BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
ĐỖ MINH SINH
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG,
TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2017
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 3
1.1. Tổng quan điều kiện lao động và làng nghề ............................................... 3
1.2. Thực trạng điều kiện lao động tại các làng nghề/cơ sở tái chế kim loại ....... 7
Bảng 2. 4. Mức độ cấp bách phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh tư thế .... 52
Bảng 2. 5. Giới hạn cho phép của vi khí hậu (QCVN 26:2016/BYT) .............. 54
Bảng 2. 6. Giới hạn cho phép của ánh sáng, độ ồn và bụi ............................... 54
Bảng 2. 7. Giới hạn cho phép của hơi kim loại và khí độc .............................. 54
Bảng 3.1. Quy mô sản xuất của các hộ gia đình tại làng Bình Yên .................. 59
Bảng 3.2. Một số đặc điểm của các hộ sản xuất tại làng Bình Yên .................. 59
Bảng 3.3. Một số đặc điểm người lao động sản xuất tái chế nhôm (n=350)...... 60
Bảng 3.4. Thời gian làm việc và thu nhập của người lao động (n=350) ........... 60
Bảng 3.5. Phân bố NLĐ theo nhóm tuổi đời, tuổi nghề, thời gian làm việc ...... 61
Bảng 3.6. Thực trạng sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân của người lao động tái
chế nhôm tại làng Bình Yên .......................................................................... 61
Bảng 3.7. Cảm nhận gánh nặng lao động của người lao động (n=350) ............ 62
Bảng 3.8. Đánh giá về gánh nặng tư thế của người lao động (n=350) .............. 62
Bảng 3.9. Phân loại mức tư thế lao động theo OWAS (n = 404)...................... 63
Bảng 3.10. Kết quả đo điều kiện vi khí hậu trong các cơ sở sản xuất ............... 64
Bảng 3.11. Phân bố cường độ tiếng ồn và ánh sáng tại các cơ sở sản xuất ....... 65
Bảng 3.12. Nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp trong các cơ sở sản xuất ...... 65
Bảng 3.13. Nồng độ một số hơi khí độc trong các cơ sở sản xuất .................... 66
Bảng 3.14. Hàm lượng một số kim loại (mg/m3) trong các cơ sở sản xuất ....... 66
Bảng 3.15. Phân loại sức khỏe người lao động theo giới tính .......................... 67
Bảng 3.16. Phân loại sức khỏe người lao động theo nhóm tuổi đời.................. 67
Bảng 3.17. Phân loại sức khỏe người lao động theo nhóm tuổi nghề ............... 68
Bảng 3.18. Tình hình bệnh tật của người lao động theo giới tính..................... 69
Bảng 3.19. Tình hình bệnh tật theo công đoạn sản xuất .................................. 70
Bảng 3.20. Tình hình bệnh tật của người lao động theo tuổi đời...................... 70
Bảng 3.21. Tình hình bệnh tật của người lao động theo tuổi nghề ................... 71
Bảng 3.22. Tình hình bệnh tật theo thời gian làm việc trong ngày ................... 71
Bảng 3.23. Mô hình hồi quy logistic mô tả nguy cơ mắc bệnh của người lao động
Biểu đồ 3.1. Phân loại mức tư thế bằng OWAS theo công đoạn (n=404) ......... 63
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ mẫu đo vi khí hậu không đạt tại các công đoạn .................. 64
Biểu đồ 3.3. Tình hình bệnh tật của người lao động (n=350)........................... 68
Biểu đồ 3.4. Một số bệnh phổ biến ở người lao động tái chế nhôm (n=350) .... 69
Biểu đồ 3.5. Phân loại tình trạng tai nạn lao động theo công đoạn (n=350) ...... 77
Biểu đồ 3.6. Phân bố tính chất tổn thương do tai nạn lao động (n=350) ........... 78
Biểu đồ 3.7. Phân loại nguyên nhân gây TNLĐ tại làng Bình Yên (n=350) ..... 80
Biểu đồ 3.8. Kết quả cải thiện điều kiện lao động phân nhóm theo WISH ....... 83
Biểu đồ 3. 9. Kết quả giảm gánh nặng tư thế lao động theo OWAS................. 84
Biểu đồ 3. 10. Phân bố tình trạng mệt mỏi trước và sau can thiệp ................... 86
Biểu đồ 3. 11. Tần suất xảy ra tai nạn lao động của người lao động (n=73) ..... 87
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1. Khung lý thuyết nghiên cứu (mô phỏng theo mô hình Lalonde) ....... 32
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình tái chế nhôm tại làng Bình Yên .............................. 35
Hình 2. 2. Sơ đồ tóm tắt Quy trình can thiệp cải thiện điều kiện lao động........ 46
Hình 2. 3. Quá trình thay đổi hành vi cải thiện điều kiện lao động theo mô hình
“Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi” ...................................................... 47
Hình 2.4. Sơ đồ quy trình triển khai nghiên cứu ............................................. 58
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tái chế phế liệu nói chung và tái chế kim loại nói riêng đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Tái chế kim loại giúp giảm thiểu sử
dụng tài nguyên, tạo việc làm, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và tạo cơ hội cho
thời nâng cao nhận thức của người lao động về an toàn - vệ sinh lao động qua
đó góp phần đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe người lao động [12], [102].
Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu cải thiện điều kiện lao động
tại các làng nghề có quy mô nhỏ lẻ còn thiếu hụt. Bên cạnh đó hiệu quả của các
giải pháp can thiệp đến sức khỏe người lao động chưa được phân tích rõ ràng.
Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên là một đơn vị hành chính thuộc xã Nam
Thanh tỉnh Nam Định. Cho đến nay Bình Yên là làng nghề tái chế kim loại duy
nhất của tỉnh Nam Định còn sản xuất theo hình thức hộ cá thể. Do công nghệ
sản xuất lạc hậu, nguyên, nhiên liệu sản xuất phức tạp đã tạo ra nhiều yếu tố có
hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động.
Tuy nhiên khoảng trống tri thức về điều kiện lao động và sức khỏe người lao
động tại làng Bình Yên vẫn đang tồn tại. Vậy điều kiện lao động tại đây là như
thế nào? Sức khỏe của người lao động ra sao? Liệu có cải thiện được vấn đề
này không? Đáp án của các câu hỏi trên có thể giúp đánh giá được quy mô và
nguyên nhân của vấn đề để từ đó đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp và khả
thi nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe cho người lao động tại đây.
Với ý nghĩa như trên, nghiên cứu này đã được tiến hành với 03 mục tiêu:
1.
Mô tả thực trạng điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên,
xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
2.
Mô tả tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động làng nghề tái chế
nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
3.
Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động
khí độc hại); vi sinh vật (vi khuẩn, nấm...).
4
1.1.1.3. Một số khái niệm liên quan
An toàn lao động (ATLĐ) là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu
tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người
trong quá trình lao động [39].
Ecgônômi là khoa học nghiên cứu về giải phẫu, tâm sinh lý con người
trong môi trường lao động nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu hóa hiệu quả lao
động, an toàn, sức khỏe và sự tiện lợi, nhẹ nhàng, thoải mái trong công việc và
khi vui chơi. Môn khoa học này đòi hỏi một sự nghiên cứu có hệ thống các tác
động qua lại giữa con người, máy, thiết bị và môi trường nhằm mục đích làm
cho công việc phù hợp với con người [10].
Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử
vong cho con người trong quá trình lao động. Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh
tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động [39].
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng
nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao
động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [39].
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà
người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện
nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại phát
sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an
toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết [39].
Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây
bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [39].
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu
hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc
6
Có nhiều cách khác nhau để phân loại làng nghề, tuy nhiên trên cơ sở tiếp
cận vấn đề về môi trường làng nghề thì cách phân loại làng nghề theo ngành
sản xuất và loại hình sản xuất là phù hợp hơn cả. Theo đó làng nghề được phân
chia thành 6 nhóm ngành chính và mỗi nhóm chính lại có các nhóm nhỏ khác
nhau [4]: (i) Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ;
(ii) Làng nghề nhuộm, ươm tơ, thuộc da; (iii) Làng nghề sản xuất vật liệu xây
dựng và khai thác đá; (iv) Làng nghề tái chế phế liệu (trong đó có nhóm làng
nghề cơ khí); (v) Làng nghề thủ công mỹ nghệ; (vi) Các nhóm ngành khác: chế
tạo công cụ thô sơ, mộc gia dụng, …
1.1.2.3. Vai trò của làng nghề đối với sự phát triể n kinh tế - xã hội
Sự phát triển của làng nghề đã đáp ứng hầu hết nhu cầu cơ bản và thiết
yếu của người dân ở nông thôn, có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiêp,
̣
phu ̣c vu ̣ sản xuất nông nghiêp̣ và phu ̣c vụ đời sống của người dân [56]. Góp
phần giải quyết việc làm tại chỗ, lao động lúc nông nhàn, lao động khuyết tật,
tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. Sự phát triển
các làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kết cấu ha ̣ tầng
kinh tế-xã hô ̣i nông thôn, nâng cao trình đô ̣ văn hóa, dân tri ́, đổ i mới nông thôn,
đồng thời bảo tồn được các giá trị văn hóa dân tộc [13], [33], [56].
1.1.2.4. Các thách thức trong quá trình phát triể n của làng nghề
Phần lớn công nghê ̣ và kỹ thuâ ̣t đươ ̣c áp du ̣ng cho sản xuất ta ̣i làng nghề
còn la ̣c hâ ̣u, năng suất lao đô ̣ng thấp, chất lươ ̣ng sản phẩ m chưa cao, chưa đáp
ứng đươ ̣c nhu cầu của thi ̣ trường, ti nh
́ ca ̣nh tranh rất ha ̣n chế [8]. Bên cạnh đó
do công nghê ̣ sản xuất la ̣c hâ ̣u, hiêụ quả sử du ̣ng nhiên liêụ thấp, mă ̣t bằng sản
xuất chật hẹp, viêc̣ đầu tư cho các hê ̣ thống xử lý nước thải, khi ́ thải, chất thải
trực tiếp bằng tay [78], [94], bên cạnh đó họ cũng không được cung cấp các
thiết bị hỗ trợ nâng nhấc các vật nặng để làm việc [84]. Điều này tạo ra nhiều
yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe NLĐ.
8
Trong khi đó, trình độ học vấn của NLĐ tại các khu vực TCKL hầu hết
đều rất thấp, đặc biệt là ở các quốc gia kém và đang phát triển. Có tới 48,3%
NLĐ ở Kusami-Ghana là không có giáo dục chính thức [76], con số này tại
làng Freetown - Sierra Leone còn lên tới 58% [86]. Tỷ lệ NLĐ thất học tại một
số cơ sở TCKL ở Mumbai - Ấn Độ là 36% [93] và ở Pakistan là 58% [94].
Thời gian lao động trong ngày của NLĐ đều rất dài từ 9-12giờ/ngày. NLĐ
TCKL ở Mumbai-Ấn Độ phải làm việc từ 8h-19h hàng ngày [93]. Tại LagosNigeria NLĐ phải làm việc trung bình từ 255-285 giờ/tháng [71]. Mặc dù thời
gian làm việc rất dài, nhưng thu nhập của NLĐ lại không cao như kỳ vọng. Có
đến 72% NLĐ tại Kusami-Ghana cho rằng thu nhập của họ không đủ để chăm
sóc gia đình [76]. Thu nhập bình quân của NLĐ tại Mumbai - Ấn Độ và
Freetown-Siera Leon chỉ khoảng 0,44-3,68USD/giờ lao động [86], [93].
Sử dụng các PTBVCN khi làm việc là một trong những giải pháp để hạn
chế TNLĐ. Các báo cáo về vấn đề này cho thấy tại các quốc gia phát triển tỷ lệ
NLĐ TCKL có sử dụng các PTBVCN khi làm việc là tương đối tốt [75]. Tuy
nhiên tại các quốc gia kém và đang phát triển tỷ lệ NLĐ có sử dụng PTBVCN
còn rất thấp [76], [86], [94]. Nguyên nhân một phần là do không được chủ sử
dụng lao động cung cấp [93] hoặc do việc sử dụng PTBVCN cản trở việc thực
hiện thao tác khi làm việc [76].
Hợp đồng lao động là một trong những văn bản quan trọng để đảm bảo
quyền lợi cho NLĐ. Tuy nhiên thực tế cho thấy tỷ lệ NLĐ được ký hợp đồng
là không cao [71], thậm chí không có hợp đồng và có thể bị sa thải bất cứ lúc
nào [93]. Chính vì không có hợp đồng lao động nên việc đảm bảo các chế độ
phúc lợi xã hội của NLĐ còn hạn chế đặc biệt là ở các quốc gia kém và đang
TCKL thường phải làm việc trong điều kiện vi khí hậu không đạt tiêu chuẩn vệ
sinh lao động (TCVSLĐ). Tại khu vực tái chế kim loại Agbogbloshie (Ghana)
có tới 45,6% NLĐ cho rằng họ phải làm việc trong điều kiện môi trường vật lý
10
không phù hợp [77]. Quan trắc tại một số cơ sở TCKL ở Latvia cho kết quả có
tới 72% mẫu đo có tốc độ chuyển động của không khí không đạt tiêu chuẩn vệ
sinh lao động [108]. Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy độ ẩm không khí trung
bình trong một số cơ sở tái chế kim loại chỉ là 68% [75].
Không chỉ phải làm việc trong điều kiện vi khí hậu bất lợi, NLĐ TCKL
cũng đang phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ không đảm bảo. Hoặc là
phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao hơn TCVSLĐ [75], [108] hoặc
phải làm việc trong môi trường nhiệt độ thấp hơn TCVSLĐ [78]. Làm việc
trong cả hai môi trường trên đều có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới sức khỏe.
Vấn đề chiếu sáng tại các cơ sở TCKL cũng chưa được thực hiện tốt. Quan
trắc tại một số cơ sở ở Latvia cho kết quả có tới 54% số mẫu đo có cường độ
chiếu sáng thấp hơn TCVSLĐ [108]. Tại Pinche (Hồng Kông) mặc dù tại thời
điểm đo 100% số mẫu đều đạt TCVSLĐ. Tuy nhiên các tác giả cho rằng nếu
được quan trắc vào thời điểm thời tiết xấu (nhiều mây, có mưa) thì cường độ
ánh sáng sẽ giảm đi rất nhiều vì hệ thống chiếu sáng nhân tạo ở đây được lắp
đặt rất đơn giản lại không được bảo trì thường xuyên [78].
Tình trạng ô nhiễm tiếng ồn cũng đang diễn ra khá nghiêm trọng ở các
khu vực TCKL. Cường độ tiếng ồn đo được tại Pin Che - Hồng Kông hầu hết
đều vượt TCVSLĐ [78]. Tại Latvia tỷ lệ số mẫu đo có cường độ vượt TCVSLĐ
tại một cơ sở cơ khí là 34% [108], con số này tại một số cơ sở sản xuất nhôm ở
Bosnia và Herzegovina còn lên tới 78,4% [81].
Với đặc điểm là sử dụng nguồn nguyên liệu là than đá và nhiên liệu là kim
loại phế thải nên hoạt động TCKL thải ra môi trường nhiều bụi và hơi, khí độc
hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, tạo ra nhiều chất thải gây ô nhiễm
môi trường [8]. Lượng phát sinh chất thải rắn tại làng nghề Đa Sỹ - Hà Nội là
0,8 tấn/ngày; làng Bình Yên tỉnh Nam Định là 39,59 tấn/tháng [31].
12
Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề TCKL nói riêng
và làng nghề Việt Nam nói chung đã có nhiều thay đổi. Trước đây hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình.
Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều hình thức mới được hình thành và phát triển
để đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới như: tổ sản xuất, hợp tác xã, doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần [8].
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật của NLĐ tại các
làng nghề TCKL nói chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông. NLĐ hầu
hết không được đào tạo qua trường lớp mà được đào tạo qua hình thức cầm tay
chỉ việc, cha truyền con nối [8], [22], [57], tự học, chủ cơ sở hướng dẫn, tỷ lệ
NLĐ có chứng chỉ đào tạo nghề rất thấp [67]. Người lao động TCKL cũng
thường xuyên phải làm việc với thời gian dài trong ngày đa số từ 8-10h/ngày
(thậm chí 12h/ngày [52]). Ngoài ra do đa số NLĐ không có hợp đồng lao động
nên thời gian làm việc tùy thuộc vào yêu cầu của chủ cơ sở [38], [52].
Việc thực hiện các chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng
nghề nói chung và làng nghề tái chế kim loại còn chậm trễ. Việc quán triệt và
triển khai các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tới
chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã và đặc biệt là các hộ, cơ sở sản xuất
tại làng nghề còn chưa được quan tâm thực hiện đúng mức. Nhiều hộ, cơ sở sản
xuất cũng như chính quyền địa phương không hiểu hoặc hiểu chưa đúng về
quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mình trong công tác bảo vệ
môi trường [9], [31], [36].
1.2.2.2. Các yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
có tới 53,7% số mẫu quan trắc không đạt TCVSLĐ [28]. Tại làng Xuân Tiến
tỉnh Nam Định có tới 15/16 cơ sở sản xuất có 100% mẫu đo độ ẩm không đạt
TCVSLĐ; 13/16 cơ sở sản xuất có từ 7,6-58,4% số mẫu đo tốc độ chuyển động
của không khí không đạt TCVSLĐ [12], con số này tại làng Đại Bái tỉnh Bắc
Ninh còn lên tới 80% [38].
14
Kết quả quan trắc nhiệt độ MTLĐ tại các cơ sở TCKL cho thấy NLĐ đang
phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao. Tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam
Định 10/16 cơ sở có 100% mẫu đo nhiệt độ vượt TCVSLĐ [12]. Tình trạng
tương tự cũng được mô tả tại Văn Môn [50] và Đại Bái [38] tỉnh Bắc Ninh,
Đồng Sâm tỉnh Thái Bình [54]. Nhiệt độ môi trường làm việc vượt TCVSLĐ
cũng là thực trạng chung của nhiều làng nghề khác như chế biến lương thực,
thực phẩm [23] và làng nghề tái chế nhựa [31].
Bên cạnh nhiệt độ thì tiếng ồn cũng được mô tả đã và đang gây ô nhiễm
MTLĐ nghiêm trọng. Quan trắc tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định cho thấy
100% các cơ sở được quan trắc đều có mẫu đo vượt TCVSLĐ [12]. Tại làng
Đại Bái tỉnh Bắc Ninh 90,9% số mẫu đo có cường độ tiếng ồn vượt TCVSLĐ
[38], con số này tại làng Vân Chàng tỉnh Nam Định là 100% [30]. Do đặc thù
của sản xuất nên cường độ tiếng ồn tại các làng nghề TCKL cao hơn hẳn so với
các nhóm làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm [23], nhưng lại tương đồng
với ngành sản xuất may mặc [34], [62], làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ [16].
Với nhiên liệu sản xuất chủ yếu là than do vậy quá trình sản xuất tại các
làng nghề TCKL đã thải ra môi trường nhiều loại bụi và các hơi khí độc hại.
Điều tra tại Văn Môn tỉnh Bắc Ninh cho kết quả nồng độ CO, NO2, SO2 vượt
TCVSLĐ lần lượt là: 23,3%; 50%; 3,3% [50]. Tại làng Tống Xá tỉnh Nam Định
hàm lượng bụi toàn phần và bụi PM10 cao hơn TCVSLĐ lần lượt từ 1,1-4,6 lần;
và 5 lần [14]. Nghiên cứu tại làng Đông Mai và Nghĩa Lộ tỉnh Hưng Yên cho
Tiếp đến là tình trạng đau, mỏi, nhức ở các bộ phận khác của cơ thể như: khuỷu
tay, cổ tay, ngón tay, hông, đầu gối, mắt cá,… [78], [105]. Tình trạng trên không
chỉ phổ biến ở các quốc gia kém và đang phát triển mà cũng là một vấn đề sức
khỏe y tế công cộng ở các quốc gia phát triển.
16
1.3.1.2. Bệnh hệ hô hấp
Bệnh hệ hô hấp là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở NLĐ TCKL đã được
chứng minh trong nhiều nghiên cứu trước đây, tuy nhiên có sự khác biệt giữa
các quốc gia. Cụ thể ở các quốc gia phát triển thì tỷ lệ mắc và mức độ trầm
trọng của bệnh không nghiêm trọng như ở các quốc gia kém và đang phát triển.
Một báo cáo gần đây ở Anh cho thấy tỷ lệ NLĐ TCKL có triệu chứng tức
ngực chiếm 16,1%; tỷ lệ NLĐ có đờm vào buổi sáng là 23,2%; tỷ lệ NLĐ có
triệu chứng thở khò khè là 8,5%; có triệu chứng ho là 15,3%; có triệu chứng
khó thở là 8,3% [91]. Trong khi đó nghiên cứu tại một xưởng đúc ở Ả Rập
Saudi cho thấy NLĐ gặp rất nhiều các triệu chứng bệnh ở đường hô hấp bao
gồm: ho (38,3%); có đờm (30,9%); thở khò khè (11,1%); khó thở (20,9%) [88].
Kết quả nghiên cứu tại Terengganu (Malaysia) [116] và tại một số cơ sở đúc,
rèn kim loại ở Ấn Độ cũng cho những số liệu tương đồng như trên [106].
Thăm dò chức năng thông khí phổi trên NLĐ TCKL cũng được đề cập
đến trong nhiều nghiên cứu trước đây. Điều tra tại làng Wardha (Ấn Độ) cho
thấy chỉ số chức năng thông khí phổi ở NLĐ lần lượt là: FEV1 là 2,82;
FEV1/FVC là 82,32; FEF25-75 là 3,15 và PEF là 7,13 [87]. Thăm dò chức năng
thông khí phổi trên NLĐ tại một xưởng đúc ở Ả Rập Saudi cho kết quả: Dung
tích sống và dung tích sống thở mạnh của NLĐ đều cao hơn so với nhóm chứng.
Ngược lại các chỉ số FEV1, Tiffeneau, Gaensler, FEF 25%-75%, PEF lại thấp hơn
một cách có ý thống kê so với các chỉ số trên ở nhóm đối chứng [88]. Tình trạng
tương tự cũng được mô tả trên NLĐ ở Terengganu (Malaysia) [116].
Nghiên cứu tại Kenya cho thấy hàm lượng chì trung bình trong máu của NLĐ
tại khu vực hàn là 40,9 μg/dl, tại khu vực tái chế chì là 50,1 μg/dl [132]. Xét
nghiệm nồng độ chì trong máu NLĐ TCKL tại Kolhapur (Ấn Độ) cũng cho kết
quả tương tự. Theo đó hàm lượng chì trong máu NLĐ là 53,63 μg/dl cao hơn
nhóm so sánh chỉ có 12,52 ± 4,08μg/dl [127].