Điều kiện lao động, đặc điểm bệnh tật, chăm sóc sức khỏe của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và hiệu quả một số giải pháp can thiệp - Pdf 39

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

TĂNG XUÂN CHÂU

ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, ĐẶC ĐIỂM BỆNH TẬT, CHĂM
SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA
BỜ TẠI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH VÀ
HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Chuyên ngành: Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế
Mã số: 62 72 01 64

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2016


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng
khoảng 1 triệu km2 và trên 3.000 đảo lớn nhỏ, là điều kiện tự nhiên thuận lợi,
là ngư trường lớn của ngư dân trong hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản,
là tiềm năng lớn trong phát triển thủy sản, phát triển kinh tế biển. Đánh bắt
hải sản xa bờ là ngành nghề truyền thống gắn bó với cộng đồng dân cư vùng
ven biển, hải đảo. Quan điểm của Đảng, Nhà nước phát triển nước ta mạnh,

Quảng Ninh là tỉnh trọng điểm biển đảo, với bờ biển dài và nhiều hòn
đảo, trong đó Huyện đảo Vân Đồn là nơi có cảng biển và tập trung chủ yếu
ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ của tỉnh, tuy nhiên đến nay chưa có nghiên
cứu cụ thể chi tiết nào về điều kiện lao động, đặc điểm bệnh tật, cũng như giải
pháp can thiệp đảm bảo sức khỏe cho ngư dân trong quá trình khai thác hải
sản xa bờ.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Điều kiện
lao động, đặc điểm bệnh tật, chăm sóc sức khỏe của ngư dân đánh bắt hải
sản xa bờ tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh và hiệu quả một số
giải pháp can thiệp” với các mục tiêu nghiên cứu sau:
1. Mô tả thực trạng điều kiện lao động, đặc điểm sức khỏe, bệnh tật,
chăm sóc sức khỏe của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ huyện đảo Vân Đồn,
tỉnh Quảng Ninh năm 2013.
2. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp nhằm cải thiện điều
kiện chăm sóc bảo vệ sức khỏe của ngư dân đánh bắt xa bờ thuộc nghiệp
đoàn nghề cá Cái Rồng, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh năm 2014.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN, HẢI ĐẢO

1.1.1. Hiện trạng nghề đánh bắt hải sản ở nước ta
Các lĩnh vực hoạt động của ngành thủy sản bao gồm đánh bắt (khai
thác), nuôi trồng, chế biến và nhiều ngành nghề dịch vụ hầu cần đi kèm khác.
Đánh bắt hải sản được định nghĩa “Hoạt động đánh bắt thủy sản liên
quan đến nguồn lợi tự nhiên trên các vùng nước nói chung, trong đó đánh bắt

động
trên
lao động trênbờbờ
bờbờ

Sơ đồ 1.1. Chu trình lao động của ngư dân đánh bắt xa bờ
* Nguồn: theo Nguyễn Thế Tràm (2010) [60].

Dựa vào khu vực đánh cá, đánh bắt hải sản được chia thành đánh bắt hải
sản gần bờ (tuyến bờ và tuyến lộng vùng này chỉ chiếm dưới 10% diện tích
vùng đặc quyền kinh tế) và đánh bắt hải sản xa bờ (tuyến khơi). Vùng đánh bắt
hải sản xa bờ được quy định trong Nghị định số 123/2006/NĐ-CP trong đó
quy định vùng đánh bắt xa bờ nằm ngoài đường nối các điểm cách bờ biển 24
hải lý và quy định đăng ký tàu đánh bắt hải sản xa bờ phải có công suất từ


5

90CV trở lên và tàu cá lắp máy có tổng công suất từ 50 sức ngựa trở lên làm
các nghề câu, rê, vây, chụp mực được hoạt động ở tuyến khơi [15].
Đánh bắt hải sản xa bờ là ngành nghề truyền thống của cư dân ven biển,
hải đảo. Trong những năm gần đây hoạt động đánh bắt xa bờ phát triển mạnh
mẽ, chuyển từ tăng trưởng nhỏ lẻ thành “phát triển”. Trong vòng 17 năm
(1990-2007) qua số lượng tàu thuyển tăng gấp 1,3 lần, tốc độ tăng bình quân
1,53%, tổng công suất tàu tăng 6,4 lần, tốc độ tăng 10,87%. Số người tham gia
đánh bắt thủy sản ngày càng tăng từ 1,64 triệu người năm 2000 lên 1,96 triệu
người năm 2007, tốc độ tăng trung bình 2,29%/năm [14]. Phát triển đánh bắt hải
sản xa bờ là xu hướng tất yếu, là yêu cầu bắt buộc để khai thác hải sản bền
vững. Đánh bắt hải sản xa bờ yêu cầu sự đầu tư lớn hơn, tàu lớn hơn, công suất
lớn, thời gian đi biển lâu hơn, rủi ro trong công việc, sự chăm sóc y tế, ứng cứu


1999

1998

1997

1996

1995

1994

1993

1992

1991

1990

20.0

Biểu đồ 1.1.Số lượng, công suất tàu khai thác thủy sản của Việt Nam
* Nguồn: theo Trung tâm tin học thủy sản (2008) [14].


6

Bảng 1.1. Cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản theo vùng biển năm 2010

28.493

44,0

8.954

19,6

2.892

16,0

2

Trung Bộ

54.111

31.379

48,4

17.489

38,4

5.243

29,0


24,3

4.493

24,9

Cả nước

128.449 64.802

100

45.584

100

18.063

100

* Nguồn: theo Cục KT&BVNLTS- Tổng cục Thủy sản [69].

Đến năm 2011, số tàu thuyền tăng 70%, công suất tàu tăng 175% so với
năm 2001. Trong đó nhóm tàu có công suất < 20CV tăng bình quân 9,1%/năm
(gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi ven biển vốn đang suy giảm);
nhóm tàu công suất từ 20- 90CV tăng bình quân 1,8%/năm; nhóm tàu có công
suất > 90 CV tăng bình quân 13%/năm, đây là nhóm có mức tăng trưởng cao
nhất thể hiện xu hướng phát triển khai thác hướng ra khơi xa, phù hợp với chủ
trương phát triển khai thác hải sản xa bờ của Đảng và Nhà nước [69].
Cơ cấu tàu thuyền phân bố tương đối đồng đều, trong đó vùng biển


Năm 2010

chiếc

%

chiếc

%

Tốc độ tăng
trung bình

1

Họ lưới kéo

6761

22,5

22554

17,6

3,4

2


14676

19,7

21896

17,0

4,5

5

Họ lưới vó mành

5811

7,8

9872

7,7

6,1

6

Họ nghề cố định

5587


6,2

Tổng

* Nguồn: theo Cục KT&BVNLTS- Tổng cục Thủy sản [69].

Các loại nghề khai thác cá biển ở nước ta rất đa dạng, theo thống kê
hiện nay, có trên 20 loại nghề khác nhau, nhưng đối với nghề đánh bắt cá xa
bờ, thì bao gồm lưới kéo: 30,6%; lưới cản (lưới rê): 21,3%, nghề câu: 18,6%,
nghề vây: 7,5% và các nghề khác là 22,0% số lượng tàu thuyền [69].
Đặc điểm các họ nghề đánh bắt hải sản xa bờ khác nhau và phân bố
khác nhau tùy theo vùng, miền ngư trường đánh bắt, cơ bản như sau [24]:
* Nghề lưới kéo


8

Nghề lưới kéo là một phương thức đánh bắt chủ lực, chiếm khoảng 1/3
tổng số tàu thuyền đánh bắt. Đánh bắt thủy sản sinh sống ở tầng đáy, nền đáy
biển tương đối bằng phẳng, độ sâu thường từ 20 - 100m. Thường phải sử dụng
tàu thuyền có công suất lớn, kéo chiếc lưới hình dạng túi, miệng túi được mở
lớn bằng giềng phao ở trên, giềng chì ở dưới và hai cánh lưới ở hai bên cào sát
đáy biển để bắt cá [24].
* Nghề lưới vây
Nghề lưới vây (còn gọi là nghề vây rút chì) chiếm khoảng 17% tổng số
tàu thuyền, chuyên đánh bắt các loài cá tầng nổi hoặc tầng giữa như các loài
cá nục, cá ngừ, cá cơm… khi phát hiện đàn cá, dùng tàu thả lưới vây thành
vòng tròn xung quanh đàn cá rồi kéo dây rút gọn giềng chì để thắt kín đáy
không cho đàn cá thoát xuống dưới, sau đó thu dần vào lưới, dồn cá vào từng
lưới rồi dùng vợt xúc cá lên tàu. Nghề lưới vây dùng ánh sáng đánh bắt cá ban

tới 155CV, có kết cấu vững chãi đủ sức chịu đựng sóng gió biển khơi dài
ngày, mỗi chuyến biển có khi kéo dài tới 2 - 3 tuần. Cấu tạo vàng câu gồm có
dây câu chính, chiều dài có khi hàng chục cây số, dọc trên chiều dài là các
thẻo câu có gắn lưỡi câu, chiều dài thẻo câu có thể thay đổi tùy theo độ sâu
tầng nước cá di chuyển. Mồi câu là các loại cá nhỏ như cá chuồn, cá nục được
móc vào lưỡi câu. Khi trời bắt đầu tối người ta tiến hành móc mồi thả câu,
quá nửa đêm về sáng người ta bắt đầu thu câu, gỡ cá [24].
* Nghề pha xúc
Nghề pha xúc du nhập vào từ những năm cuối thập kỷ 90 (thế kỷ XX)
trở lại đây, chủ yếu đánh bắt những đàn cá cơm xuất hiện di chuyển theo dòng
hải lưu vào sát ven bờ. Nguyên lý đánh bắt của nghề pha xúc là sử dụng ánh
sáng cực mạnh của chùm đèn pha có công suất từ 5.000W - 10.000W để thu
hút đàn cá nổi lên gần mặt nước, rồi ngay lập tức dùng lưới để xúc cá lên
thuyền. Mùa vụ khai thác chính là từ tháng 2 đến tháng 4 [24].
* Nghề lặn biển
Dụng cụ lặn đơn giản chỉ gồm máy nén khí và đường ống dẫn khí. Thợ


10

lặn ngậm ống cao su được cung cấp khí liên tục bằng máy nén khí, nhờ đó thợ
lặn có thể lặn dưới nước hàng giờ để bắt các loài cá, tôm hùm, ốc biển, hải
sâm. Ngư trường của nghề lặn bắt hải sản là các gò rạn từ vùng ven bờ cho tới
các quần đảo ngoài khơi xa như Trường Sa, Hoàng Sa [24].
1.1.3. Đặc điểm cấu tạo tàu đánh bắt hải sản xa bờ
Đặc điểm cấu tạo tàu ảnh hưởng không nhỏ đến tính chất môi trường
lao động của ngư dân. Do đặc điểm ngư dân ngoài việc thực hiện quá trình
lao động khai thác thì mọi hoạt động khác như sinh hoạt, ăn ngủ đều diễn ra
trên tàu. Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm chất liệu ảnh hưởng nhiều đến điều kiện
môi trường trên tàu, nhất là các chỉ số vi khí hậu như nhiệt độ, bức xạ nhiệt,

mang tính chất nhỏ lẻ và theo kinh nghiệm. Trong suốt hành trình đi biển
đánh bắt cá ngoài thời gian di chuyển tới ngư trường là thời gian lao động,
ngư dân rất ít thời gian được nghỉ ngơi hoàn toàn. Thời gian đánh bắt hải sản
lại thường về đêm và có thể kéo dài phụ thuộc vào luồng cá, và công việc
đánh bắt. Lao động dài ngày, thời gian làm việc kéo dài và thường làm việc
về đêm có thể gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người lao động. Kết quả
nghiên cứu của Lê Hồng Minh (2012) cho thấy thời gian lao động trung bình
trong ngày của ngư dân là 12,3 ± 1,9 giờ, không có nghỉ giữa ca. Mỗi chuyến
đi biển đánh bắt xa bờ trung bình là 19,5 ± 6,2 ngày. Hầu hết ngư dân khi
đánh bắt hải sản xa bờ đều lao động vào ban đêm (86,1%) [37] .
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2007) trên ngư dân đánh bắt hải sản
xa bờ thuộc xã Lập Lễ, Hải Phòng thấy thời gian lao động trung bình một ngày
của ngư dân dài (11,17 giờ), không có thời gian nghỉ giữa ca và chủ yếu là lao
động về đêm (87,8%) [71] .
Lao động nặng nhọc trong môi trường khắc nghiệt, thời gian lao động
kéo dài kết hợp với sự đảo lộn nhịp sinh học là những yếu tố bất lợi ảnh
hưởng đến sức khỏe của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ. Mặt khác, tổ chức
lao động khi tàu hành trình trên biển thường theo quy trình đơn điệu và buồn
tẻ, lặp đi lặp lại, gây buồn chán dẫn tới tình trạng căng thẳng về tâm sinh lý,
gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thuyền viên.
Như vậy, đánh bắt hải sản xa bờ là một ngành nghề truyền thống, lâu
đời. Trong giai đoạn tiếp theo sẽ có nhiều hứa hẹn thay đổi, và trở thành một
ngành nghề khai thác đại dương quan trọng của mỗi quốc gia có biển, trong
đó có nước ta. Nhiều vấn đề cần nghiên cứu như sự thay đổi trong cơ cấu lao
động (sẽ không chỉ là ngành nghề truyền thống đơn thuần như trước đây), yếu
tố khoa học công nghệ trong chế tạo tàu, đánh bắt hải sản, công nghệ khai


12




13

giông bão gió có thể giật cấp 8, 9 thậm chí cấp 12 là loại hình thời tiết đặc
biệt nguy hiểm.
- Hệ thống thời tiết phía Đông chịu tác động mạnh mẽ của hai hệ thống
là lưới cao áp cận nhiệt đới và nhiều giông bão nhiệt đới như bão, áp thấp,
giông … Hệ thống này chịu tác động đến vùng biển nước ta từ tháng 5 đến
tháng 11, nhưng mạnh nhất vào tháng 8 đến tháng 9. Đây là loại hình thời tiết
nguy hiểm rất lớn đến tính mạng, sức khỏe của ngư dân.


14

Hình 1.1. Bản đồ vùng biển, thềm lục địa Việt Nam
* Nguồn: theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương (2015) [67].

Biển là nơi hình thành các cơn áp thấp, giông, bão và các trận cuồng
phong, hậu quả gây nên những trận biển động với độ cao của sóng rất lớn và
ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động sản xuất cũng như an toàn sinh
mạng của ngư dân.
1.2.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện thủy văn
Đặc điểm thủy văn gồm các yếu tố như thủy triều, dòng chảy, nhiệt độ,
độ mặn nước biển, sóng biển. Trong các yếu tố này thì tính chất và mức độ
sóng biển ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động nghề nghiệp cũng như sức
khỏe của ngư dân. Độ cao sóng biển trung bình ở nước ta 1m, khi biển động
sóng có thể cao 3- 4 m, và trong giông bão có thể cao 5- 6m và cao hơn.
Khi lao động trên biển, sóng biển gây rung, lắc tàu và dẫn đến say
sóng. Tình trạng rung lắc của tàu phụ thuộc vào trạng thái sóng, gió, kỹ thuật

thời gian của một chu kỳ sóng càng nhiều. Nếu bước sóng dài tới 60 - 70m thì
chòng chành lên xuống càng cao và càng dễ gây say sóng [27].
Các nghiên cứu đều cho rằng đáp ứng của cơ thể với tác động của sóng
gió có nhiều biểu hiện khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại tàu,
cấp sóng biển, số lần đi biển, vị trí công tác trên tàu, tình trạng sức khoẻ.
1.2.2. Ảnh hưởng môi trường lao động trên tàu biển
Trong suốt thời gian hoạt động trên biển, con tàu vừa là nơi lao động,
phương tiện lao động, đồng thời vừa là nơi ở, sinh hoạt, vui chơi giải trí 24/24
giờ trong ngày của ngư dân và thuyền viên. Vì vậy, người lao động phải chịu
đồng thời nhiều tác động của môi trường trên tàu đến sức khoẻ không những
trong lúc lao động mà ngay cả lúc nghỉ ngơi, cả trong ngủ, nghỉ.
1.2.2.1. Đặc điểm vi khí hậu trên tàu biển
Môi trường vi khí hậu gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và
bức xạ nhiệt. Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn và thường xuyên đến sức
khoẻ ngư dân.


16

Lao động trên biển, con người chịu tác động trực tiếp của nhiệt độ
không khí nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông. Về mùa hè, ngoài các bức
xạ trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống, người lao động còn phải chịu sức nóng
gián tiếp từ các tia bức xạ từ mặt nước phản chiếu lên cộng với sức nóng do
các máy móc hoạt động toả ra. Chính điều này làm cho nhiệt độ bên trong con
tàu tăng lên, đặc biệt trong buồng máy. Sự chênh lệch nhiệt độ khá cao giữa
buồng máy với các vị trí khác trên tàu, giữa trong và ngoài tàu, người lao
động phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác làm cản trở quá trình điều nhiệt,
làm cơ thể khó thích nghi, gây mệt mỏi, giảm khả năng lao động, thậm chí
gây các biến chứng ảnh hưởng sức khỏe.
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới nóng ẩm nên độ ẩm của khí hậu nói

Tiếng ồn tần số cao sẽ gây giảm sức nghe, điếc nghề nghiệp. Tiếng ồn
tần số thấp, tuy không gây điếc nghề nghiệp nhưng cũng gây giảm sức nghe
và nguy hiểm hơn là gây rối loạn hoạt động chức năng của hệ thần kinh thực
vật, qua đó nó ảnh hưởng đến chức năng của hàng loạt các cơ quan như tim
mạch, tiêu hóa Ngoài ra, nếu tiếng ồn kết hợp với rung sẽ làm tăng tác dụng
có hại của nhau lên vì vậy ồn và rung trên tàu biển có tác động tệ hại nhất đến
sức khỏe thuyền viên [28], [30].
* Xóc và rung lắc trên tàu biển
Rung lắc gây nên do tác động bởi hoạt động cơ học, máy móc của tàu
hoạt động như chân vịt, môtơ và các bộ phận phụ trợ, kết hợp với sóng biển.
Ngay cả khi tàu không hoạt động vẫn xuất hiện rung lắc do tác động của sóng
biển. Trong điều kiện tàu rung lắc, chòng chành người lao động ở tư thế bất
lợi nên cơ thể luôn phải thực hiện các phản xạ để điều chỉnh tư thế và trong
điều kiện như vậy, đòi hỏi hệ tiền đình và tiểu não phải vững vàng. Rung, lắc
gây ảnh hưởng xấu lên hệ thống tuần hoàn và thần kinh cũng như hệ thống
xương khớp. Rung, lắc làm tăng tác dụng có hại của tiếng ồn lên chức năng
cơ thể. Đây là rung toàn thân, tần số thấp, là nguyên nhân gây rối loạn tiền
đình với biểu hiện say sóng [28].


18

Nghiên cứu của tác giả Lê Hồng Minh (2012) cho thấy trên tàu đánh
bắt cá xa bờ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép trên tất cả các giải tần số đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 5 lần [37].
* Chiếu sáng trên tàu biển
Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng xuất lao động, chất
lượng lao động và an toàn lao động, ánh sáng không đảm bảo còn gây ra tình
trạng nhức mắt, mỏi mắt, giảm thị lực và nhức đầu. Trong quá trình hoạt động
trên tàu người lao động phải chịu tác động của nhiều hình thức chiếu sáng

các tàu nên thường xuyên có côn trùng và động vật truyền bệnh [71].
Nghiên cứu của Oldenburg M. và cs. (2008) trên 145 người lao động
biển bằng phỏng vấn và test áp da cho thấy 26,9% người cho kết quả dương tính
với dị nguyên từ gián, trong đó có 52,8% số người phát hiện IgE với dị nguyên
trên, và 13,5 trong đó có biểu hiện hạn chế thông khí [101].
Nước ngọt sạch đủ sử dụng trên tàu cũng là vấn đề nan giải, đặc biệt là
tàu nhỏ. Chất lượng nước phụ thuộc vào nguồn nước cấp, công tác vệ sinh
dụng cụ chứa, bảo quản nguồn nước khi sử dụng. Tàu đánh bắt xa bờ thời
gian kéo dài nên lượng nước ngọt chỉ đủ để sử dụng cho nhu cầu tối thiểu.
Nước sạch trên tàu thường có số lượng ít, dụng cụ chứa không bảo đảm.
1.2.2.4. Đặc điểm lao động của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ
Lao động trên tàu đánh cá xa bờ thường có hai bộ phận công việc chính
đó là lao động trên boong, lao động trên bộ phận máy. Trong điều kiện thông
thường ngư dân có thể làm cả hai công việc trong một hành trình.
Lao động trên boong thực hiện theo dây truyền sản xuất bao gồm thả
lưới, thu lưới, phân loại cá, bảo quản cá. Ngư dân phải làm việc trong điều kiện
thời tiết phức tạp như sóng, gió, sự rung lắc, mưa, nắng, giá rét thất thường và
trong diện tích chật hẹp.
Lao động của bộ phận máy phải làm việc liên tục trong không gian chật
hẹp của buồng máy với nhiệt độ cao, sự rung lắc, tiếng ồn lớn, thiếu ánh sáng,
lưu thông không khí kém, thường xuyên phải hít thở không khí có mùi dầu
mỡ và các hơi khí độc do máy tàu thải ra.
Để duy trì hoạt động liên tục của con tàu trên biển, ngư dân khai thác
hải sản phải bắt buộc thực hiện chế độ đi ca (mỗi người lao động làm 2 ca


20

trong một ngày), khoảng thời gian rỗi dành để ngủ một phần, phần còn lại là
thời gian dư thừa. Đặc trưng của thời gian rảnh rỗi của mỗi người là các hoạt

chú ý đúng mức, thiếu các thông tin và các hoạt động văn hoá [21].
Nguyễn Đình Khuê và cs. (2014) nghiên cứu trên 1003 ngư dân đánh
bắt hải sản xa bờ của thị xã Cửa Lò thấy tỷ lệ ngư dân làm việc trên 8h/ngày
chiếm 99,2%, trong đó làm việc từ 9-12h/ngày chiếm 62,1%, trên 12h/ngày
chiếm 25,5%, chủ yếu lao động trên boong tàu chiếm 76,4%, lao động theo ca
kíp, cả ban ngày và ban đêm chiếm 75%, chỉ làm đêm chiếm 23,5%, 76,6%
ngư dân làm việc trong điều kiện ẩm ướt, 62,1% làm việc trong điều kiện rất
nóng/rất lạnh [31].
* Bảo hộ lao động
Hoạt động đánh bắt hải sản xa bờ của của nước ta hầu hết là nhỏ lẻ, tự
phát, trang bị còn thiếu đồng bộ. Công tác BHLĐ cho các thuyền viên còn nhiều
bất cập như trang bị thiếu, sử dụng không đầy đủ, thường xuyên [63], [71].
Nghiên cứu của tác giả Lê Hồng Minh (2012) cho thấy các tàu đã trang
bị cho ngư dân các trang thiết bị bảo hộ lao động (quần áo, găng tay, ủng, áo
cứu sinh, phao bơi). Nhưng số lượng trên thưc tế không đủ so với số thành
viên trên tàu. Tỷ lệ ngư dân mang quần áo bảo hộ, găng tay và ủng, áo cứu
sinh khi lao động chiếm tỷ lệ thấp (23,2%,43,6% và 50,3%,23,4%) [37].
Phỏng vấn ngư dân về kiến thức an toàn về sinh lao động thấy chỉ có
37,6% ngư dân được hướng dẫn an toàn vệ sinh lao động. Trong đó chủ yếu
là từ phương tiện truyền thông (18,3%), còn lại là từ nguồn khác như đồng
nghiệp, người thân… (9,3%). Số người được cán bộ kỹ thuật và cán bộ y tế
hướng dẫn chiếm tỷ lệ thấp (5,9% và 4,1%) [37].
Nguyễn Đình Khuê và cs. (2014) nghiên cứu trên 1003 ngư dân đánh
bắt hải sản xa bờ của thị xã Cửa Lò thấy: 38,6% ngư dân không được tập
huấn về an toàn lao động, 28,4% ngư dân không có bất kỳ một trang bị nào về
bảo hộ lao động, ngư dân không biết về phòng chống cháy, nổ chiếm 48,9%,


22



phẩm như rau xanh, hoa quả, thịt còn tiến hành thủ công và không có trang thiết
bị bảo quản, thiếu cả số lượng và chất lượng cần thiết.
Tại Thái Lan, tháng 4/2005, Doung-ngern P. và cs. (2007) đã báo cáo
một vụ dịch Beriberi ở các ngư dân đánh cá tại Maha Chai. Dịch Beriberi xuất
hiện trên một tàu với 15/28 thuyền viên (1/4 người Thái Lan, 14/24 người
Myanmar), chiếm tỷ lệ 53,6%. Tất cả các trường hợp đều là nam giới, trung
bình 28 tuổi (từ 20- 45 tuổi). Nguyên nhân là do các ngư dân không có nguồn
thực phẩm, chỉ ăn hải sản và gạo đánh bóng trong gần hai tháng và đã có 2
người chết (13%) trong vụ dịch Berberi trên [76].
Do nhiều khó khăn nên các bữa ăn trên tàu khai thác hải sản thường đơn
điệu, mất cân đối về dinh dưỡng, nhất là vitamin. Việc thiếu rau trong các bữa
ăn còn gây nên thiếu chất xơ. Do vậy, sẽ phát sinh các bệnh lý do thiếu xơ,
thiếu vitamin. Thực đơn trên tàu bị mất cân đối sẽ gây một loạt các rối loạn
chuyển hóa về glucid, lipid, protid sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát sinh các bệnh
về tim mạch, huyết áp. Đối với người bị say sóng lại càng có nguy cơ thiếu
chất dinh dưỡng do nôn nhiều [21], [32], [37], [48].
Như vậy điều kiện lao động của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ chứa
nhiều yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe ngư dân và biến đổi thất thường
gây khó khăn nhiều cho việc triển khai áp dụng các giải pháp can thiệp.
1.3. THỰC TRẠNG SỨC KHỎE BỆNH TẬT CỦA NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT HẢI
SẢN XA BỜ QUA CÁC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Nghiên cứu sức khỏe ngư dân trên thế giới
Hiện nay công tác chăm sóc sức khoẻ cho thuyền viên, người đánh cá
và các công nhân lao động trong ngành công nghiệp biển khác (như công
nhân cảng, thợ lặn, công nhân đóng và sửa chữa tàu thuỷ) đã được quan tâm,
trên thế giới có nhiều các nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá đặc điểm
môi trường lao động, đặc điểm sức khỏe, các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến
sức khỏe và hiệu quả các biện pháp nâng cao sức khỏe ngư dân.

Tỉ lệ tự tử của ngư dân cao gấp nhiều lần tỉ lệ quần thể tham chiếu (nam giới
trong nước, do trong nghiên cứu không có nữ giới). Các yếu tố có liên quan


25

đến các vụ tự tử ở ngư dân là do ảnh hưởng của môi trường lao động nghề
nghiệp, trạng thái stress và yếu tố tâm lý của cá nhân và trong đó sử dụng
rượu và nghiện rượu cũng là nguyên nhân góp phần [113] .
Đánh giá nguyên nhân và hoàn cảnh của các trường hợp tử vong ở
người lao động trên biển từ 1976 đến 1995 Roberts S. E. (2002) thấy có 600
trường hợp tử vong do bệnh tật, 427 trường hợp (71%) là do bệnh tim mạch;
247/427 người (58%) đã bị ốm trên biển và 180/427 người (42%) bị ốm tại
cảng. Trên 60% số người chết vì bệnh tim mạch khởi phát khi đang lao động.
Có 55 trường hợp tử vong do bệnh hệ thống tiêu hóa (9%), chủ yếu là do xơ
gan, loét dạ dày (14 trường hợp) và viêm tụy cấp tính (7 trường hợp). Các tác
giả cho rằng thuyền viên luôn phải chịu nguy cơ rủi ro, đặc biệt là các bệnh
cấp tính nếu như không được chăm sóc y tế. Do vậy, cần phải cải thiện việc
sử dụng tư vấn y tế từ xa và đào tạo cho cán bộ y tế trên tàu. Ngoài ra, cần
phải tư vấn phòng ngừa các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch như hút thuốc,
béo phì và nghiện rượu [107].
Nghiên cứu tỷ lệ mắc và hoàn cảnh dẫn đến thương tích ở các ngư dân
Iceland giai đoạn 2001- 2005, Sigvaldason K. và cs (2010) đã cách thu thập
số liệu tại bệnh viện bao gồm trường hợp dẫn đến tai nạn, loại tàu, kinh
nghiệm, nhiệm vụ thực hiện và điều kiện thời tiết… Kết quả nghiên cứu cho
thấy có 17 vụ tai nạn chết người xảy ra trong giai đoạn 2001-2005, trong đó
có 14 vụ tai nạn xảy ra trên tàu, với tần suất 54/100.000 người/năm. Thu thập
được 1787 chấn thương được báo cáo (chiếm 7% các ngư dân đăng kí), 87%
các tai nạn xảy ra trên tàu, 51% khi tàu đang hành trình [111].
Lucas D. và cs (2010) nghiên cứu loạt ca bệnh (case series) cho thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status