Luận án tiến sĩ Nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại huyện Củ Chi,thành phố Hồ Chí Minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp - Pdf 27

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có tới 50% phụ nữ mang thai trên thế giới
bị thiếu máu, các nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 18%, các nước
đang phát triển chiếm tỷ lệ từ 35-75%. Trong đó thiếu máu thiếu sắt chiếm
khoảng 25-35% ở các nước đang phát triển và 5-8% ở các nước phát triển
[68], [81]. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đề lớn về sức khỏe cộng
đồng tại nhiều quốc gia. Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy
36,8% phụ nữ mang thai tại Việt Nam thiếu máu [62].
Một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thiếu máu đã làm tăng tỷ suất tử vong
mẹ ở các nước đang phát triển. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai có thể gây
nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con. Mẹ dễ bị sẩy thai, nhau tiền đạo,
nhau bong non, cao huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyết sau
sinh, nhiễm trùng hậu sản. Con bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai, thời gian
điều trị hồi sức kéo dài, tăng tỉ suất và bệnh suất sơ sinh hơn so với trẻ không
thiếu máu. Con những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm thai kỳ có nguy cơ
bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác [72], [112].
Ở nước ta, chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đã được
triển khai rộng khắp ở tất cả các địa phương với mục tiêu trên 80% phụ nữ
mang thai được bổ sung viên sắt hoặc thuốc bổ máu ít nhất 3 tháng trong thai
kỳ. Các hoạt động chính được triển khai gồm truyền thông kiến thức phòng
chống thiếu máu kết hợp cấp phát viên sắt cho phụ nữ mang thai thông qua
các Trung tâm Y tế quận, huyện và các trạm y tế xã, phường [13]. Tuy nhiên,
vẫn còn những khó khăn hạn chế trong vấn đề dinh dưỡng phòng chống thiếu
máu ở phụ nữ mang thai tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
- nơi mà đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp,
phong tục tập quán lạc hậu, đi kèm theo là các bệnh ký sinh trùng, sốt rét,
nhiễm giun vẫn còn điều kiện để phát triển và gây bệnh.
2
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về phòng chống thiếu máu cho
phụ nữ mang thai như tiếp thị xã hội đến chăm sóc dinh dưỡng, bổ sung sắt,

Vào tháng thứ 7 của thai kỳ, khối lượng tuần hoàn tăng thêm gần 50% so với
trước khi mang thai, do thể tích huyết tương và khối huyết cầu đều tăng làm
thể tích máu toàn phần tăng lên. Nhưng do thể tích huyết tương tăng cao hơn
thể tích khối huyết cầu, hàm lượng Hemoglobin (Hb) và tỷ lệ Hematocrit
(HCT) sẽ giảm, gây nên tình trạng thiếu máu [7]. Đồng thời sự gia tăng nhu
cầu và chuyển hoá đường, đạm, mỡ, vitamin, khoáng chất cũng rất cao [11].
Nếu mất sự cân bằng và không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cơ
thể thì sẽ dẫn đến tới thiếu hụt năng lượng và các chất dinh dưỡng. Quan
trọng nhất là sự thiếu hụt của 4 yếu tố: Sắt, Acid folic, Vitaminh B12 và
Protein, vì sẽ dẫn đến hậu quả thiếu năng lượng và thiếu máu. Bởi vậy, tình
trạng thiếu máu dinh dưỡng (TMDD) là một trong những vấn đề về sức khoẻ
cộng đồng hay gặp nhất ở phụ nữ mang thai (PNMT) [26].
1.1.1.1. Khái niệm về thiếu máu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thiếu máu là tình trạng giảm số
lượng hồng cầu, giảm hàm lượng Hb trong một đơn vị thể tích máu, gây tình
trạng thiếu oxy tổ chức, trong đó sự thiếu hụt Hb là quan trọng nhất. Thiếu
máu là hiện tượng bệnh lý hay gặp trong thai nghén, xảy ra khi mất sự cân
bằng giữa hai quá trình sản xuất hồng cầu với nhu cầu tăng về số lượng hồng
cầu và khối lượng máu [132].
Bệnh thiếu máu ảnh hưởng đến gần một nửa số phụ nữ mang thai trên
thế giới: tỷ lệ trung bình là 52% ở các nước đang phát triển so với 23% ở các
4
nước phát triển. Các nguyên nhân phổ biến nhất của thiếu máu là do nghèo
đói, không đủ sắt và vi chất dinh dưỡng khác, sốt rét, bệnh giun móc, sán
máng, nhiễm HIV và bệnh lý Hemoglobin là những yếu tố thêm vào [14].
1.1.1.2. Quan niệm về thiếu máu ở phụ nữ mang thai
Trước đây các tác giả Âu - Mỹ, lấy tiêu chuẩn như sau [123]:
- Hb từ 13,7 - 14 g/dl Bình thường
- Hb > 11 g/dl Không thiếu máu
- Hb từ 10 - 11 g/dl Thiếu máu sinh lý

phụ nữ mang thai và phụ nữ không mang thai (19-50 tuổi)
Vi chất
dinh dưỡng
Phụ nữ
mang thai
Phụ nữ không
mang thai
Giới hạn tiêu thụ
tối đa
Iron 27mg 18mg 45mg
Zinc 10-11mg 8mg 35-40mg
Calcium 1.000mg 1.000mg 2.500mg
Phosphorus 1.000mg 1.000mg 3.500mg (PNMT)
4.000mg (phụ nữ)
Iodine 220μg 150μg 1.100μg
Selenium 65μg 60μg 400μg
Vitamin A 800μg 700μg 3000μg
Vitamin B
- thiamin
- riboflavin
- niacin
- vitamin B6
- vitamin B12
- folate
1,4mg
1,4mg
18,0mg
1,9mg
2,6μg
600μg

1.1.2.2. Thiếu máu do thiếu acid folic ở phụ nữ mang thai
Axit folic (folat, vitamin B9) là chất cần thiết góp phần tạo HC và có
ảnh hưởng đến sự tổng hợp AND và RNA, liên quan mật thiết đến quá trình
phân chia nhân và nhân đôi tế bào. Thiếu axit folic ở PNMT sẽ gây khiếm
khuyết ống tủy và nguy cơ dị tật đốt sống của thai nhi [17], [57], [89], [97].
Nguyên nhân: lượng acid folic cung cấp thiếu do chế độ ăn uống thiếu
(thường kèm theo đói protein năng lượng), do nghén nặng, do sai lầm trong
dinh dưỡng dẫn tới ăn thiếu các thức ăn giàu acid folic [57], [88], [112]. Giảm
hấp thu acid folic do bệnh lý của đường tiêu hoá. Nhu cầu tăng quá mức khi
chửa đẻ nhiều, đẻ dầy, đa thai… [74], [82], [101], [120].
Triệu chứng:
- Lâm sàng: thường nghèo nàn, chỉ thấy rõ khi thiếu máu vừa hoặc nặng.
7
- Cận lâm sàng: tuỷ đồ thấy nhiều nguyên HC khổng lồ trưởng thành
không đồng đều. Định lượng acid folic huyết thanh giảm dưới 3g/ml [17],
[57].
1.1.2.3. Thiếu máu do thiếu vitamin B12 ở phụ nữ mang thai
Vitamin B12 là yếu tố quan trọng với cơ thể tuy nhu cầu không lớn,
thiếu vitamin B12 gây ra thiếu máu và rối loạn chức năng của hệ thần kinh.
TMDD do thiếu vitamin B12 đơn thuần hiếm gặp, thường phối hợp với thiếu
máu do thiếu các yếu tố dinh dưỡng khác [57], [120].
Nguyên nhân thiếu vitamin B12: do cung cấp thiếu vì chế độ ăn uống
kiêng khem hoặc mất cân đối, thiếu thức ăn động vật trong khi đó nhu cầu
vitamin B12 lại tăng lên [107], [113]. Do hấp thu kém ở người có bệnh dạ
dày, ruột. Một số phụ nữ thiếu vitamin B12 bẩm sinh như bệnh Biermer. Các
bệnh nhiễm trùng mạn tính, bệnh lý ở gan làm rối loạn chuyển hoá và dự trữ
vitamin B12 [88], [115].
Triệu chứng lâm sàng: xảy ra từ từ, phối hợp các triệu chứng thiếu máu
với các bệnh lý cơ quan tiêu hoá, thần kinh
Triệu chứng cận lâm sàng: thiếu máu do thiếu vitamin B12 gần giống

và ngăn cản việc hấp thu vi chất [9], [101], [118]. Bởi vậy khẩu phần ăn giàu
thực phẩm nguồn gốc động vật sẽ đảm bảo cung cấp đủ lượng sắt. Tuy nhiên
nếu trong khi thiếu thịt cá, chỉ ăn chủ yếu ngũ cốc, rau củ… nhưng được bổ
sung thêm vitamin C thì cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm tăng khả năng hấp
thu sắt [7], [11], [79].
1.1.3.2. Nhu cầu về sắt và các chất dinh dưỡng tăng cao
Trong thời kỳ mang thai, thai nhi tiếp thu lượng lớn sắt từ cơ thể người
mẹ qua nhau thai. Nếu chế độ ăn uống của người mẹ không hợp lý, người mẹ
rất dễ bị thiếu máu do thiếu sắt, biểu hiện rõ nhất ở phụ nữ có chửa đa thai, đẻ
nhiều, các lần chửa đẻ gần nhau (dưới 2 năm) [7], [80], [82].
9
Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai có sự gia tăng số lượng hồng cầu của
mẹ và thể tích huyết tăng cũng tăng thêm khoảng 50% nên nhu cầu sắt cũng
tăng cao [7].
1.1.3.3. Bổ sung sắt chưa đầy đủ
Lượng sắt thực tế hiện nay của bữa ăn người Việt Nam chỉ đạt khoảng
30% - 50% nhu cầu, nhất là ở các vùng nông thôn, đó chính là nguyên nhân
dẫn đến tỷ lệ TMTS ở nông thôn thường rất cao [19], [23], [77]. TMTS
thường có nguyên nhân tiềm ẩn từ trước khi mang thai, vì vậy nếu phụ nữ tuổi
sinh đẻ hoặc ngay cả các em gái tuổi vị thành niên được bổ sung viên sắt là
rất có ý nghĩa. Tuy nhiên đa số phụ nữ chỉ được tuyên truyền và cho uống
viên sắt khi mang thai, ít có phụ nữ uống sắt trước khi mang thai và sau đẻ
[15], [18].
Phụ nữ mang thai được tư vấn và ghi đơn cho uống viên sắt ngay khi
phát hiện mang thai là việc làm tốt. Song nếu có nôn nghén nhiều, uống viên
sắt càng gây nôn nhiều hơn, bởi vậy PNMT thường sợ uống viên sắt và bỏ
không uống nữa, ngay cả khi đã hết nôn nghén. Theo khuyến cáo, uống viên
sắt được thực hiện càng sớm càng tốt, tuy nhiên dễ chấp nhận nhất nên bắt
đầu vào tuần 14-16, khi hết nôn nghén, đã ăn uống tốt trở lại.
1.1.3.4. Bệnh nhiễm trùng và bệnh ký sinh trùng

của con có mối tương quan thuận với ferritin huyết thanh của mẹ, những
PNMT thiếu máu thì nồng độ ferritin trong máu thai nhi thường thấp đi kèm
với trọng lượng trẻ sơ sinh thấp [93], [125].
Theo Milman (2008), PNMT được uống sắt bổ sung thì con của họ sau
đẻ có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn và mức ferritin huyết thanh cao hơn so với trẻ
có mẹ không được bổ sung sắt. Mẹ thiếu máu, nồng độ ferritin trong máu sơ
sinh thấp, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn [95], [99].
11
1.1.5. Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai
1.1.5.1. Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai
trên thế giới
Thiếu máu làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong. Thiếu máu gây ra
bởi nhiều nguyên nhân cả do dinh dưỡng (thiếu vitamin và khoáng chất) và
không do dinh dưỡng (nhiễm trùng). Một trong những yếu tố đóng góp chính
vào tình trạng thiếu máu là do thiếu sắt và thiếu máu thiếu sắt là một trong 10
bệnh đóng góp vào gánh nặng bệnh tật trên thế giới.
Theo báo cáo của WHO dựa trên số liệu của các cuộc điều tra quốc gia
đại diện cho các quốc gia từ năm 1993 đến năm 2005 cho thấy, tỷ lệ thiếu
máu của phụ nữ mang thai là 41,8% và tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ
là 30,2%. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất là ở châu Phi: ở phụ nữ mang thai là
56,1% và phụ nữ tuổi sinh đẻ là 68%. Các quốc gia có vấn đề sức khỏe cộng
đồng về thiếu máu tập trung ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinh và Caribe.
Châu Phi và châu Á là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất vì đây là khu vực nghèo
nhất nên có thể có mối liên quan giữa thiếu máu và phát triển kinh tế xã hội
[132].
Jemal Haidar nghiên cứu trên 170 phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Ethiopia năm
2005 để đánh giá mức độ thiếu máu và thiếu sắt và acid folic về thiếu máu ở
các trường hợp thiếu máu và không thiếu máu. Tỷ lệ tổng thể của thiếu máu là
30,4%; thiếu sắt là 50,1%; thiếu máu thiếu sắt là 18,1%; thiếu hụt acid folic là
31,3% và nhiễm ký sinh trùng là 13,7% [82].

Châu Phi 17,2 57,1 69,9 47,5
Châu Mỹ 3,9 24,1 39,0 17,8
Đông Nam Á 18,1 48,2 182,0 45,7
Châu Âu 2,6 25,1 40,8 19,0
Trung Đông 7,1 44,2 39,8 32,4
Tây Thái Bình Dương 7,6 30,7 97,0 21,5
Toàn cầu 56,4 41,8 468,4 30,2
Nguồn: WHO - Global Database on Anaemia (1993-2005) [132].
Bảng 1.2 cho thấy, theo số liệu điều tra từ trên 192 quốc gia từ năm
1993 đến 2005 (Ngân hàng dữ liệu toàn cầu của WHO), ở phụ nữ mang thai,
13
tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở Châu Phi (57,1%), Đông Nam Á (48,2%) và thấp
nhất là ở Châu Âu (25,1%) và Châu Mỹ (24,1%). Toàn thế giới có đến 56,4
triệu phụ nữ mang thai bị thiếu máu, chiếm tỷ lệ 41,8%. Ở phụ nữ không
mang thai, tỷ lệ thiếu máu thấp hơn với khoảng 468,4 triệu người bị ảnh
hưởng (30,2%) [132].
Tổng kết lại từ các cuộc điều tra trên thế giới từ 1990 tới nay, Ủy ban
thường trực về dinh dưỡng của Liên hiệp quốc (UNSCN) cũng nhận thấy tỷ lệ
thiếu máu qua nhiều năm vẫn không cải thiện nhiều, thậm chí không giảm
được bao nhiêu so với các thiếu hụt dinh dưỡng khác. Vẫn có trên 40% phụ
nữ ở Châu Phi và Châu Á và với sự gia tăng dân số thì số người bị ảnh hưởng
ngày một tăng thêm.
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ và trẻ em ở khu vực Đông Nam Á
(2000-2007) [trích theo 122].
Biểu đồ 1.1 cho thấy, ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ thiếu máu của các
đối tượng nguy cơ có giảm nhưng tốc độ chậm, giảm nhanh nhất ở trẻ em
dưới 5 tuổi, sau đó là phụ nữ mang thai còn phụ nữ không mang thai ở độ
14
tuổi sinh đẻ gần như không thay đổi. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở phụ nữ
mang thai [122] .

nguy cơ cao gây thiếu máu. Thai phụ làm ruộng có nguy cơ thiếu máu cao
hơn các nghề nghiệp khác. Thai phụ sống ở nông thôn, nguy cơ thiếu máu cao
hơn 1,49 lần so với thai phụ sống ở thành thị. Những thai phụ đẻ từ 3 lần trở
lên, nguy cơ thiếu máu là cao nhất. Nhóm thai phụ đẻ lần đầu, nguy cơ thiếu
máu cao thứ hai, tỷ lệ thiếu máu trong nhóm thai phụ đẻ 2 lần là thấp nhất. Tỷ
lệ thiếu máu ở thai phụ tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai lần sinh. Tỷ lệ
thiếu máu cao nhất trong nhóm thai phụ có khoảng cách giữa hai lần sinh <3
năm. Thai phụ chửa đa thai nguy cơ thiếu máu cao hơn thai phụ chửa một
thai. Thai phụ mắc tiền sản giật có nguy cơ thiếu máu cao hơn thai phụ không
mắc [3] .
Năm 2008, điều tra nghiên cứu của Nguyễn Song Tú trên 360 phụ nữ
tuổi sinh đẻ tuổi từ 15-49 tại ba xã Vân Du, Xuân Trúc, Tiền Phong, huyện
Ân Thi, tỉnh Hưng Yên kết quả như sau: tỷ lệ thiếu máu chung ở phụ nữ tuổi
sinh đẻ là 20,8% trong đó cao nhất ở nhóm tuổi 40-49 với tỷ lệ 28% và thấp
nhất ở nhóm tuổi 15-29 với tỷ lệ 9,7%. Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ tuổi sinh
đẻ ở các nhóm tuổi khác nhau, tăng dần theo nhóm tuổi. Liên quan với tuổi
của phụ nữ, ở lứa tuổi từ 30 trở lên phụ nữ có nguy cơ thiếu máu cao hơn 2,2
lần so với lứa tuổi thấp hơn. Những phụ nữ tuổi sinh đẻ nhiễm giun có nguy
cơ mắc thiếu máu gấp 4 lần so với những người không nhiễm [58].
Năm 2008, nghiên cứu của Võ Thị Thu Nguyệt và cộng sự tại Thành
phố Hồ Chí Minh về khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt trong 3 tháng giữa
thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy, tỷ lệ thiếu máu trong thai kỳ là 20,19%, tỷ lệ thiếu máu
thiếu sắt là 17,21% [34].
16
Bảng 1.3. Tình hình thiếu máu ở phụ nữ không mang thai và phụ nữ
mang thai theo vùng sinh thái (2008)
Vùng
Phụ nữ mang thai Phụ nữ không mang thai
n % thiếu máu n % thiếu máu

Liêu, cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 36,7%, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 64,68%.
Thai phụ sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt gấp 12 lần so với
thai phụ mang thai lần đầu. Tuổi mang thai, thai phụ trên 35 tuổi có nguy cơ
thiếu máu thiếu sắt gấp 3,6 lần so với thai phụ có độ tuổi 19 đến 30 tuổi [5].
Nghiên cứu của Đặng Đình Thoảng về thực trạng thiếu máu thiếu sắt ở phụ
nữ mang thai từ 6 đến 36 tuần vùng nông thôn tỉnh Hà Nam, cho thấy tỷ lệ
thiếu máu là 16,2%. Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai [56]
Năm 2012, nghiên cứu của Trương Hồng Sơn về hiệu quả can thiệp
cộng đồng bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc
tỉnh Kon Tum và Lai Châu. Cho thấy tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở
nhóm phụ nữ mang thai tồn tại với tỷ lệ thiếu máu là 36,9%, và thiếu kết hợp
nhiều loại vi chất và các vi chất này có mối liên quan đến nhau và liên quan
đến tình trạng thiếu máu [50].
Theo Lê Thị Hợp [25], trong thập kỷ qua, Việt Nam cũng đạt được
những kết quả đáng kể trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng. Tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em <5 tuổi giảm đáng kể từ 43,3% năm 2000
xuống còn 29,3% năm 2010 và có sự khác biệt lớn giữa các vùng miền (31
tỉnh có tỷ lệ thấp còi còn cao, trên 30%; 2 tỉnh ở mức rất cao - trên 40%). Tỷ
lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai trên toàn quốc vẫn còn cao (36,5%).
Nghiên cứu dịch tễ học, trên cả nước và cắt ngang 347 phụ nữ mang
thai bao gồm chủ yếu là thai phụ ở độ tuổi trên 18 của Đặng Thị Hà và cộng
sự (2011) cho thấy thiếu sắt ở phụ nữ chiếm 31%, nguyên nhân chủ yếu do
chế độ ăn hàng ngày khoảng 50% và kém hấp thu là 50,9% [19].
18
1.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI
1.2.1. Yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
1.2.1.1. Yếu tố kinh tế
Những người PNMT thường nhắc đến thiếu tiền là nguyên nhân chính
khiến họ không thể chăm sóc bản thân tốt được (ví dụ như không thể mua
những thức ăn bổ dưỡng cho bản thân hay là phải làm việc nặng ngay cả khi

Người phụ nữ như vậy sẽ bị mang tiếng là người mẹ thiếu trách nhiệm. Một
số phụ nữ khác trong thời kỳ mang thai có thực hành ăn kiêng một số thực
phẩm nhưng đó không phải là do quan niệm hay niềm tin vào việc kiêng ăn
mà là vì tránh bị gia đình (bên chồng) và cộng đồng trách cứ [42], [44], [45].
Ngoài ra, người phụ nữ có vẻ thụ động và thoả mãn với những gì mà
cuộc sống mang lại cho họ. Ví dụ họ không ra trạm y tế khám thai nếu không
được cán bộ y tế nhắc nhở. Hoặc khi tham gia vào lớp học về y tế và dinh
dưỡng, hay khi gặp gỡ với cán bộ giáo dục y tế thì không nhiều người muốn
tỏ ra học hỏi và tìm hiểu.
1.2.1.3. Yếu tố chăm sóc và ngân sách nhà nước
Cán bộ y tế của các trạm y tế xã chưa có điều kiện chăm lo quản lý sức
khoẻ của người dân đến tận hộ gia đình. Trang thiết bị hiện tại cũng chưa đáp
ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân. Ngân sách nhà nuớc cung cấp
cho các hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở còn hạn chế. Đội ngũ các công tác
viên dân số và nhân viên y tế ấp hoạt động tự nguyện mà chưa có chính sách
thù lao phù hợp chưa phát huy được hiệu quả công tác [27].
1.2.2. Chất lượng khẩu phần ăn và nuôi dưỡng
Sống ở nông thôn nên hầu hết các đối tượng phụ nữ tuổi sinh đẻ đều
làm nông nghiệp với các mức độ khác nhau, do đó thu nhập của họ thường
không ổn định mà biến động theo mùa trong năm. Song hành với thu nhập,
chế độ ăn của họ cũng biến động, lúc thì ăn quá nhiều, khi lại không có gì để
20
ăn. Đối với họ “no dồn, đói góp” là thực hành phổ biến ở nông thôn từ lâu. Vì
vậy việc không có hoặc có ít thứ để ăn trong một thời gian là chuyện bình
thường và cũng bình thường khi mà họ thèm ăn một thứ gì đó (thịt heo, cá,
lòng lợn, quả chua, quả xanh…) và có chút tiền là họ sẵn sàng mua một lượng
lớn để ăn trong một hoặc nhiều bữa liên tục “cho đến khi chán thì thôi”. Do
đó, lập kế hoạch ăn để có một chế độ ăn điều độ là điểm đáng lưu ý cho
những đối tượng này. Nếu không sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thiếu
máu ở PNMT [15], [16], [44], [120], [129].

Sốt rét là bệnh vẫn còn phổ biến ở nhiều tỉnh của Việt Nam, nhất là
vùng núi, vùng sâu. Nhiễm ký sinh trùng sốt rét là một trong những yếu tố
ảnh hưởng đến tình trạng thiếu máu [7], [85].
1.2.5. Dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ
1.2.5.1. Thành viên gia đình và cộng đồng
Người trực tiếp ảnh hưởng đến PNMT chính là chồng của họ vì mối
quan hệ với chồng có ảnh hưởng đến tâm trạng của người phụ nữ và chồng
cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc ăn uống và lao động. Ngày nay, hầu hết các
cặp vợ chồng trẻ độc lập về mặt kinh tế nên việc chi tiêu trong gia đình là của
hai vợ chồng quyết định. Tuy nhiên, các PNMT ở cùng với cha mẹ cũng cho
rằng họ được chăm sóc tốt hơn, được nghỉ ngơi nhiều hơn và không phải làm
việc nặng khi mang thai [45].
1.2.5.2. Truyền thông giáo dục sức khoẻ
Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2001-2010 đã đạt được 11 mục tiêu
chủ yếu, trong đó có mục tiêu phổ biến kiến thức, thực hành dinh dưỡng hợp
lý và phòng chống TMDD [8]. Về cơ bản tổ chức xã hội, các phương tiện
truyền thông phổ biến kiến thức về dinh dưỡng và phòng chống TMDD. Tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế chưa sát thực với tính chất đặc thù của từng đối
tượng cụ thể và kết hợp chặt chẽ với các chương trình y tế khác.
22
1.3. CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI
1.3.1. Chẩn đoán và điều trị thiếu máu ở phụ nữ mang thai
1.3.1.1. Triệu chứng của thiếu máu cấp tính
Thông thường các thiếu máu cấp tính trong sản khoa thường kèm theo
các dấu hiệu cấp tính như băng huyết đường âm đạo, đau bụng…
Thăm khám có thể có các dấu hiệu chung như sau [6]:
- Da xanh, niêm mạc nhợt, lòng bàn tay trắng bệch;
- Tim nhịp nhanh, có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu;
- Huyết áp động mạch giảm, khó thở, nhịp thở nhanh;
- Thần kinh: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, choáng ngất và ngất.

1.3.1.5. Điều trị thiếu máu ở phụ nữ mang thai
- Bổ sung sắt trong điều trị
Điều trị nguyên nhân là rất cần thiết, tuy nhiên bổ sung sắt điều trị thiếu
máu ở PNMT là cơ bản nhất [104]. Có vài cách bổ sung sắt, trong đó đường
uống là chủ yếu, tốt nhất, thuận tiện và an toàn. Sắt được sử dụng là sắt
sulfate hoặc sắt Fumarate dưới dạng hoà tan, có hoá trị 2 [18], [65].
+ Liều lượng: 60-120mg nguyên tố sắt/ngày (tối ưu) chia 2 lần uống xa
bữa ăn, tốt nhất là trước bữa ăn 30 -40 phút. Nên phối hợp uống kèm vitamin
C để tăng khả năng hấp thu, cùng với khẩu phần tăng chất đạm [11].
Bình thường sau 1-2 tuần điều trị, hàm lượng Hb tăng lên rõ rệt, sau 1-2
tháng khối HC có thể trở về bình thường. Với Hb thấp dưới 60g/l, thì phải
điều trị tích cực 2-3 tháng mới hồi phục bình thường. Sau đó tiếp tục dùng ½
liều trên, trong vòng 3 tháng nữa để củng cố sắt dự trữ. Tỷ lệ Hb sẽ được nâng
24
cao lên khoảng 0,02g/l mỗi ngày, nếu cung cấp đủ sắt ngay từ đầu. Sau 1-2
tuần tỷ lệ Hb được tăng rõ rệt. Sau 1-2 tháng khối HC trở về bình thường.
Nếu một bệnh nhân TMTS nặng với Hb ở mức 50-60g/l thì phải mất hơn 2
tháng để hồi phục bình thường [65].
- Truyền máu: truyền máu hiếm khi được sử dụng với bệnh nhân TMTS.
Tuy nhiên, nếu thiếu máu nặng và người bệnh đang trong cuộc đẻ hoặc cần
can thiệp một thủ thuật cấp cứu, thì có thể chỉ định truyền máu [114].
- Bổ sung viên sắt dự phòng:
+ Bổ sung sắt - acid folic hàng ngày cho PNMT: Uống bổ sung viên sắt
hàng ngày được xem là giải pháp quan trọng, giải quyết tình trạng thiếu máu
ở PNMT, đã được WHO khuyến cáo và đang áp dụng tại Việt Nam. PNMT
có thể uống viên sắt ngay khi mang thai đều đặn suốt thời gian mang thai cho
tới sau khi sinh 1 tháng. Liều bổ sung là 60mg sắt nguyên tố (1 viên/ngày),
kèm theo acid folic, vitamin B12…[19], [29], [91], [119].
+ Bổ sung viên sắt dự phòng cho đối tượng nguy cơ cao: việc bổ sung
viên sắt cho phụ nữ gầy yếu, mới kết hôn cần thực hiện sớm, đó là giải pháp

những giải pháp trước mắt cũng như lâu dài [13], [36].
 Đa dạng hóa bữa ăn, phối hợp nhiều loại thực phẩm
Vì thiếu máu ở PNMT chủ yếu là dạng TMDD, bởi vậy giải pháp thực
hiên đa dạng hoá bữa ăn là giải pháp bền vững, đó là việc tăng thêm vào khẩu
phần hàng ngày các loại thực phẩm có hàm lượng các vi chất dinh dưỡng
khác nhau, bổ sung lẫn nhau [47]. Các bước thực hiện bao gồm:
Giáo dục truyền thông cho cộng đồng (đặc biệt là đổi tượng PNMT)
biết cách chọn các thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng. PNMT nên ăn nhiều
loại thực phẩm (trộn lẫn thực phẩm - thực phẩm hỗn hợp) đặc biệt thực phẩm
giàu sắt như thịt có màu đỏ, gan và rau lá mầu xanh đậm, các loại đậu.

Trích đoạn Các biện pháp dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vi chất Một số hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng ở Việt Nam Địa điểm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu mô tả GIẢM TỶ LỆ THIẾU MÁU Ở PNMT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status