năm 2015 có khoảng 2,3 tỉ người lớn thừa cân béo phì,
trong đó hơn 700 triệu là béo phì. Tốc độ gia tăng của dịch thừa
cân béo phì là đáng báo động.
Tình hình gia tăng thừa cân béo
phì xảy ra nhanh chóng ở cả nước phát triển và nước đang phát
triển.
Tại Việt Nam, trong khi tình trạng suy dinh dưỡng chưa
được giải quyết hoàn toàn lại xuất hiện thêm một gánh nặng do
tỉ lệ thừa cân béo phì gia tăng nhanh. Tại các thành phố lớn của
Việt Nam đều thấy tình trạng gia tăng tỉ lệ thừa cân béo phì ở
lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và học sinh tiểu học. Phần lớn các
trường hợp thừa cân béo phì là do tăng năng lượng khẩu phần
ăn hoặc giảm hoạt động thể lực hoặc kết hợp cả hai yếu tố.
Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy khoảng 1/3 trẻ nhỏ
thừa cân béo phì tiếp tục thừa cân béo phì đến khi trưởng thành.
Đây cũng là nguyên nhân các bệnh mạn tính như tăng huyết áp,
đái tháo đường làm tăng gánh nặng y tế do bệnh mạn tính
không lây.
Tại Việt Nam, các cuộc điều tra nhân khẩu trước năm
1995 thấy tỉ lệ thừa cân béo phì không đáng kể. Đến năm 2000
điều tra tại các thành phố lớn thấy tỉ lệ thừa cân béo phì học
sinh tiểu học Hà Nội là 10%, thành phố Hồ Chí Minh là 12%.
Đến 2006, tại TP. HCM tỉ lệ TCBP ở trẻ tiền học đường đã là
20,5% trong đó béo phì là 16,3%.
Ðể can thiệp hiệu quả phòng chống thừa cân béo phì ở
trẻ, cần xác định những yếu tố nguy cơ thừa cân béo phì và tìm
các biện pháp làm giảm các yếu tố nguy cơ này. Thử nghiệm
giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống thừa cân béo phì ở
trẻ em là cấp thiết.
3
Những đóng góp mới của luận án
Nghiên cứu can thiệp chủ yếu là truyền thông thay đổi
kiến thức và thái độ của bà mẹ về dinh dưỡng và phòng chống
thừa cân béo phì. Can thiệp nhằm gia tăng kiến thức bà mẹ về
dinh dưỡng, về thừa cân béo phì và thúc đẩy mối quan tâm đến
việc tăng cường vận động của trẻ tại trường học và tại gia đình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy can thiệp làm tăng kiến thức và
thay đổi thái độ của bà mẹ về thừa cân béo phì theo hướng tích
cực. Tại trường can thiệp, có sự gia tăng kiến thức đúng và thái
độ đúng về dinh dưỡng và thừa cân béo phì. Can thiệp tác động
lên thời gian dành cho hoạt động tĩnh tại của trẻ. Ở trẻ tại
trường can thiệp thời gian hoạt động tĩnh tại không đổi. Trong
2
(m
2
)
1.3. Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới
Trên thế giới, trong giai đoạn 1990-2000 sự gia tăng thừa
cân béo phì tương đối nhanh. Đến 2011 toàn cầu có 40 triệu trẻ
dưới 5 tuổi thừa cân béo phì. Tỉ lệ thừa cân béo phì ở học sinh
các khu vực trên thế giới như sau:
Bảng 1.4. Tỉ lệ TCBP toàn cầu ở trẻ em tuổi học đường.
Thừa cân (%)
Béo phì (%)
Toàn cầu
7,6
2,7
Châu Mỹ
23,6
8,2
Châu Âu
15,0
4,6
Cận đông
9,7
6,2
Châu Á – Thái Bình Dương
4,1
1,0
Châu Phi - cận Sahara
1,1
1.6.4. Các yếu tố khác như kinh tế, văn hóa, địa dư:
Thừa cân béo phì liên quan các yếu tố kinh tế - văn hoá - xã hội
tạo thuận lợi cho việc gia tăng tiêu thụ thực phẩm nhiều năng
lượng, nhiều hàm lượng chất béo, và lối sống tĩnh tại.
1.7. Tác hại của thừa cân béo phì
Thừa cân béo phì gây tác hại lên tim mạch, làm tăng nguy
cơ mắc bệnh tăng huyết áp, nguy cơ xơ vữa và thuyên tắc mạch
6
vành. Thừa cân béo phì thường xảy ra cùng với hội chứng
chuyển hóa là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2, đi kèm
các rối loạn lipid máu.
Thừa cân béo phì ảnh hưởng tâm lý trẻ: trẻ bị bạn bè
trong lớp trêu chọc, bị chê cười, bị đặt các biệt danh làm cho trẻ
cảm thấy mặc cảm và chịu áp lực tâm lý.
1.8. Can thiệp phòng chống thừa cân béo phì ở trẻ em
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chi phí cho thừa cân
béo phì có thể lên đến 2% - 7% tổng chi phí cho chăm sóc y tế
của các nước đã phát triển.
Can thiệp phòng chống thừa cân béo phì là một yêu cầu y
tế công cộng ngày càng trở nên cấp bách trên toàn cầu. Thừa
cân béo phì không chỉ là vấn đề sức khỏe ở các nước đã phát
triển mà còn là vấn đề sức khỏe ở các nước đang phát triển.
Chuyển tiếp kinh tế đưa đến chuyển tiếp dinh dưỡng
khiến thế giới và Việt Nam phải đối mặt với gánh nặng kép:
thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng chủ yếu xảy ra ở trẻ em.
Trẻ em sống ở các thành phố lớn có nguy cơ thừa cân béo phì
cao hơn do chịu tác động của lối sống đô thị hóa với sự gia tăng
các điểm bán thức ăn nhanh và các loại thức ăn nhanh.
Địa điểm triển khai chương trình can thiệp cũng có vai trò
Với z
(1-α/2)
=1,96; z
(1-β)
=0,84; P
1
=0,18; P
2
=0,09; n=176 cho
mỗi nhóm, thực tế điều tra 198.
Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng thực hiện
trên 110 trẻ cho mỗi trường (khoảng 36 trẻ cho mỗi cấp lớp:
mầm, chồi, lá) gồm một trường can thiệp và 2 trường đối
chứng. Tổng số có 660 lượt trẻ được điều tra, chia hai đợt điều
tra trước và sau can thiệp, mỗi đợt 330 trẻ.
2.3. Thời gian nghiên cứu: 2006-2008, trong đó điều tra
cắt ngang năm 2006, nghiên cứu bệnh chứng năm 2007, can
thiệp cộng đồng có đối chứng năm 2008.
Địa điểm nghiên cứu: quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
2.4. Vấn đề y đức
Nghiên cứu đảm bảo người tham gia nghiên cứu không chịu
sự tổn hại nào về tinh thần hay thể chất. Tham gia của phụ
huynh là tự nguyện, người tham gia được quyền chọn lựa tham
gia hay từ chối tham gia nghiên cứu.
8
nhu cầu năng lượng theo lứa tuổi và cân bằng dinh dưỡng, lập
khẩu phần ăn cho trẻ, các nguy cơ và tác hại của thừa cân béo
phì ở trẻ bằng cách trao đổi thông tin qua việc họp mặt trao đổi
và phát tài liệu truyền thông tại các lớp có can thiệp.
9
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Xác định tỉ lệ thừa cân béo phì
Mẫu điều tra cắt ngang: tổng số 1.650 trẻ được điều tra.
Bảng 3.4. Tỉ lệ thừa cân béo phì của trẻ (theo chỉ số BMI theo
tuổi và giới) (n=1650)
Ðặc tính
Tần số
Tỉ lệ (%)
BMI theo tuổi và giới Thừa cân béo phì
+ thừa cân
+ béo phì
331
225
106
20,1
13,7
6,4
Bình thường
1302
78,9
Suy dinh dưỡng
(*)
Tổng
350
1.300 10
Hình 3.1 So sánh tỉ lệ TCBP của trẻ theo tốc độ ăn
Kết quả hình 3.1 cho thấy có sự khác biệt về tỉ lệ thừa cân
béo phì ở các nhóm trẻ có tốc độ ăn khác nhau, nhóm trẻ ăn
nhanh có tỉ lệ thừa cân béo phì (50%) cao hơn so với nhóm trẻ
ăn chậm (5,8%) hoặc tốc độ ăn bình thường (23,9%).
Bảng 3.17. Liên quan dân tộc cha, dân tộc mẹ, trình độ học
vấn cha, trình độ học vấn mẹ với tình trạng thừa cân béo phì
của trẻ (n=396)
Nhóm bệnh
n (%)
Nhóm chứng
(1,1 – 3,0)
0,009
(*)
TĐHV cha
≤ cấp 2
Trên cấp 2
65 (32,8)
133 (67,2)
47 (23,7)
151 (76,3)
1,5
(1,1 – 2,4)
0,045
(*)
TĐHV mẹ
≤ cấp 2
Trên cấp 2
74 (37,4)
124 (62,6)
49 (24,7)
149 (75,3)
27 (13,6)
171 (86,4)
5,3
(3,2 - 9,0)
< 0,001
(*)
Ăn nhanh
Có
Không
87 (44,2)
111 (55,8)
43 (21,7)
155 (78,3)
2,8
(1,7 - 4,4)
< 0,001
(*)
(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trẻ háu ăn có nguy cơ thừa cân béo phì gấp 5,3 lần trẻ ăn
bình thường (p < 0,001). Trẻ ăn nhanh có nguy cơ thừa cân béo
phì gấp 2,8 lần trẻ ăn bình thường (p < 0,001).
0,01
(*)
Thích ăn
ngọt: Không
Có
Không biết
83 (41,9)
84 (42,4)
31 (15,7)
73 (36,9)
101 (51,0)
24 (12,1)
1
0,7 (0,5 - 1,1)
0,8 (0,3 – 1,8) 0,151
0,685
(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê
12
Trẻ thích ăn chất béo có nguy cơ thừa cân gấp 2,3 lần (KTC
95% : 1,4-3,8) so với trẻ không thích ăn chất béo.
Trẻ thừa cân có thời gian hoạt động tĩnh tại dài hơn trẻ bình thường
114.3
n (%)
Nhóm chứng
n (%)
OR
p
Có
Không
Tổng
181 (91,4%)
17 (9,6%)
198 (100)
165 (83,3%)
33 (16,7%)
198 (100)
2,1
(1,1 - 4,2)
0,015 (*)
(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê
Kết quả bảng 3.25: Có mối liên quan giữa kiến thức về
phòng tránh thừa cân béo phì và tình trạng thừa cân béo phì của
trẻ. Bà mẹ có con thừa cân béo phì có kiến thức đúng về phòng
chống thừa cân béo phì nhiều gấp 2,1 lần (KTC 95%: 1,1-4,2;
p< 0,05) so với bà mẹ có con không thừa cân béo phì. 13
3.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông
Bảng 3.31. So sánh tỉ lệ có kiến thức dinh dưỡng đúng
sau can thiệp của các bà mẹ giữa trường can thiệp và trường
đối chứng
đúng, thái độ đúng đối với thừa cân béo phì sau can thiệp của
các bà mẹ giữa trường can thiệp và trường đối chứng
Đặc điểm
Tỉ lệ có TĐ đúng
p
Can thiệp
n (%)
Đối chứng
n (%)
Ăn hợp lý giúp trẻ tránh TCBP
91 (82,7)
171 (82,2)
0,959
Ăn đủ theo tuổi giúp tránh TCBP
97 (88,2)
172 (82,7)
< 0,05
Trẻ mập thì xinh xắn, đáng yêu
35 (31,8)
60 (28,8)
< 0,05
Trẻ mập thì không khỏe hơn
70 (63,6)
98 (47,1)
< 0,05
Bảng 3.32 cho thấy sau can thiệp các bà mẹ ở trường có
can thiệp có kiến thức phòng chống thừa cân béo phì cao hơn bà
mẹ nhóm đối chứng khi biết rằng ăn vừa đủ nhu cầu dinh
cho thấy có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê thời gian hoạt động
tĩnh tại của trẻ.
140.9
185.5
119.2
124.9
0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
200
Hoạt động tĩnh tại Hoạt động vận động
So sánh thời gian hoạt động của trẻ qua điều tra
trước và sau
Trước
Sau
15
4.1. Xác định tỉ lệ thừa cân béo phì
Sử dụng chỉ số BMI theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng
thừa cân béo phì ở trẻ mẫu giáo tại quận 5, thành phố Hồ Chí
Minh nghiên cứu đã xác định tỉ lệ thừa cân béo phì ở trẻ là
20,1%, trong đó có 13,7% là thừa cân và 6,4% là béo phì.
So sánh với số liệu của tác giả Huỳnh Thị Thu Diệu năm
2006 có tỉ lệ thừa cân là 20,5% và béo phì là 16,3%. Diễn tiến
trên cho thấy tại TP. Hồ Chí Minh tỉ lệ thừa cân trẻ tiền học
đường 4 - 6 tuổi tại các cơ sở nhà trẻ mẫu giáo đã gia tăng rất
nhanh trong vòng 6 năm từ 3% năm 2000 đến 20% năm 2006.
Kết quả cho thấy tỉ lệ trẻ thừa cân là 13,7% cao hơn tỉ lệ trẻ
béo phì chỉ là 6,4%, các biện pháp can thiệp cần được đẩy mạnh
hơn nữa để làm giảm số trẻ thừa cân, không đợi trẻ chuyển sang
giai đoạn béo phì. Khi trẻ đã béo phì, các can thiệp trên cộng
đồng đưa trẻ trở lại trạng thái cân nặng bình thường sẽ rất khó
khăn. Theo chiến lược phòng chống thừa cân béo phì của Tổ
chức Y tế Thế giới, khi tỉ lệ thừa cân cao cần tiếp cận làm giảm
tỉ lệ thừa cân để trẻ thừa cân không trở thành béo phì và nhằm
làm giảm tỉ lệ thừa cân béo phì chung.
4.2. Xác định mối liên quan các yếu tố nguy cơ với tình
trạng thừa cân béo phì của trẻ
Nghiên cứu xác định một số yếu tố liên quan thừa cân béo
phì ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo tại quận 5, thành phố Hồ Chí Minh:
trẻ trai (Bảng 3.8), trẻ có mẹ hoặc cha là người Kinh, trẻ có cha
hoặc mẹ có trình độ văn hóa dưới cấp 2 (Bảng 3.17), trẻ háu ăn
và ăn nhanh (Bảng 3.20), trẻ có sở thích ăn chất béo (Bảng
3.21), thời gian tĩnh tại dài (Hình 3.4).
Qua nghiên cứu, một số các yếu tố dân số học và yếu tố xã
hội liên quan được xác định có liên quan đến tình trạng thừa cân
béo phì của trẻ. Tỉ lệ trẻ trai thừa cân béo phì (25,1%) cao hơn
thói quen ăn nhanh, háu ăn do có liên quan với tình trạng thừa
cân béo phì trẻ mẫu giáo. Kết quả nghiên cứu này cho thấy trẻ
háu ăn có nguy cơ thừa cân gấp 5,3 lần so với trẻ không có thói
quen này, trẻ ăn nhanh có nguy cơ thừa cân gấp 2,8 lần so với
18
trẻ không có thói quen này (Bảng 3.20). Điều này phù hợp với
kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Công Hòa ở trẻ 2-6 tuổi
tại các trường mầm non quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh
năm 2005. Nghiên cứu của Cao Thị Yến Thanh ở 1.835 trẻ phát
hiện ăn nhanh là yếu tố nguy cơ với OR=2,2.
Thói quen ăn uống và sở thích đối với chất ngọt và chất béo
thường liên quan với tình trạng thừa cân béo phì của trẻ. Kết
quả nghiên cứu phát hiện có mối liên quan giữa sở thích ăn chất
béo và tình trạng thừa cân béo phì. Trẻ có sở thích ăn chất béo
có nguy cơ thừa cân gấp 2,3 lần (p < 0,001) trẻ không có sở
thích này (Bảng 3.21). Ðiều này hoàn toàn phù hợp với nghiên
cứu trước đây của Lê Thị Hải, và nghiên cứu của Nguyễn Thị
Kim Hưng cho thấy có liên quan giữa ăn chất béo và thừa cân
béo phì.
Thời gian hoạt động trung bình của trẻ khoảng 1,7 giờ/ngày
dành để chơi đùa với bạn. Trong khi đó, thời gian tĩnh tại của
trẻ là 7,2 giờ/ngày dành cho việc xem truyền hình, chơi máy vi
tính, chơi trò chơi điện tử, học bài, tô màu, vẽ tranh. Thời gian
tĩnh tại hơn gấp ba lần thời gian dành cho hoạt động cho thấy
lối sống tĩnh tại là nguyên nhân gây thừa cân béo phì ở trẻ.
Nhóm thừa cân béo phì có thời gian hoạt động tĩnh tại là 178
phút/ngày cao hơn nhóm trẻ bình thường (156 phút/ngày) (p <
0,05) (Hình 3.4). Điều này cho thấy “lười vận động” là một yếu
tố nguy cơ thừa cân béo phì.
nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Kim Tiến tại
trường tiểu học Huế năm 2010.
Tác động lên thời gian hoạt động của trẻ
Tại trường đối chứng, thời gian hoạt động tĩnh tại của trẻ
tăng từ trung bình 141 phút/ngày lên 185 phút/ngày, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) (Hình 3.5).
Tại trường can thiệp, không có hiện tượng gia tăng thời
gian hoạt động tĩnh tại của trẻ. Thời gian hoạt động tĩnh tại của
trẻ từ trung bình 213 phút/ngày giảm còn 199 phút/ngày (Hình
3.6).
Đánh giá chi phí-hiệu quả của can thiệp
Đánh giá chi phí-hiệu quả và lợi ích thu được sau can thiệp,
20
ước tính chi phí truyền thông để giảm thừa cân béo phì ở trường
can thiệp khoảng 535.000 đ/một trường hợp. Mức chi phí như
vậy là có thể chấp nhận được khi can thiệp ngắn hạn trong
phạm vi hẹp. Khi can thiệp rộng cần nghiên cứu thêm các biện
pháp kết hợp như cho trẻ gia tăng vận động và tính chi phí để
triển khai các hoạt động gia tăng này.
21
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Đề tài được thực hiện theo các thiết kế: nghiên cứu cắt
ngang, nghiên cứu bệnh chứng, nghiên cứu can thiệp cộng đồng
có đối chứng và được triển khai tại tất cả các trường mầm non
mẫu giáo trên địa bàn quận 5 thành phố Hồ Chí Minh. Điều tra
cắt ngang có 1650 trẻ và phụ huynh tham gia. Nghiên cứu bệnh
chứng có 396 trẻ gồm 198 trẻ bệnh và 198 trẻ nhóm chứng cùng
thói quen háu ăn. Trẻ ăn nhanh có nguy cơ thừa cân béo phì gấp
2,8 lần so với trẻ ăn chậm. Trẻ có sở thích ăn chất béo có nguy
cơ thừa cân béo phì gấp 2,3 lần trẻ không có sở thích trên.
Can thiệp bằng các biện pháp truyền thông giáo dục sức
khỏe thay đổi kiến thức về dinh dưỡng và về phòng chống thừa
cân béo phì cho bà mẹ đạt kết quả tốt. Cung cấp kiến thức định
kỳ cho bà mẹ về phòng chống thừa cân béo phì và dinh dưỡng
hợp lý, tăng cường vận động cho trẻ giúp bà mẹ thay đổi kiến
thức phòng chống thừa cân béo phì và dinh dưỡng hợp lý và
thay đổi thái độ tích cực hơn với tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ tại trường có can
thiệp tăng lên sau can thiệp so với bà mẹ tại trường đối chứng.
Bà mẹ tại trường can thiệp có tỉ lệ kiến thức về dinh dưỡng cao
hơn trong các nội dung về: lợi ích của việc cho trẻ uống nước
trái cây so với uống các loại nước ngọt; thức ăn chế biến sẵn so
với thức ăn nấu tại gia đình; thức ăn tươi sống tốt hơn thức ăn
đóng hộp trong dinh dưỡng cho trẻ, trẻ nên vận động ngoài trời
nhiều hơn. Các bà mẹ cũng biết rằng ăn vừa đủ dinh dưỡng theo
tuổi giúp phòng chống thừa cân béo phì cho trẻ.
Can thiệp góp phần làm thay đổi thái độ về tình trạng
dinh dưỡng của trẻ. Sau can thiệp thái độ đồng ý rằng trẻ béo
mập không khoẻ bằng trẻ bình thường và thái độ không thích
trẻ quá béo mập của bà mẹ nhóm trường can thiệp cao hơn so
với bà mẹ tại trường đối chứng cho thấy bà mẹ có thái độ tích
cực hơn về hình dáng bề ngoài của trẻ.
Truyền thông dinh dưỡng có hiệu quả và đạt được các
mục tiêu truyền thông. Các thông điệp đơn giản đã được bà mẹ
tiếp thu và làm thay đổi kiến thức về dinh dưỡng và thái độ đối
23