1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao động trong các tàu đánh cá, ngư dân đánh bắt hải sản phải
làm việc trong điều kiện khắc nghiệt của biển và điều kiện bất lợi trên
tàu biển. Khí hậu trên biển, nắng, gió biển, sóng biển, những hiểm
nguy luôn rình rập như bão biển, là những yếu tố gây ảnh hưởng rất
lớn đến sức khỏe của người lao động. Thêm vào là điều kiện lao động
trên tàu, như tiếng ồn, rung lắc không gian làm việc chật hẹp, thiếu vệ
sinh, điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe có hạn tạo ra môi
trường lao động có tính đặc thù riêng của ngành khai thác biển. Nhiều
tác giả trong và ngoài nước đã khẳng định môi trường lao động trên
biển là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và cơ
cấu bệnh tật của người lao động trên biển.
Những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu về sức khỏe
của người lao động trên biển nhưng chủ yếu là tập trung vào nhóm
thuyền viên vận tải đường dài. Vì vậy, nghiên cứu về môi trường lao
động và sức khỏe nghề nghiệp của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ là
một việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực.
Đề tài được tiến hành với các mục tiêu sau:
1. Khảo sát điều kiện lao động và sinh hoạt của ngư dân làm
việc trên tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở một số tỉnh phía nam Việt
Nam.
2. Xác định biến đổi một số chỉ tiêu chức năng sinh lý trước
và sau một hành trình đánh bắt xa bờ.
3. Đánh giá tình hình sức khoẻ và tai nạn, thương tích của
ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ ở một số tỉnh phía nam Việt Nam.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đã xác định được đặc điểm điều kiện lao động và sức khỏe
bệnh tật của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ hệ thống và toàn diện.
- Khảo sát được sự biến đổi môi trường lao động và một số chỉ
số tâm sinh lý (tim mạch, thị lực, thính lực, trạng thái căng thẳng cảm
Darwin thấy có 31 người (2,1%) lao phổi, 15 người cấy đờm dương
tính. Szymańska K.(2006) thấy từ 1960-1999 có 51 thuyền viên và
ngư dân tự tử. Các yếu tố liên quan là do ảnh hưởng môi trường lao
3
động, trạng thái stress và tâm lý. Nghiên cứu của Thomas T. K. (2001)
cho thấy có 574 ngư dân chấn thương phải vào viện, nguyên nhân là
ngã trên boong, vướng vào máy móc.
Nghiên cứu Vũ Văn Đài (2004) cho thấy sức khoẻ ngư dân giảm
sút nhanh sau những chuyến đi biển. Bệnh thường gặp là tim mạch,
đường ruột, răng miệng, đau đầu, sạm da, mất ngủ, đau cột sống, giảm
sức nghe và cước bàn tay.
Năm 2007, Nguyễn Thị Yến nghiên cứu điều kiện lao động và
cơ cấu bệnh tật của ngư dân đánh bắt cá xa bờ thuộc xã Lập Lễ, Thủy
Nguyên, Hải Phòng thấy nhiều mặt bệnh chiếm tỷ lệ cao như bệnh
nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm 58,1%, chủ yếu là nhiễm khuẩn
đường ruột (32,12%). Bệnh hệ thần kinh là 33,64%, nhiều nhất là rối
loạn giấc ngủ: 15,15%. Bệnh của mắt và tổ chức xung quanh chiếm
51,82%, chủ yếu là nhức mỏi mắt: 15,15%. Bệnh tăng huyết áp chiếm
tới 18,48% và viêm họng mạn tính là 37,27%. Tỷ lệ tử vong ở ngư
dân trong 5 năm là 7,27% do nhiều tai nạn khác nhau: giao thông
đường biển, rơi xuống biển, ngộ độc cá. Các bệnh tật đặc trưng ở ngư
dân đánh bắt cá xa bờ có liên quan với tuổi nghề.
Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy có nhiều
bệnh lý và tai nạn, thương tích liên quan đến điều kiện lao động, nghề
nghiệp của người lao động trên biển, nhưng nghiên cứu trên ngư dân
đánh bắt hải sản xa bờ còn ít và chưa hệ thống.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Điều kiện lao động trên tàu đánh bắt hải sản xa bờ
* Các chỉ số hình thái- thể lực
- Chiều cao đứng: bằng thước đo chiều cao của Trung Quốc.
- Trọng lượng cơ thể: xác định bằng cân y học.
* Khảo sát cơ cấu bệnh tật:
- Xác định cơ cấu bệnh tật theo Thông tư 13/2007/TT-BYT.
- Phân loại sức khoẻ theo quyết định số 1613/BYT-QĐ 1997.
* Tình hình tai nạn, thương tích: điều tra bằng phiếu phỏng vấn.
5
* Tình trạng rối loạn cơ xương: xác định bằng bảng câu hỏi theo
thường qui của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường.
* Tình trạng căng thẳng cảm xúc: đánh giá bằng bảng câu hỏi của
Spielberger.
* Các chỉ số chức năng hệ tim - mạch:
- Phân độ THA theo JNC-VII (2003).
- Điện tâm đồ: ghi bằng máy Cardiofax của Nhật Bản.
- Thống kê toán học nhịp tim theo Baevxki R.M. (1984).
* Thị lực: xác định bằng bảng thị lực vòng hở Landol.
* Thính lực: đo bằng máy Philip A70. Tính thiếu hụt thính lực theo
bảng Fowler – Sabine.
2.3.2.3. Các phương pháp nghiên cứu cận lâm sàng
* pH da: đo bằng máy HANNA của Hà Lan.
* Các chỉ số huyết học: đo bằng máy Cell- Dyn 1700 (Mỹ).
* Các chỉ số hoá sinh máu: xác định trên máy xét nghiệm hóa sinh
khô Reflotron của CHLB Đức.
2.3.4. Đạo đức nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác chăm sóc sức khỏe cho ngư dân làm việc trên tàu đánh
bắt hải sản xa bờ.
2.3.5. Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý theo phương pháp y- sinh học trên máy
cal/cm
2
/phút
X±
SD
%
vượt
TCCP
X±
SD
%
vượt
TCCP
X±
SD
%
vượt
TCCP
X±
SD
%
vượt
TCCP
Buồng lái
(1)
32,3
± 2,2
80,4
(37)
79,0
34,7
± 2,0
89,1
(41)
79,5
± 5,8
41,3
(19)
0,5
± 0,2
0
0,97
± ,32
34,8
(16)
Boong tầu
(4)
33,2
± 2,3
80,4
(37)
82,6
± 5,7
73,9
(34)
1,9
± 0,4
100
(46)
1,32
hành
Tăng
tốc
Chạy
đều
Giảm
tốc
Tàu
nhỏ
(n=2)
- Buồng lái 90,5
82,5
98,5
81,5
93,5
86,5
102,5
85,5
91,7
88,5
102,0
86,5
90,5
89,0
100,0
87,0
- Buồng sinh hoạt
- Hầm tàu
- Boong tàu
Tàu trung
, NO
2
tại các vị
trí đo đều dưới mức giới hạn cho phép.
3.2.2. Tổ chức lao động và sinh hoạt của ngư dân
- Thời gian lao động trong ngày của ngư dân là 12,3 ± 1,9 giờ
(86,1% vào ban đêm). Mỗi chuyến trung bình là 19,5 ± 6,2 ngày.
- Đa số tàu đã trang bị cho ngư dân các trang thiết bị bảo hộ lao
động nhưng không đủ so với số thành viên trên tàu.
- Diện tích sinh hoạt, lao động của ngư dân là 3,2 m
2
/người.
- Lượng nước sinh hoạt thấp 8,4 ± 1,6l lít /người/ngày. Đa số các
mẫu nước có hàm lượng nitrit sắt vượt TCVSCP (91,3% và 82,6%).
Các chỉ tiêu pH, độ cứng toàn phần hàm lượng nitrate và sulfat của
nước sinh hoạt trên tàu đều đạt TCVSCP.
8
3.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÂM SINH
LÝ CỦA NGƯ DÂN TRƯỚC VÀ SAU HÀNH TRÌNH ĐI BIỂN
ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ
3.3.1. Thể trọng của ngư dân trước và sau hành trình đi biển
Bảng 3.20. Biến đổi thể trọng của ngư dân.
Trọng
lượng
(kg)
Nhóm nghề (X ± SD)
Chung
(n= 51)
Lái tàu
(n= 4) (1)
T- S
<0,01 p
T- S
<0,01
- Sau hành trình đi biển trọng lượng cơ thể của ngư dân giảm
trung bình 1,6 ± 0,83kg, p<0,01.
3.3.2. Một số chỉ số tim mạch của ngư dân trước và sau hành trình
đi biển
Sau hành trình đi biển, tần số mạch của ngư dân tăng nhẹ (4,5-
5,2 nhịp/ phút), p<0,05. Huyết áp tâm thu giảm từ 122,7 ± 7,9 mmHg
xuống còn 110,2±6,3 mmHg, p<0,05. Hiệu số huyết áp giảm 4,5±2,4
mmHg.
3.3.3. Sức nghe tạm thời của ngư dân trước và sau hành trình đi
biển
Sau chuyến đi biển, sức nghe ở tai trái giảm 7,58 ± 2,7%; tai
phải giảm 9,1 ± 3,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
3.3.4. Thị lực và triệu chứng nhức mỏi mắt của ngư dân trước và
sau hành trình đi biển
Bảng 3.23. Biến đổi thị lực và triệu chứng nhức mỏi mắt.
9
Triệu chứng
Lái tàu
(n= 4) (1)
Thợ máy
(n= 5) (2)
Bạn nghề
(n= 42) (3)
Tổng số
(n=51)
n % n % n % n %
- Một số chỉ số chức năng tim mạch:
Bảng 3.29. Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở ngư dân.
Huyết áp Nhóm nghề Tổng số
10
(n=612)
Lái tàu
(n= 46) (1)
Thợ máy
(n= 48) (2)
Bạn nghề
(n= 518) (3)
n % N % n % n %
Bình thường 36 78,3 34 70,8 385 74,4 455 74,3
THA 10 21,7 14 29,2 133 25,6 157 25,7
p
1-2
>0,05; p
1-3
>0,05; p
2-3
>0,05
+ Có 25,7% người THA. Tỷ lệ THA ở nhóm thợ máy (29,2%)
cao hơn so với nhóm lái tàu (21,7%) và bạn nghề (25,6%), (p>0,05).
+ Tỷ lệ người có điện tâm đồ biến đổi là 58,5%, chủ yếu là rối
loạn dẫn truyền trong thất (22,2%).
+ Tỷ lệ người có chỉ số căng thẳng nhịp tim ≥200 đơn vị ở
nhóm bạn nghề (76,9%) cao hơn so với nhóm lái tàu (48,6%) và thợ
máy (54,1%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,001.
- Thính lực: tỷ lệ người giảm thính lực là 35,4%. Tỷ lệ giảm
thính lực ở nhóm thợ máy (73,0%) nhiều hơn so với nhóm lái tàu
<0,05
Ngoại khoa
1 2,2 2 4,2 8 1,5 11 1,8
p
1-2
>0,05; p
1-3
>0,05; p
2-3
>0,05
Tâm- thần kinh
2 4,4 5 10,4 87 16,8 94 15,4
p
1-2
>0,05; p
1-3
<0,05; p
2-3
>0,05
Tai mũi họng
21 45,6 25 52,1 285 55,0 331 54,1
p
1-2
>0,05; p
1-3
>0,05; p
2-3
>0,05
Răng hàm mặt
15 32,6 26 54,2 339 65,4 380 62,1
với nhóm lái tàu (26,1%; 30,4% và 23,9%), (p>0,05).
- Đặc điểm bệnh tai mũi họng: tỷ lệ người nghe kém ở nhóm thợ
máy (43,8%) cao hơn so với nhóm lái tàu (30,4%) và bạn nghề
(37,1%). Tỷ lệ người viêm mũi dị ứng ở nhóm bạn nghề (14,3%) cao
hơn so với nhóm lái tàu và thợ máy (6,5% và 10,4%).
- Đặc điểm bệnh răng hàm mặt: tỷ lệ người mắc các bệnh lý của
răng và quanh răng ở nhóm bạn nghề (49,4% và 32,4%) cao hơn so
với nhóm lái tàu (39,1% và 28,3%), (p>0,05).
- Đặc điểm bệnh mắt: tỷ lệ người nhức mỏi mắt ở nhóm lái tàu
(39,1%) cao hơn so với nhóm bạn nghề (22,0%), (p<0,01).
- Đặc điểm bệnh da liễu
Bảng 3.42. Cơ cấu bệnh da liễu của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ.
12
Cơ cấu
bệnh
da liễu
Nhóm nghề
Tổng số
(n= 612)
Lái tàu
(n= 46) (1)
Thợ máy
(n= 48) (2)
Bạn nghề
(= 518) (3)
n % N % n % n %
Viêm da dị ứng
tiếp xúc
4 8,7 11 22,9 102 19,7 117 19,1
p
>0,05; p
2-3
>0,05
Eczema
0 0 4 8,3 7 1,4 11 1,8
p
1-2
>0,05; p
1-3
>0,05; p
2-3
>0,05
Viêm quanh
móng, nấm móng
2 4,4 8 16,7 82 15,8 92 15,0
p
1-2
<0,05; p
1-3
<0,05; p
2-3
>0,05
+ Tỷ lệ người mắc các bệnh viêm da dị ứng tiếp xúc, viêm quanh
móng, nấm móng ở nhóm thợ máy (22,9% và 16,7%), nhóm bạn nghề
(19,7% và 15,8%) cao hơn so với nhóm lái tàu (8,7% và 4,4%). Tỷ lệ
người cước bàn tay ở nhóm bạn nghề (17,2%) cao hơn so với nhóm lái
tàu (4,4%), p<0,05.
+ Tỷ lệ ngư dân có pH da mu bàn tay và lòng bàn tay quá toan
pH<5,10 (38,0% và 34,3%) và quá kiềm pH >5,9 (18,2% và 14,3%).
3.4.3. Tình hình tai nạn, thương tích của ngư dân đánh bắt hải sản
Cộng 612 72 11,8
Nhóm bạn nghề và thợ máy có tỷ lệ tai nạn, thương tích (12,4%
và 10,4%) cao hơn so với nhóm lái tàu (6,5%), nhưng sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
- Theo vị trí làm việc:
14
Biểu đồ 3.3. Phân bố tai nạn, thương tích theo vị trí làm việc trên tầu.
Tai nạn, thương tích xảy ra trên boong tàu chiếm tỷ lệ cao nhất
(38,9%), thành tàu và hầm máy gần tương đương nhau (18,1% và
20,8%), các vị trí khác chiếm tỷ lệ thấp hơn (9,7- 12,5%).
- Theo nguyên nhân:
Bảng 3.47. Phân bố tai nạn, thương tích theo nguyên nhân.
Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ (%)
Giảm áp lặn 19 26,4
Sửa chữa, tháo lắp máy 14 19,4
Tời, dây tời dứt 11 15,3
Ngã 13 18,1
Tầu đâm va quệt 6 8,3
Dụng cụ lao động trên tầu 7 9,7
Dây cuaroa 2 2,8
Cộng 72 100,0
+ Các nguyên nhân gây tai nạn, thương tích có tỷ lệ cao là giảm
áp trong lặn (26,4%), sửa chữa, tháo lắp máy, ngã trên boong tàu và
xuống nước, tời đứt, đập, quấn từ 15,3 đến 19,4%.
+ Các nguyên nhân khác như tàu đâm, va quệt, do dụng cụ lao
động trên tàu, do đứt dây cua roa đều thấp dưới 10%.
15
Chương 4
BÀN LUẬN
4.1. ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRÊN TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN
2
, NO
2
tại các vị trí đo
đều dưới mức TCVSCP. Nhưng tiếp xúc thường xuyên, liên tục và lâu
16
dài với các chất khí này vẫn có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ ngư dân
nhất là những người làm việc ở hầm tàu.
4.1.2. Điều kiện lao động và sinh hoạt trên tàu đánh bắt hải sản xa bờ
* Tổ chức lao động:
Thời gian lao động trung bình trong ngày của ngư dân là 12,3 ±
1,9 giờ và thường lao động vào ban đêm (86,1%). Lao động nặng
nhọc trong môi trường khắc nghiệt, thời gian lao động kéo dài kết hợp
với sự đảo lộn nhịp sinh học là những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến
sức khỏe của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ.
* Trang bị bảo hộ lao động và huấn luyện an toàn vệ sinh lao động:
Các tàu đã trang bị cho ngư dân các trang thiết bị bảo hộ lao
động (quần áo, găng tay, ủng, phao bơi), nhưng số lượng không đủ.
Vẫn còn số lượng lớn ngư dân không được cung cấp thông tin về vệ
sinh an toàn lao động, nên chỉ sử dụng trang bị bảo hộ lao động khi
tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố bất lợi của môi trường. Đây là điều
nguy hiểm vì các yếu tố nguy cơ của môi trường lao động thường
xuyên tác động đến ngư dân không chỉ phụ thuộc vào liều lượng, mà
còn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc.
* Điều kiện sinh hoạt:
Diện tích sinh hoạt và lao động trên tàu của ngư dân thấp
(3,2m
2
/người) đã tạo ra gánh nặng về thần kinh tâm lý, dễ phát sinh
các bệnh rối loạn thần kinh, tâm lý và các rối loạn hành vi tâm thần.
khi đi biển, ngư dân phải tiếp xúc với tiếng ồn của sóng biển và máy
tàu suốt ngày đêm nên ngưỡng nghe đã thay đổi. Mặc dù, đây chỉ là
tình trạng giảm sức nghe tạm thời, sau khi nghỉ ngơi sẽ hồi phục,
nhưng tiếp xúc lâu dài sẽ gây giảm thính lực thực thể.
4.2.4. Biến đổi thị lực và triệu chứng nhức mỏi mắt của ngư dân
trước và sau hành trình đi biển
Sau hành trình thấy tỷ lệ nhức mỏi mắt và giảm thị lực của ngư
dân tăng từ 21,6% và 19,6% lên 46,9% và 27,4% (p<0,05) là do tiếp
xúc với ánh sáng có cường độ chiếu sáng quá mức trên tàu để dẫn dụ
và đánh bắt cá cũng với sự thay đổi nhịp sinh học gây mất ngủ, căng
thẳng về tâm lý kéo dài.
4.3. TÌNH HÌNH SỨC KHỎE VÀ CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA
NGƯ DÂN ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ
18
4.3.1. Đặc điểm thể lực
Chiều cao và cân nặng của nhóm bạn nghề (159,8 cm và 55,9kg)
thấp hơn so với lái tàu (162,0cm và 57,8 kg) và thợ máy (160,9 cm và
56,7 kg), (p>0,05).
Lao động nghề cá là lao động nhỏ lẻ mang tính chất gia đình nên
việc tuyển chọn và đào tạo ngư dân gần như không có, mà thường dựa
vào quan hệ họ hàng, làng xóm. Chính vì vậy, chiều cao và cân nặng
của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ thấp hơn so với chiều cao, cân
nặng của thuyền viên VOSCO Ltd.
4.3.2. Cơ cấu bệnh tật
Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật theo Thông tư 13/2007/TT-BYT
thấy các bệnh chiếm tỷ lệ cao là bệnh nội khoa, tâm- thần kinh, tai
mũi họng, răng hàm mặt, mắt và da liễu (48,7%; 15,4%; 54,1%;
62,1%; 28,6% và 22,2%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu
của Filikowski J. và cs. (1985) trên các thuyền viên Ba Lan thấy chỉ
có 32- 38% số thuyền viên là khoẻ mạnh, còn lại đều có các rối loạn
Tỷ lệ người viêm mũi dị ứng ở nhóm bạn nghề (14,3%) cao hơn
so với nhóm lái tàu và thợ máy (6,5% và 10,4%) chứng tỏ các protein
ở sinh vật biển có ảnh hưởng nhất định đến tình trạng viêm mũi,
xoang dị ứng ở ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ.
Đo thính lực đồ cho 178/612 ngư dân thấy tỷ lệ giảm thính lực
chiếm 35,4%. Tỷ lệ giảm thính lực ở nhóm thợ máy (73,0%) nhiều
hơn so với nhóm lái tàu (22,9%) và bạn nghề (26,4%) là do nhóm thợ
máy luôn tiếp xúc với tiếng ồn.
Kontosić I. và cs. (1996) nghiên cứu thính lực đồ của 231 thuyền
viên có thời gian đi biển trên 5 năm thấy có mối tương quan giữa tuổi
nghề và mức độ giảm thính lực. Chủ yếu là giảm thính lực ở tần số
2000 và 4000Hz.
* Cơ cấu bệnh răng hàm mặt:
Tỷ lệ ngư dân mắc các bệnh lý của răng và quanh răng là 48,2%
và 32,0% là do kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng của ngư
dân còn hạn chế, thêm vào là do hạn chế về lượng nước sinh hoạt và
20
chất lượng nước sử dụng trên tàu biển nên bệnh răng miệng chiếm tỷ
lệ cao.
* Cơ cấu bệnh mắt:
Tỷ lệ ngư dân nhức mỏi mắt và giảm thị lực là 24,2% và 21,6%.
Nguyễn Thị Yến (2007) nghiên cứu trên ngư dân đánh bắt hải sản xa
bờ ở Hải Phòng thấy nhức mỏi mắt có tỷ lệ cao nhất (22,12%), tiếp
đến là viêm kết mạc, giác mạc (7,58% và 5,15%).
* Cơ cấu bệnh da liễu:
Tỷ lệ người mắc các bệnh viêm da dị ứng tiếp xúc, viêm quanh
móng, nấm móng ở nhóm thợ máy (22,9% và 16,7%) và bạn nghề
(19,7% và 15,8%) cao hơn so với nhóm lái tàu (8,7% và 4,4%); còn tỷ lệ
người cước bàn tay ở nhóm bạn nghề (17,2%) lại cao hơn so với nhóm
lái tàu (4,4%), (p<0,05) là do trong quá trình lao động, ngư dân phải
4.4. TÌNH HÌNH TAI NẠN, THƯƠNG TÍCH CỦA NGƯ DÂN
ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ
4.4.1. Tình hình tai nạn, thương tích
Tỷ lệ tai nạn, thương tích ở ngư dân đánh bắt hải sản là 11,8%.
Tại Nauy, Aasjord H. L. (2006) thấy nguy cơ là 23,6/1000
người/năm. Matheson C. và cs. (2005) điều tra tai nạn, thương tích ở
164 ngư dân ở Scotland thấy 81% trường hợp từng bị chấn thương,
16% trường hợp đã từng phải cấp cứu rời khỏi tàu.
4.4.2. Nguyên nhân gây tai nạn, thương tích
Các nguyên nhân gây tai nạn, thương tích có tỷ lệ cao là giảm áp
trong lặn (26,4%), sửa chữa, tháo lắp máy, ngã trên boong tàu và
xuống nước, tời đứt, đập, quấn từ (15,3% đến 19,4%).
Điều này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Công Đức (2004):
nguyên nhân khách quan như thời tiết, trơn trượt, gió bão (71,69%),
trượt ngã chiếm 29,09%, vật rơi hoặc đâm vào người chiếm 40,16%.
Lincoln J. và cs. (2001) cũng thấy nguyên nhân gây tai nạn, thương
tích chủ yếu là do các thiết bị trên tàu (60%) và ngã (25%).
4.4.3. Cơ cấu tai nạn, thương tích
Vết thương phần mềm chiếm tỷ lệ cao nhất (26,4%), tiếp đến là
cụt đốt bàn, ngón tay chân (19,4%); rạn xương và gãy xương chi trên
22
(9,7%), gãy xương chi dưới (6,9%), liệt chi dưới 8,3%; các tổn thương
khác chiếm tỷ lệ thấp (1,4- 4,2%) tương tự như nghiên cứu của
Nguyễn Công Đức (2004): vết thương phần mềm chiếm 66,03%, gãy
xương chiếm 52,83%.
4.4.4. Các yếu tố liên quan đến tai nạn, thương tích
* Tuổi đời và tuổi nghề:
Nhóm tuổi có tỷ lệ tai nạn, thương tích cao nhất là 30- 39 tuổi
(14,6%), tiếp đến là 20- 29 tuổi (13,3%), nhóm tuổi >50 có tỷ lệ thấp
nhất (8,6%).
- Chiếu sáng: 100% số mẫu đo ở mũi tàu, giữa boong tàu và đuôi
tàu cao hơn TCVSCP.
- Thời gian lao động trung bình trong ngày của ngư dân kéo dài:
12,3 ± 1,9 giờ (86,1% vào ban đêm), thời gian đi biển là 19,5 ± 6,2
ngày mỗi chuyến.
- Bảo hộ lao động: số lượng thiết bị không đầy đủ và không
được thường xuyên sử dụng trong quá trình lao động.
- Lượng nước sinh hoạt hạn chế (8,4 ± 1,6 lít/người/ngày). Chất
lượng nước chưa đạt TCVSCP: 91,3% mẫu đo có hàm lượng nitrit,
82,6% mẫu đo có hàm lượng sắt và 100% số mẫu đo có chỉ số coli và
coliform cao hơn TCVSCP.
2. Sau hành trình đánh bắt xa bờ, một số chức năng tâm sinh
lý của ngư dân có biến đổi.
- Tần số mạch có xu hướng tăng nhẹ (4,5- 5,2 nhịp/phút), huyết
áp hiệu số giảm 4,5 ± 2,4 mmHg.
- Sức nghe giảm 7,58%- 9,1%; tỷ lệ nhức mỏi mắt tăng từ 19,4%
lên 46,9%; tỷ lệ giảm thị lực tăng từ 20,4% lên 27,5%
- Trạng thái căng thẳng cảm xúc ở mức độ cao tăng từ 8,2% lên
24,5%.
3. Tình hình sức khỏe, cơ cấu bệnh tật và các loại thương
tích của ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ.
- Tỷ lệ ngư dân có mức độ căng thẳng cảm xúc cao (44,3%), rối
loạn cơ xương vùng gáy, bả vai, cổ tay/bàn tay, đầu gối là (63,8%:
44,0%; 24,0%; 32,9%).
- Tỷ lệ bệnh nội khoa, tâm- thần kinh, tai mũi họng, răng hàm
mặt, mắt và da liễu của ngư dân là (48,7%; 15,4%; 54,1%; 62,1%;
28,6% và 22,2%). Một số bệnh liên quan đến nghề nghiệp có tỷ lệ cao
như: bệnh tim mạch (33,5%), tiêu hóa (35,1%), xương khớp (36,1%),
24
suy nhược thần kinh (11,4%), giảm thị lực (21,6%), giảm thính lực