B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
VIN O TO Y HC D PHềNG V Y T CễNG CNG
NGUYN THANH THO
Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của
ngời lao động Công ty trách nhiệm hữu
hạn
sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa
từ năm 2011 đến năm 2015
Chuyờn ngnh : Y hc d phũng
Mó s
: 60720163
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS KHNG VN DUY
2. TS NGUYN èNH DNG
H NI 2015
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban giám hiệu và phòng đào tạo sau đại học- Viện ĐT YHDP và YTCC,
Trường Đại học Y Hà Nội.
Em xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là có thực, kết quả trung thực,
chính xác và chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nào.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thanh Thảo
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AAR
Tỷ lệ mắc bệnh cộng dồn
BMI
Body mass index (chỉ số khối cơ thể)
BNN
Bệnh nghề nghiệp
CN, CNLĐ, NLĐ
Công nhân, Công nhân lao động, Người lao động
CNH -HĐH
THNN
Tác hại nghề nghiệp
TK
Thần kinh
TNLĐ
Tai nạn lao động
4
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
6
7
8
Hiện nay tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có xu hướng tăng cả
về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội năm 2011: cả nước xảy ra gần 6000 vụ TNLĐ làm 6.154 người bị tai
nạn, trong đó có 574 người chết, 1.314 người bị thương, tăng gần 6% so với năm
2010. Trong đó ngành cơ khí chế tạo chiếm 8% [2]. Đây là bài toán đặt ra với các
doanh nghiệp cơ khí chế tạo máy trong cả nước, bởi vì ngành công nghiệp cơ khí
chế tạo đang ngày càng có chỗ đứng trong nền công nghiệp quốc gia. Dù đã có
nhiều nghiên cứu về điều kiện và môi trường lao động ảnh hưởng đến sức khỏe và
bệnh tật của người lao động trong ngành công nghiệp cơ khí, đồng thời đưa ra các
giải pháp để phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, song còn riêng lẻ,
chưa đồng bộ. Để có cái nhìn tổng quan về sức khỏe, bệnh tật và khuynh hướng
mắc bệnh chung của người lao động ngành cơ khí, chế tạo phụ tùng ô tô, xe máy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người
lao động Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa
từ năm 2011 đến năm 2015”, với những mục tiêu nghiên cứu sau:
1. Mô tả thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động Công ty trách
nhiệm hữu hạn Showa, năm 2011 – 2015.
2. Mô tả xu hướng mắc bệnh của người lao động Công ty trách nhiệm
hữu hạn Showa, năm 2011 – 2015.
Từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe cho
người lao động Công ty TNHH Showa Việt Nam.
8
9
10
Người lao động, lúc đầu là người lao động trong các ngành nghề xây dựng,
truyền thống coi là không có tay nghề lao động chân tay, nhưng trái ngược với lao
động có tay nghề cao, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, mỗi người lao động chỉ
bỏ sức lao động cho một loại sản phẩm riêng biệt và yêu cầu sản phẩm có kỹ thuật
cao, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động. Người lao động có các dụng cụ
hỗ trợ lao động như dụng cụ cầm tay, dụng cụ điện, công cụ không khí, và thiết bị
nặng nhọc, và hành động giúp các ngành nghề khác, thí dụ, các nhà khai thác mỏ
hoặc thợ xây dựng [3].
1.1.3. Môi trường và sức khỏe người lao động
Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người,
ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như:
không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế. Bao gồm: môi
trường tự nhiên, môi trường kỹ thuật, môi trường lao động và môi trường xã hội.
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện
hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách
thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng.
Môi trường lao động đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sức khỏe
người lao động. Trong lao động xản xuất ở bất kỳ ngành nào việc đảm bảo tốt điều
kiện lao động luôn là ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra còn phải thường xuyên khảo sát
các yếu tố độc hại của môi trường sản xuất nhằm đánh giá thực tế mức độ ảnh
hưởng đến sức khoẻ người lao động. Môi trường lao động sạch, sức khỏe người lao
động được đảm bảo để phát triển sản xuất, tái tạo sức lao động và kéo dài tuổi thọ
công nhân qua đó góp phần phát triển kinh tế của doanh nghiệp và xã hội.
Trong cuộc sống con người và môi trường có mối liên quan khăng khít và tác
động qua lại với nhau, tuy nhiên môi trường nào cũng ẩn chứa nhiều yếu tố bất lợi
cho sức khỏe. Sức khỏe cán bô người lao động viên và môi trường lao động là 2 yếu
tố liên quan mật thiết với nhau, môi trường lao động ô nhiễm sẽ làm giảm sức khỏe
động qua lại với nhau. Các yếu tố này là các nguy cơ gây tổn thương nghề nghiệp,
bệnh nghề nghiệp, căng thẳng nghề nghiệp.
1.1.4.1. Các yếu tố chung ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động
a) Đặc trưng cá nhân: Các yếu tố tuổi, giới, yếu tố di truyền, tính nhạy cảm
11
12
của từng cá thể có ảnh hưởng đến sức khoẻ.
b) Yếu tố văn hoá xã hội, kinh tế và phong tục tập quán: Các yếu tố văn hoá
xã hội bao gồm trình độ văn hoá của NLĐ, phong tục tập quán, an ninh xã hội và
gia đình... cũng như thu nhập kinh tế ảnh hưởng đến sức khoẻ.
c) Ảnh hưởng của lối sống không lành mạnh tới sức khoẻ
Hút thuốc lá là một trong các yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh như bệnh tim mạch,
bệnh phổi, ung thư.... Đặc biệt đối với NLĐ khi phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại ở
môi trường lao động, tác hại sẽ tăng lên nhiều khi kèm theo thói quen hút thuốc.
Ngoài ra lối sống buông thả như mại dâm, nghiện chích là những yếu tố nguy
cơ lây truyền HIV/AIDS và những bệnh lây qua đường tình dục.
d) Các yếu tố môi trường sống tác động đến sức khoẻ
- Ô nhiễm môi trường không khí xung quanh
- Ô nhiễm nguồn nước
- Ô nhiễm môi trường đất
e) Các yếu tố dinh dưỡng tác động đến sức khỏe: Chế độ ăn cũng như thói
quen dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát sinh, phát triển bệnh. Điều này
càng quan trọng đối với NLĐ, bởi vì các nghề, công việc khác nhau đòi hỏi nhu cầu
dinh dưỡng khác nhau.
f) Các yếu tố thuộc về chăm sóc sức khoẻ
- Màng lưới tổ chức y tế
- Khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế [8]; [9].
chì… Hiện nay nước ta mới có 31 bệnh ở trong danh mục bệnh nghề nghiệp được
bảo hiểm. Trong thời gian tới sẽ tiếp tục bổ sung thêm một số bệnh nữa [7].
THNN không hẳn sẽ mãi mãi gắn chặt với nghề nghiệp mà không thể phòng
tránh được. Trái lại, con người có khả năng thay đổi nó, hạn chế nó, thậm chí loại
trừ hẳn ra khỏi điều kiện làm việc.
Ở mỗi ngành nghề có thể có nhiều yếu tố THNN. Các yếu tố này sẽ tác động
phối hợp với nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Trung và CS (Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ 2002) cho thấy: các yếu tố THNN gặp trong ngành sản xuất vật
liệu xây dựng là bụi, nóng, ồn. Trong ngành dệt là bụi, tiếng ồn, nóng ẩm, chế độ
lao động ca kíp, tư thế lao động không thuận lợi. Trong ngành giấy người lao động
phải tiếp xúc với tiếng ồn cao và một số hơi khí độc đặc biệt là Clo và H2S [10]...
13
14
Theo số liệu báo cáo của Cục YTDP trong Hội nghị triển khai công tác y
tế lao động giai đoạn 2006 - 2010 (Bắc Ninh tháng 2/2006) cho thấy ở giai đoạn
2001- 2005 mặc dù đã có nhiều cải thiện so với trước đây nhưng trong nhiều
ngành nghề, các yếu tố THNN vẫn còn ở mức độ đáng chú ý: tỷ lệ số mẫu đo vượt
TCCP cao nhất là tiếng ồn (30,8%), rung chuyển (27,9%), bụi (22,3%), ánh sáng
(21,4%), vi khí hậu (17,3%), phóng xạ, điện từ trường (11,9%), hơi khí độc (9,9%)…
Môi trường ô nhiễm ảnh hưởng tới sức khỏe người tiếp xúc. Tỷ lệ NLĐ được phát hiện
BNN là 21.782/ 236.187 người khám (12,2%) và tỷ lệ được giám định/Tổng số phát
hiện là 26,4%. Trong số các BNN được giám định thì cao nhất là nhóm các bệnh bụi
phổi và phế quản (78,1%), nhóm bệnh do yếu tố vật lý (14,3%), bệnh nhiễm độc nghề
nghiệp ( 4,4%), da nghề nghiệp (2,5%)… Vì vậy việc giám sát và khống chế các yếu tố
THNN là cần thiết và cấp bách nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động.
Định nghĩa Bệnh nghề nghiệp (BNN):
- Khuynh hướng thứ nhất: BNN là một bệnh gây nên do lao động hoặc do
thuận lợi hoặc có nguy cơ gây ra ảnh hưởng xấu, nguy hiểm đối với tính mạng, sức
khoẻ con người hay không?
Đối tượng lao động của con người được hiểu là đối tượng vật chất mà con
người tác động vào nó trong quá trình sản xuất để tạo thành sản phẩm. Nó rất đa dạng,
phong phú, từ những loại rất đơn giản, không gây nên ảnh hưởng hoặc tác hại xấu đối
với con người, đến những loại rất phức tạp, độc hại, nguy hiểm, thậm chí rất nguy hiểm
đối với con người (dòng điện, hoá chất, vật liệu phóng xạ, vật liệu nổ...). Rất nhiều đối
tượng sản xuất, khi đã tạo thành sản phẩm thì tính chất nguy hiểm, độc hại đã bớt đi, có
lợi cho con người, song cũng không ít đối tượng lao động vẫn giữ nguyên, thậm chí
còn làm tăng hoặc lưu giữ tiềm tàng tính chất nguy hiểm, độc hại đó.
Quá trình công nghệ trong sản xuất được hiểu là cách thức mà con người tác
động vào đối tượng lao động để tạo thành sản phẩm. Nó có thể hết sức thủ công, thô
sơ, do đó mà người lao động phải làm việc nặng nhọc, phải thường xuyên tiếp xúc
trực tiếp với các yếu tố độc hại, nguy hiểm dễ gây nên TNLĐ, BNN. Quá trình công
nghệ cũng có thể rất hiện đại, có trình độ cơ khí hoá, tự động hoá cao, do đó làm
giảm nhẹ mức độ nặng nhọc, bảo vệ tốt sức khoẻ tính mạng con người [4], [5].
1.2.2. Các yếu tố tác hại của điều kiện lao động
Các yếu tố tác hại được phân thành các nhóm sau:
15
16
- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, các bức xạ có hại (ion hoá và không
ion hoá), bụi, tiếng ồn, độ rung, thiếu ánh sáng...
- Các yếu tố hoá học như các chất độc, các loại hơi, khí, bụi độc, các chất
phóng xạ...
- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm
mốc, các loại ký sinh trùng, các loại côn trùng, rắn...
- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, quá tải về thể lực, không tiện nghi do
gây trì trệ phát triển, gây hiện tượng tâm lý mệt mỏi, chán nản dẫn tới những biến
đổi ức chế thần kinh. Cuối cùng gây bệnh tâm lý mệt mỏi uể oải, suy nhược thần
kinh, đau mỏi cơ xương, làm giảm năng suất và chất lượng lao động, có khi dẫn đến
tai nạn lao động.
Theo Trần Như Nguyên khi nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện lao động
nóng ẩm, nóng khô đến sức khỏe công nhân cho thấy phát hiện 10 stress nóng,
16 ±2% say nóng, nhiễm độc CO, và các bệnh có tỷ lệ cao bao gồm: bệnh về tai
mũi họng, bệnh về mắt...[11], [12].
1.2.2.3. Các yếu tố môi trường lao động
Các yếu tố môi trường lao động: Vi khí hậu, tiếng ồn và rung động, bức xạ và
phóng xạ, chiếu sáng không hợp lý, bụi, các hoá chất độc, các yếu tố vi sinh vật có hại…
a) Vi khí hậu
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu
hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ
vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù
hợp với sinh lý của con người.
17
18
- Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể,
làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc
thiết bị... Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say
nóng, say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về
hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh... Khi nhiệt độ môi trường tăng thì
tốc độ dẫn truyền xung động trên sợi thần kinh đến cơ giảm, làm các cơ bị mệt mỏi,
sự điều hòa phối hợp vận động kém, dẫn tới giảm năng suất lao động và tai nạn lao
động, đặc biệt là cuối ca lao động [9].
các dụng cụ cầm tay bằng khí nén, do các động cơ nổ tạo ra.
Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ
gây các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, rối
loạn phát dục, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trung
trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén... Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn
ngủ... Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh
thần kinh. Tình trạng trên dễ dẫn đến tai nạn lao động.
Tiếng ồn chủ yếu gây ra những rối loạn ở cơ quan thính giác, song nếu tiếng
ồn quá lớn > 90 dBA, tiếp xúc trong thời gian dài ngoài khả năng gây điếc còn có
khả năng gây ra những rối loạn về tim mạch (hồi hộp, đánh trống ngực, tăng huyết
áp phản ứng), suy nhược thần kinh và hội chứng dạ dày- tá tràng. Theo Lê Thị Yến,
tỷ lệ ù tai khi tiếp xúc ồn là 80% và nghe kém là 52% [16].
Với ngành sản xuất phụ tùng oto, xe máy thì tiếng ồn chủ yếu phát ra từ động
cơ máy móc đang hoạt động, tiếng va chạm của sản phẩm hay quá trình sản xuất
(gò, hàn, mài dũa sản phẩm...), đa số công nhân làm việc tại công ty TNHH Showa
đều nói rằng mình phải tiếp xúc với nguồn ồn trong các ca lao động.
c) Bức xạ và phóng xạ
Nguồn bức xạ: Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại. Lò thép hồ
quang, hàn cắt kim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại.
19
20
Người ta có thể bị say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu,
chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp.
- Phóng xạ: Là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi
bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng iôn hoá vật chất.
Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ.
vỡ, nghiền xoay, dập nát... của các vật rắn. Bụi gây độc với cơ thể theo nhiều cách:
-
Gây độc toàn thân: Bụi chì, bụi mangan, asen, clo, flo, oxit kẽm...
-
Gây kích thích cục bộ, tổn thương ở da, niêm mạc: Bụi ximent, calci oxit, bụi
thuốc lá...
-
Gây phản ứng dị ứng: Bụi đay, bụi sơn, phấn hoa...
-
Gây tác dụng quang học: Bụi hắc ín...
-
Gây nhiễm khuẩn: Bụi rẻ rách, lông súc vật, thóc lúa...
-
Gây ung thư: Bụi phóng xạ...
-
Gây tác động lên đường hô hấp: Bụi bông, bụi than, bụi oxit sắt...
Thảo tại một số doanh nghiệp cơ khí, luyện kim cho thấy nồng độ chì đa số đều ở mức
0,12 đến 0,35 mg/m3 cao hơn tiêu chuẩn cho phép (0.05mg/m3) [19].
1.3. Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động
trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo tại Việt Nam và thế giới.
Lao động trong ngành công nghiệp chế tạo trang thiết bị phụ tùng xe máy ô
tô có đặc thù:
22
23
- Chỗ làm việc của công nhân thường cố định theo một tư thế, làm việc theo
dây chuyền sản xuất. Công nhân làm việc trong nhà máy sản xuất ra các sản phẩm
cơ khí đa dạng, mỗi bộ phận có tính chuyên môn hóa cao.
- Nhiều sản phẩm được sản xuất, tốn nhiều công sức lao động, cần sức lao
động và tỷ mỷ trong công việc.
- Nhiều công việc bắt buộc công nhân phải làm việc trong tư thế gò bó, ít
thay đổi tư thế
- Nhiều công việc tiến hành trong môi trường độc hại, ô nhiễm (bụi, hơi khí
độc,tiếng ồn, dầu mỡ, hóa chất), vi khí hậu khắc nghiệt, vi khí hậu nóng, thiếu gió,
độ ẩm không thích hợp, ánh sáng kém…
- Môi trường lao động chuyên môn hóa cao, tai nạn lao động luôn đe dọa sức
khỏe của người lao động.
- Chính những yếu tố đó là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ốm đau,
bệnh tật và tai nạn cho công nhân.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động
trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo tại Việt Nam
Đào Xuân Vinh và cộng sự đã thực hiện đề tài khảo sát môi trường lao động,
khám lâm sàng và đo chức năng hô hấp trên 1200 công nhân kết quả cho thấy: nồng
ồn… Các bệnh nghề nghiệp chủ yếu là bệnh bụi phổi - silic (35,37% trong sản xuất
vật liệu chịu lửa, 16,1% trong khai thác than đá); bệnh điếc nghề nghiệp (16% trong
khai thác than đá, 9,7% trong sản xuất xi măng); bệnh da nghề nghiệp (35,8% trong
khai thác đá, 40,1% trong sản xuất xi măng) [10].
Kết quả phân tích tình hình thương tích do lao động ở Việt Nam của Nguyễn
Thị Hồng Tú và cộng sự (2008) cho thấy, trong các ngành công nghiệp, trung bình
hàng năm có 4.639 tai nạn nơi làm việc, trong đó 2.617 người bị thương nặng và
499 người tử vong. Các ngành công nghiệp có tỷ lệ tử vong cao là cơ khí, xây dựng,
khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng. Thương tích do lao động chiếm 5,5% số
trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân thương tích, 85% trường hợp tử vong do
lao động là nam, 71% là ở nhóm tuổi 15 - 34 tuổi [23].
Nghiên cứu môi trường lao động và tình hình sức khỏe công nhân nhà máy
xi măng Bút Sơn, Hà Nam của Lê Thị Thu Hằng (2010), cho thấy CNLĐ mắc các
bệnh thông thường khác nhau, cao nhất là bệnh đường tai mũi họng (49,62%), răng
24
25
hàm mặt (47,54%), tiêu hóa (13,83%), phụ nữ với bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ đáng
kể (25,37%). Có 2 bệnh nghề nghiệp mà chúng ta cần quan tâm: bệnh bụi phổi silic
(2,46%) và điếc nghề nghiệp (0,19%) [21].
Theo Phan Bích Hòa và Đỗ Hàm, nghiên cứu trên CN nhà máy xi măng La Hiên,
Thái Nguyên (2008), tỷ lệ công nhân có SK tốt giảm, SK kém tăng lên so với năm 2005
(SK loại IV và V: 5/ 10,15). Một số chứng bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường
vẫn có tỷ lệ cao: bệnh hô hấp 3-5%, tai mũi họng 68-69% [24].
Theo nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngân và cộng sự (2011) về ảnh hưởng
của môi trường lao động và điều kiện lao động tới SK công nhân xây dựng, cho kết
quả như sau: CN có SK đạt loại II và III chiếm chủ yếu, trong đó loại II chiếm tỷ lệ
cao nhất (57,3%); 10,6% có vấn đề về tim mạch - huyết áp; 16,4% có bệnh về mắt.