1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mất cân bằng giới tính khi sinh đã xuất hiện và là một vấn đề xã hội
được biết đến từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tình hình kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội của nhiều quốc gia ở
Châu Á, khiến các quốc gia này lâm vào tình trạng bất ổn định trên nhiều
lĩnh vực. Ở các nước này, tỷ số giới tính khi sinh tăng cao bất thường, cao
hơn so với giá trị chuẩn 105/100, vượt khỏi mức sinh học tự nhiên 104106/100, lên quá mức 108/100 và thậm chí trên mức 120/100 và chủ yếu ở
dạng thừa nam thiếu nữ [17], [18], [112], [120].
Ở Việt Nam, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh xuất hiện muộn hơn,
từ những năm đầu của thế kỷ XXI, nhưng lại rất nghiêm trọng. Kết quả các cuộc
điều tra dân số cho thấy, hơn 10 năm qua mất cân bằng giới tính khi sinh diễn ra
với tốc độ nhanh, ngày càng lan rộng. Số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở
Việt Nam năm 2009 đã cung cấp một bức tranh chi tiết về quá trình tiến triển
của tỷ số giới tính khi sinh theo thời gian, những khác biệt về mặt địa lý của tỷ
số này theo vùng và theo tỉnh. Khoảng cách quá lớn của chỉ số nhân khẩu học
này, đã phản ánh sự can thiệp có chủ đích làm phá vỡ thế cân bằng ổn định sinh
học giữa số bé trai và bé gái được sinh ra ở Việt Nam và đặc biệt nghiêm trọng ở
một số tỉnh vùng trung du Bắc bộ và đồng bằng sông Hồng. Điều này phản ánh
sự phân biệt đối xử có hệ thống đối với các bé gái ngay từ trước khi được sinh ra
và hậu quả là gây ra tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh [82], [86].
Quan sát hiện tượng này, các nhà nhân khẩu học dự báo, nếu tỷ số giới
tính khi sinh ở Việt Nam tiếp tục tăng sau năm 2010, thì cấu trúc giới tính của
dân số cả nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là với thế hệ các bé trai
được sinh ra sau năm 2005 và bước vào độ tuổi lập gia đình vào năm 2030.
2
2. Đánh giá hiệu quả bước đầu một số biện pháp can thiệp làm giảm
tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh ở tỉnh Bắc Giang (2012 -2013).
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. THỰC TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Tỷ số giới tính
- Giới tính
Giới tính là sự khác nhau giữa nam và nữ về mặt sinh học, là một khái
niệm khoa học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này
chủ yếu liên quan tới quá trình sinh đẻ và di truyền nòi giống.
Đặc điểm: Bẩm sinh, không phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, văn hoá và xã
hội của cá nhân, không thay đổi theo vùng địa lý, điều kiện văn hoá và lịch sử, khó
hoặc không thể thay đổi trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân [71].
- Giới
Là sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới dựa trên những mong đợi, giá
trị và chuẩn mực xã hội.
Sự khác nhau này giữa con trai và con gái không phải xuất phát từ sự
khác biệt trong sinh lý, giải phẫu hay năng lực của con trai và con gái mà hoàn
toàn dựa trên sự mong đợi của xã hội, sự đánh giá của xã hội về năng lực và
giá trị khác nhau. Con trai thường được hưởng nhiều quyền lợi trong gia
đình hơn con gái nên thường được coi trọng hơn. Chính sự mong đợi và
đánh giá khác nhau này là nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong xã hội.
- Các đặc điểm của giới đối lập với đặc điểm của giới tính. Giới của
TSGT của dân số được hiểu là tổng dân số nam trên 100 dân số nữ. Số
liệu được sử dụng để tính toán TSGT thường lấy từ tổng điều tra dân số và
được coi là số liệu đủ tin cậy để tính toán tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS).
TSGT của dân số phụ thuộc vào các yếu tố: TSGTKS, những khác biệt về
mức chết giữa 2 giới ở những nhóm tuổi khác nhau. Mặc dù TSGTKS
nghiêng về phía nam nhưng những khác biệt về mức chết mang màu sắc giới
lại nghiêng về phía nữ. Bằng cách sử dụng bảng tổng hợp của phương Tây,
lấy số liệu từ các quốc gia trung lập về giới, TSGT của dân số thường trong
khoảng 97,9 đến 100,3 [19], [71].
1.1.1.3. Tỷ số giới tính khi sinh
TSGTKS là một chỉ số thống kê, được xác định bằng số trẻ em trai được
sinh ra trong một năm trên 100 trẻ em gái sinh ra sống. Tỷ số này thông
5
thường là 104-106/100 và giá trị của tỷ số này thường rất ổn định . TSGTKS
tăng cao hoặc giảm quá thấp sẽ tác động trực tiếp đến tỷ số giới tính (TSGT) của
các nhóm tuổi và toàn bộ dân số [60], [79], [82], [122].
Cách tính TSGTKS như sau:
Tỷ số giới tính khi sinh
(TSGTKS) =
Số bé trai sinh/1 năm
---------------- x 100
Số bé gái sinh/lnăm
Hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng công thức này để tính
TSGTKS, chỉ riêng ở Ấn Độ TSGT được tính bằng số nữ/1000 nam [3],
[11], [41], [66], [99], [121].
khoảng 104,0-106,0 và không có sự chênh lệch nhiều giữa các châu lục, chỉ
có Châu Á và Châu Âu cao hơn các châu lục khác, nhưng cũng chỉ ở mức
106,0. Quan sát trong nhiều năm, người ta thấy TSGTKS của Châu Phi là
104,0; Châu Mỹ la tinh: 105,0; Châu Âu và Châu Á: 106,0. Tuy nhiên, cho tới
2005, số liệu của CIA - Mỹ cho thấy có 17 nước TSGTKS vượt qua ngưỡng
107,0 và tập trung chủ yếu ở Châu Á (6 nước), tiếp theo là Đông Âu. Việt
Nam là nước có TSGTKS cao hàng thứ 6 trên thế giới [19], [61], [66].
Theo các nhà nghiên cứu, tình trạng MCBGTKS xuất hiện ở Châu Á từ
những năm 80 của thế kỷ 20. TSGTKS của một số nước bắt đầu tăng cao.
Tình trạng này được biết đến thông qua sự gia tăng TSGTTE. Khi xem xét
dân số Châu Á một cách tổng thể, TSGT ở trẻ em tăng lên trong nửa thế kỷ
trở lại đây, từ 105/100 năm 1950 lên đến 108/100 vào năm 2005, cao hơn
mức chuẩn thế giới. Các quốc gia Châu Á này có một điểm chung là đều tiến
hành chính sách giảm sinh ở các mức độ, các thời kỳ khác nhau, xu hướng
MCBGTKS ngày càng lan rộng và kéo dài đến tận ngày nay [17], [61], [66].
Trung Quốc: Là một nước đông dân, quy mô dân số lớn nhất thế giới,
(chiếm 21%), năm 2008 là 1,345 tỷ người. Năm 1982, TSGTKS của Trung
Quốc mới chỉ bắt đầu có dấu hiệu tăng (107,2), sau đó tăng rất nhanh đến
1987 đã là 111,0 và 1990 là 111,3. TSGT nhóm tuổi từ 0 - 4 cũng đồng thời
tăng từ 108,0 (1982) lên 111,0 năm 1987; 111,5 năm 1990. Đến 1995,
TSGTKS của Trung Quốc tiếp tục tăng và ở mức 116,8; năm 2000 là 119,9;
7
năm 2005 là 120,5 và 2008 vẫn ở mức 120,6. Tình trạng tăng TSGTKS ở
Trung Quốc làm cho TSGT chung tăng một cách bất bình thường: 107,9 năm
2010. Dự báo đến 2025, TSGT của dân số có thể xuống mức 103,3 và 2050
còn 100,9. Hiện nay, TSGTKS của Trung Quốc vẫn ở mức cao nhất thế giới
và chưa có điểm dừng [3], [46], [57], [79], [84], [98], [116], [122].
Hàn Quốc: Hàn Quốc không có chính sách KHHGĐ khắc nghiệt như ở
(Georgia: 119,0 năm 1998; 116,0 năm 2005; 113,6 năm 2010; Armenia: từ
114,0 – 118,0 năm 1997 đến 116,0 năm 2001; 117,0 năm 2005 và 114,9 năm
2010). Hiện nay, TSGT đang có xu hướng giảm ở 3 nước Cap-ca-dơ. Sự khác
biệt thể hiện rõ nhất ở khu vực thành thị của Azerbaijan giảm từ 120,0 năm
2003 xuống còn 117,6 năm 2009 và 116,5 năm 2011 [61], [102], [118], [119].
Các nước Nam Á:
Pakistan, LCGTTN xuất hiện do Pakistan là một xã hội gia trưởng, chế
độ tộc hệ, phong kiến, đề cao danh dự gia đình, hôn nhân cùng đẳng cấp và
của hồi môn được coi trọng, sự năng động và khả năng tự quyết định của phụ
nữ thấp, tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm giá trị kinh tế. TSGTKS của Pakistan
tăng cả ở khu vực thành thị và nông thôn, tăng cao hơn ở nhóm phụ nữ giàu,
tăng quanh mức 109,6 – 116,0 đồng thời với việc mức sinh bắt đầu giảm, năm
2007 còn 109,9 [51], [118], [119].
Nepal, con trai được ưa thích do tập quán gia trưởng; 58,0% nam giới
cho là con trai có vai trò duy trì dòng tộc so với chỉ 1,0% thiên về con gái. Ở
Nepal, phụ nữ không sinh được con trai phải chịu nhiều kỳ thị, phải chấp
nhận bạo hành; có tới 42,0% nam giới cho biết đã từng bạo hành đối với
vợ/bạn gái; TSGTKS của Nepal từ 1961-2001 cũng chỉ ở mức 102 đến 104,2;
nhưng với tình trạng bất bình đẳng giới nặng nề như vậy, nước này cũng sẽ
sớm gia nhập vào danh sách những nước có TSGTKS gia tăng [109].
Một số nước ở Đông Á và Đông Nam Á như Nhật Bản, Thái Lan và
Indonesia, mức độ TSGTKS vẫn ổn định ở mức 105,0 – 106,0 [61].
9
Triều Tiên, TSGTKS bắt đầu tăng từ 109,0 (1985) lên 116,9 năm 1990;
đến 1994 giảm xuống còn 115,0; tuy nhiên gần đây đã trở về mức 107,0 [72].
Tây Âu, việc LCGTTN đã bị cấm ở Anh, Canada và một vài quốc gia
khác, mặc dù những thành tựu y học có khả năng giúp con người chọn được
GTTN theo ý muốn, nhưng điều này phản lại sự phát triển tự nhiên nên đã bị
năm 1979; 106,0 năm 1989 lên đến 107,0 vào năm 1999 và khoảng 107,0108,0 trong những năm 2002-2006. Bắt đầu từ 2006, TSGTKS là 109,8. Đặc
biệt, TSGTKS rất cao ở 16 tỉnh thành. Đối với lần sinh đầu tiên, TSGTKS ở
Việt Nam còn cao hơn cả Trung Quốc và Hàn Quốc (112,0 ở Việt Nam; 105,0
ở Trung Quốc; 107,0 ở Hàn Quốc). Từ lần sinh thứ 2, TSGTKS ở Việt Nam
tăng nếu các cặp vợ chồng không có con trai ở lần đầu[35], [77], [86].
TSGTKS của Việt Nam tăng vào thời điểm các dịch vụ siêu âm, hành
nghề y tế tư nhân mở rộng, việc phá thai rất dễ dàng, tốc độ gia tăng hết sức
11
nhanh chóng. Tuy nhiên, MCBGTKS thu hút sự chú ý của dư luận xã hội từ
năm 2006 (năm 2006:109,8; 2007:111,6; 2008:112,1) [33], [69], [78], [86].
Biểu đồ 1.2. Tỷ số giới tính của Việt Nam từ 2004 đến 2013
*Nguồn: theo Trần Doãn Thắng (2008)[61]
Dựa trên phân tích các số liệu từ Tổng điều tra dân số 2009, các nhà
khoa học Việt Nam và các chuyên gia quốc tế đã phác thảo ba phương án
(kịch bản) về TSGTKS ở Việt Nam:
Với phương án tích cực, việc kiểm soát tăng TSGTKS được đẩy mạnh,
TSGTKS sẽ tăng chậm và ở mức 115,0 vào năm 2020 và đến năm 2025 sẽ
dần trở về mức sinh học chuẩn; TSGT của nhóm dân số 15-49 sẽ tăng lên
mức 110,0 vào năm 2044 và sau đó giảm chậm về mức bình thường.
Với phương án quá độ, TSGTKS sẽ tăng lên khoảng 120,0 vào 2020 và
sau đó giảm dần về mức 105,0 vào năm 2030.
Với phương án không can thiệp, dự kiến đến năm 2015, TSGTKS trên
toàn quốc sẽ tăng đến 115,0 và không dừng lại; TSGT của nhóm dân số 15-49
sẽ tăng lên đến 113,0 vào năm 2049 và làm thừa ra 12% nam giới.
Các chuyên gia cho rằng, đến năm 2020, nhóm dân số trẻ sẽ phải chịu
ảnh hưởng rất nhiều về cấu trúc và sự thay đổi các chuẩn mực văn hóa. Trước
- TSGTKS cao từ lần sinh thứ nhất 109,7; thứ hai 111,9; lần 3 + là 119,7; cao
13
hơn so với Trung Quốc, Hàn Quốc (105-107).
Biểu đồ 1.4 . Tỷ số giới tính theo lần sinh của Việt Nam, 2011
*Nguồn: theo Dương Quốc Trọng (2011) [86]
- TSGTKS cao ở lần sinh cuối cùng: các cặp vợ chồng chủ động tìm
kiếm các kỹ thuật LCGTTN ngay từ lần sinh thứ nhất; nếu chưa được, họ
tìm kiếm trong những lần có thai sau, vì vậy TSGTKS trong lần sinh thứ 3
trở lên đã lên tới 130,0.
- TSGTKS cao ở những gia đình có kinh tế khá giả, những phụ nữ có
trình độ học vấn cao: Những gia đình kinh tế khá, phụ nữ trình độ học vấn
cao, có mức sinh thấp hơn do họ biết sử dụng các BPTT và có điều kiện chi trả
dịch vụ LCGT để đạt cả 2 mục tiêu: ít con và có con trai [8], [60], [72], [73], [83].
1.1.2.3. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi nghèo, diện tích tự nhiên 3.827 km 2, có
09 huyện (6 huyện miền núi, 01 huyện vùng cao), 01 thành phố (đô thị loại II)
và 230 xã, phường, thị trấn.
Về Quy mô dân số, Bắc Giang đạt mức sinh thay thế (TFR 2,1 con) từ
năm 2006, đến 2011 duy trì ở mức 1,94 con. Tỷ lệ sinh con lần 3 + giảm từ
9,83% năm 2003 xuống còn 8,2% năm 2011; Năm 2011, dân số trung bình của
tỉnh là 1.576.962 người; tỷ lệ dân số làm nông nghiệp chiếm 90%; tỷ lệ hộ
nghèo 14,5%; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,12%; mật độ dân số hơn 412
15
Trước tình trạng gia tăng TSGTKS xuất hiện ở nhiều địa phương trong
cả nước, cho thấy đây là một vấn đề xã hội phức tạp và hết sức cấp bách, cần
có sự can thiệp kịp thời; năm 2009, Tổng cục Dân số/KHHGĐ - Bộ Y tế đã
khẩn trương xây dựng và triển khai Đề án “Can thiệp giảm thiểu MCBGTKS”
với mục tiêu “Từng bước khống chế tốc độ gia tăng mất cân bằng, tiến tới ổn định,
cân bằng GTKS”, ngay trong năm 2009 đã triển khai đến 11 tỉnh, thành phố có
TSGTKS cao nhất, trong đó có Bắc Giang; năm 2010, Đề án được mở rộng ra 43
tỉnh, thành phố có tình trạng tăng TSGTKS. Đề án bước đầu đã thu được kết quả, thu
hút được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các địa phương đến vấn đề
MCBGTKS đang diễn ra trong cả nước; Kết quả bước đầu của Đề án cũng góp phần
làm giảm tốc độ gia tăng TSGTKS của Việt Nam từ 1,15 điểm phần trăm/năm, giai
đoạn từ 2006-2008 xuống còn 0,7 điểm phần trăm/năm, giai đoạn 2009-2011.
Năm 2001, để ứng phó với tình trạng MCBGTKS, Thủ tướng Chính phủ đã
chỉ đạo xây dựng và triển khai Đề án “Can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính
khi sinh giai đoạn 2011-2020” tại các tỉnh, thành phố có tình trạng MCBGTKS trầm
trọng nhất với mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện mô hình can thiệp tổng hợp, đồng
bộ cả về lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông vận động thay đổi hành vi, thanh tra xử lý vi
phạm...”. Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện lồng ghép trong
Chương trình Mục tiêu quốc gia về Dân số/KHHGĐ, nhưng dự toán hàng năm giao
muộn, thường là phải đến giữa năm, các hoạt động can thiệp gần như chỉ được triển
khai trong vài tháng cuối năm, nên hiệu quả bị hạn chế, chỉ một vài tỉnh TSGTKS
dấu hiệu giảm, còn hầu hết vẫn tăng, xuất hiện thêm địa phương có TSGTKS cao.
Ở Bắc Giang, năm 2009, Đề án được triển khai ban đầu ở 80/230 xã,
thị trấn; năm 2011, mở rộng thêm 14 xã ở 5 huyện trên địa bàn tỉnh; sau thời
gian 3 năm thực hiện, tốc độ tăng TSGTKS từ 2009 - 2011 là 1,45 điểm phần
trăm/năm, giảm hơn so với giai đoạn 2006-2008 là 1,55 điểm phần trăm/năm.
Nhìn chung, kết quả bước đầu của Đề án là nhận được sự quan tâm của cấp
ủy, chính quyền các địa phương; tuy nhiên, mặc dù đã cố gắng khống chế tốc độ gia
phá thai LCGT. Tuy nhiên, các nhà khoa học đều thống nhất rằng yếu tố tác
động mạnh và ảnh hưởng lâu dài nhất chính là phong tục ưa thích con trai.
17
Với tâm lý đó, sự bất bình đẳng giới xảy ra ngay ở giai đoạn trước sinh hoặc
sau sinh với biểu hiện tăng tỷ suất chết ở nhóm trẻ em gái do sự phân biệt đối
xử trong chăm sóc y tế [18], [89], [99], [115].
Theo các tác giả một số nghiên cứu, phá thai LCGT nhằm loại bỏ các
bào thai gái đã được xác định là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất, đặc
biệt là đối với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc [38]. Tổng
giám đốc Trung tâm nghiên cứu Dân số và Phát triển Trung Quốc - đại biểu
Quốc hội trong báo cáo tại kỳ họp lần thứ 11 đã phân tích ba nguyên nhân
quan trọng gây MCBGTKS ở Trung quốc là: (1) Chế độ ASXH không hoàn
thiện là nguyên nhân cơ bản; (2) Chế độ gia trưởng truyền thống là nguyên
nhân sâu xa; (3) Kỹ thuật xác định giới tính hiện đại là nguyên nhân trực tiếp
[4], [38].
Xu hướng gia tăng TSGTKS được một số nhà khoa học cho là bắt
nguồn từ nhiều nguyên nhân: yếu tố tự nhiên (sinh nhiều trẻ trai hơn trẻ gái);
môi trường (biến đổi khí hậu và sự nóng lên của toàn cầu), xã hội. Tuy nhiên,
các nhà khoa học có nhận định khá thống nhất về “nguyên nhân trực tiếp”
của MCBGTKS là sự tiếp cận ngày càng dễ dàng hơn với công nghệ LCGT;
“nguyên nhân cơ bản” là do mức sinh thấp; “nguyên nhân sâu xa” là do
những chuẩn mực và quan niệm truyền thống về sự ưa thích con trai, trình độ
học vấn thấp, thiếu hệ thống ASXH cho NCT, bất bình đẳng giới [18], [84].
Christophe Z.G xác định được 3 lý do LCGT trước sinh tại Châu Á: (1)
tâm lý ưa thích con trai; (2) sự sẵn có của các dịch vụ y tế hiện đại, cần thiết
cho LCGTTN; (3) mức sinh thấp, khả năng không có con trai sẽ tăng lên [17].
Các nhóm yếu tố cơ bản làm tăng TSGTKS:
* Quan niệm và chuẩn mực truyền thống
của việc áp dụng các chính sách về dân số và KHHGĐ của Chính phủ nhằm
mục đích giảm sinh, các cặp vợ chồng đang phải đối mặt với khao khát có con
trai với qui mô gia đình ít con, vì vậy loại bỏ thai nhi nữ sẽ thoả mãn mục
đích vừa sinh được con trai và đảm bảo qui mô gia đình nhỏ [38], [81], [123].
19
Các nghiên cứu cho thấy, việc LCGTTN ở Châu Á phần lớn để đáp
ứng nhu cầu có con trai. Những gia đình đã có từ một con trai trở lên ít quan
tâm tới vấn đề này hơn. Kết quả là TSGTKS ở Châu Á có xu hướng thay đổi
theo thứ tự sinh, tỷ trọng trẻ em ở lần sinh thứ nhất bình thường và tăng lên ở
những lần sinh sau do các cặp vợ chồng có con gái muốn sinh thêm con để có
bằng được con trai [17].
Theo quy định của Trung Quốc, phụ nữ ở thành thị chỉ được sinh một
con, nên việc phá thai để LCGT xảy ra ở ngay lần mang thai đầu; còn ở nông
thôn, nếu con đầu là gái thì các cặp vợ chồng được phép sinh thêm con thứ
hai, do đó hiện tượng LCGTTN thường xảy ra ở lần mang thai thứ hai trở đi.
Trung Quốc quy định phá thai LCGTTN là một tội hình sự, nhưng các bác sĩ
vẫn nhận tiền đút lót của các bậc cha mẹ để thực hiện việc này [17], [99].
* Kinh tế, xã hội
Những thay đổi về kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia có sự tác động đến
việc tăng hay giảm TSGTKS. Ấn Độ chịu hậu quả từ quá trình thương mại
hóa và đô thị hóa nhanh chóng, xã hội chuyển mình theo định hướng thị
trường và tư nhân hóa thiếu sự kiểm soát của chính phủ, tạo nên “kẽ hở” trong
hệ thống, cho mục đích có lợi của dịch vụ y tế, thuận lợi cho việc tiếp cận với
công nghệ LCGT. Ngược lại, ở Hàn Quốc, việc chuyển đổi nhanh chóng từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, thay đổi mô
hình kinh tế từ việc xóa bỏ mô hình kinh tế trang trại, sang các mô hình kinh
tế phù hợp với quy mô gia đình ít con, sự thay đổi mô hình kinh tế của Hàn
Quốc lại có lợi cho việc giảm TSGTKS [17], [99], [123].
Từ 1990, một số chuyên gia dân số đã chỉ ra: (1) Nhiều trẻ em gái sinh ra
không được đăng ký; (2) Tỷ lệ tử vong của trẻ em gái tăng; (3) Xác định giới
tính trước sinh dẫn đến phá thai LCGT; việc phá thai ảnh hưởng không tốt
đến sức khỏe người mẹ, nhưng họ thường xuyên bị sức ép từ gia đình, dòng
họ. Phá thai LCGT là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự mất cân đối nghiêm
trọng TSGTKS ở các nhóm thứ tự con sinh ra. Tại Hàn Quốc và Trung Quốc,
21
TSGTKS con thứ 3 trở lên tăng từ đầu năm 1980. Năm 1989, tỷ số này ở Đài
Loan là 134,0 đối với lần sinh con thứ 3 và 159,0 đối với lần sinh con thứ 4,
trong khi đó TSGT ở lần sinh con thứ 2 ở Trung Quốc đã là 120,9 và TSGT ở
lần sinh con thứ 3 ở Hàn Quốc là 185,0 [4], [115].
1.2.2. Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến mất cân bằng giới tính khi sinh
ở Việt Nam
1.2.2.1. Nghiên cứu chung ở Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có nhiều yếu tố
ảnh hưởng đến tình trạng MCBGTKS: Bất bình đẳng giới với nguồn gốc sâu xa của
tư tưởng trọng nam khinh nữ, tâm lý nặng nề phải có con trai; chế độ ASXH bất
cập; áp dụng chính sách dân số, mức sinh giảm; dịch vụ hỗ trợ LCGTTN sẵn có và
dễ tiếp cận, nhận thức của người dân hạn chế, thực thi pháp luật liên quan đến
LCGTTN chưa nghiêm, thiếu giải pháp can thiệp hiệu quả...và cả việc thực hiện
không bình đẳng chính sách “mỗi gia đình chỉ có 2 con” dành cho tất cả mọi người
[8], [33], [99].
* Sự ưa thích cố hữu đối với con trai
Tư tưởng trọng nam, khinh nữ, tâm lý ưa thích con trai đã được chỉ ra
qua nhiều nghiên cứu xã hội và nhân học qua các thời kỳ; về khía cạnh văn
hóa, con trai có giá trị trong việc duy trì nòi giống, thờ cúng tổ tiên; về kinh tế xã hội, con trai được coi là nguồn bảo trợ khi về già, là người thừa kế tài sản;
tại đến tuổi trưởng thành, để phòng rủi ro [38], [74], [87].
Phong tục, tập quán lạc hậu ở nước ta còn tồn tại: Chỉ con trai mới
được đại diện gia đình khi lo ma cho bố mẹ, khi ăn hỏi, đón dâu; con trai mới
được làm con trưởng, thừa kế tài sản, nghề gia truyền, cúng giỗ ông bà, tổ
tiên. Trình độ phát triển kinh tế xã hội nước ta còn thấp, nền sản xuất chủ yếu
là nông, lâm, ngư nghiệp đòi hỏi sức khỏe cơ bắp của con trai; c on trai là trụ
cột về tinh thần, về kinh tế cho cả gia đình. Chính vì thế mà tâm lý ưa thích
con trai vẫn mạnh mẽ, dù các quan niệm về giới trong xã hội đã và đang có
sự thay đổi. Kết quả điều tra biến động dân số và KHHGĐ năm 2006 cho thấy:
23
có tới 39% số bà mẹ sinh con thứ 3 là do chưa có con trai [19], [64], [66], [67],
[83].
Vấn đề ASXH chưa đảm bảo: Theo số liệu của Điều tra NCT Việt Nam,
năm 2008 còn 62,6% NCT sống với con cái; mức lương hưu trung bình
4.975.200 đ/năm; mức trợ cấp trung bình 954.500 đ/năm bằng 5,47% tổng chi
tiêu hộ gia đình. Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 của Bộ Văn hóa – Thể
thao và Du lịch, có 39,3% NCT được hỏi cho biết nguồn sống chính là do con
cháu chu cấp; 30% từ lao động bản thân; 25,9% từ lương hưu hoặc trợ cấp
của xã hội; 1,6% từ tích lũy; 3,2% từ các nguồn khác. Hiện nay, mới có
khoảng 2,97 triệu người NCT (39,0%) được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã
hội, chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội (1,4 triệu người hưởng
lương hưu, bảo hiểm xã hội; 680 nghìn người hưởng chính sách đối với người
có công; gần 890 nghìn người trợ cấp xã hội). Như vậy, còn tới 61% dân số
cao tuổi sống dựa hoàn toàn vào kinh tế gia đình và bản thân [74], [100].
Bất bình đẳng giới, MCBGTKS một phần là do việc giải quyết những
chính sách liên quan đến bất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng, quyền của phụ
nữ không được đảm bảo trên nhiều phương diện: chính trị, kinh tế, xã hội, đời
sống...Theo Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, số phụ nữ tham
lực lớn đối với các cặp vợ chồng là bằng mọi cách phải có được con trai. Một
số nghiên cứu khác cho thấy, quy định mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1- 2 con được
thực hiện trên phạm vi cả nước, nhưng chế tài thực hiện lại nghiêm ngặt hơn
với bộ phận đảng viên và cán bộ nhà nước; vì có trình độ và điều kiện kinh tế
tốt hơn, những người trong nhóm này rơi vào tình huống phải thực hành để
LCGTTN [39].
Những chuẩn mực xã hội mới và gia đình qui mô nhỏ tạo áp lực giảm
sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh 1-2 con, họ sẽ tìm kiếm và sử dụng
các dịch vụ LCGTTN. Những tiến bộ trong y học đã trở thành cứu cánh giúp
họ thỏa mãn được cả 2 mục tiêu. Khi Việt Nam triển khai chương trình
KHHGĐ, TSGTKS ở thời kỳ đó không hề tăng. TSGTKS của Việt Nam chỉ
25
mới tăng từ sau năm 2000, trùng hợp với việc nở rộ các dịch vụ LCGTTN. Nên
cho dù tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam có ăn sâu vào tiềm thức, số con bị
khống chế bởi chính sách dân số, nhưng nếu không có sự tiếp cận dễ dàng với
công nghệ LCGTTN thì TSGTKS chưa chắc đã tăng và nếu có tăng cũng chỉ ở
một chừng mực nhất định. Những phân tích trên cho thấy áp lực từ mức sinh
thấp tác động mạnh đến việc LCGTTN, nhất là khi điều kiện tiếp cận với các
dịch vụ hỗ trợ thuận lợi và dễ dàng [19], [30], [56], [66].
* Tiếp cận dễ dàng với công nghệ lựa chọn giới tính
Sự tiếp cận dễ dàng với công nghệ LCGTTN đang cho phép nhiều cặp
vợ chồng điều chỉnh hành vi sinh sản để sinh con trai. LCGTTN ở Việt Nam
được thực hiện cả ở giai đoạn trước, trong và sau khi mang thai: Áp dụng kỹ
thuật trước lúc có thai (thực hiện chế độ ăn uống, cắt thuốc đông y để đẻ con
trai...); trong lúc thụ thai (soi trứng, chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương
pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể