Đặc điểm tự nhiên, đất đai các vùng đất ngập nước khu vực cửa sông ở việt nam - Pdf 33

I. Khái niệm về các vùng ĐNN
Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những đặc
điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau. Diện tích đất đều được bao
phủ một lớp nước nông hoặc đất bão hoà nước, tồn trữ chất hữu cơ thực vật phân
huỷ chậm, và nuôi dưỡng rất nhiều loài động thực vật thích ứng với điều kiện bão
hoà nước. Thuật ngữ ĐNN được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ theo quan
điểm, các vùng khác nhau chấp nhận các định nghĩa khác nhau. Hiện nay có
khoảng 50 định nghĩa về ĐNN. [1]
Theo công ước RAMSA1971: ĐNN là những vùng đầm lầy, sình lầy, vùng
than bùn hoặc vùng nước bất kể tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời,
với nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ, hay nước mặn, bao gồm cả vùng
biểncó độ sâu không quá 6 mét khi thuỷ triều thấp.
ĐNN được hiểu là bãi lầy thuỷ triều, rừng ngập mặn ảnh hưởng của thuỷ
triều, đầm lầy trồng đước và vùng đầm lầy. Vùng ĐNN ven bỉên có ý nghiac cực
kỳ quan trong đối với cuộc sống ven biển. (Robert B. Ditton và cộng sự, 1943).
Ở Việt Nam có nhiều cách gọi tên ĐNN: Đất ướt, đất trũng úng. Ngoài thuật
ngữ ĐNN được sử dụng chính thức trong nghị định 109/2003/NĐ – CP ngày 23
tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn phát triển bền vững các vùng đất ngập
nước. Nhìn chung thuật ngữ trên đều chỉ nền đất bị ngập nước theo chế độ mà mức
ngập nước khác nhau. Một trong 3 thuộc tính mà ĐNN phải có (Nguyễn Bá Long,
2003).
a. Có thời kỳ trong năm thích hợp với các loài thuỷ sinh vật.
b. Đất hầu như không bị khô hoặc chỉ khô trong một thời gian nhất định.
c. Nền đất không có cấ trúc rõ rệt hoặc bão hoà nước hoặc bị ngập nước ở
mức cạn một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hằng năm của sinh vật.

1


II. Đặc điểm tự nhiên, đất đai các vùng đất ngập nước khu vực cửa sông ở
Việt Nam.

lớn như hồ Thác Bà có diện tích mặt nước 23.400 ha, hồ Hoà Bình có diện tích 218
Km2, Hồ Dầu tiếng có diện tích 35 000 ha, hồ Trị An 27.000 ha (Nguyễn Viết Phổ,
Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân, 2003).
Thổ nhưỡng: Có 15 nhóm đất chính trong đó có 7 nhóm đất liên quan đến
các đặc trưng của vùng ĐNN, đó là đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất glây, đất xám
và đất cát. Do dặc điểm khác nhau về địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành
các đặ trưng về thực vật của các vùng ĐNN với 2 dạng điển hình là là thực vật
vùng ĐNN mặn và thực vật vùng ĐNN ngọt. [3].
2.1 Đất ngập nước vùng cửa sông đồng bằng Sông Hồng.
a. Đặc điểm tự nhiên.
Vùng đồng bằng Sông Hồng có diện tích 65.326 Km2, dân số là 9 triệu
người trong đó dân số đô thị là 1,7 triệu. Đây là vùng đất màu mỡ được hình thành
do sự bồi đắp phù sa của các sông nhánh cận Bắc và cận Nam của sông Hồng và
một hệ thống phức tạp chảy ra vịnh Bắc Bộ qua 9 cửa sông [1].
Theo bản đồ ĐNN của vùng cửa sông ĐBSH (Phân viện Điều tra quy hoạch
Rừng Nam Bộ và hội Khoa học đất Việt Nam, 2004), diện tích ĐNN ở vùng này là
229.762 ha (chiếm 76.01% diện tích tự nhiên). Trong đó diện tích ĐNN mặn là
125.389 ha gồm 22.487 ha ĐNN ven biển và 102.482 ha ĐNN ven sông, phân bố
chủ yếu ở các cửa sông: Nam Triệu, sông Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Ba
Lạt, Lạch Giang, Cửa Đáy và loại hình sử dụng đất chính ở đây là sản xuất nông
lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích ĐNN ngọt là 103.373 ha với các loại
hình sử dụng đất chính là canh tác nông nghiệp.
ĐNN vùng cửa sông Hồng giới hạn bởi cửa Lân ở phía Bắc và cửa Phú Hải ở
phía Nam, qua các xã Xuân An, Giao Thiện (Nam Định) và xã Nam Phú (Thái
Bình). Cửa sông có các bãi triều rộng lớn có rừng ngập mặn phát triển và là nơi cư
trú của các loài chim nước vào mùa đôn, là nơi cung cấp các nguồn giống, tôm cá
và là nguồn lợi thuỷ sản rất lớn.
3




chi 3 họ thuộc ngành ráng số còn lại thuộc ngành hạt kín trong đó có 25 họ, 57 chi,
68 loài thuộc lớp hai lá mầm.
Có khoảng 25 loài thích ứng với điều kiện sống ngập nước và loại hình đất
lầy thụt tạo nên trên 3000 ha rừng ngập mặn trải dài trên các giồng cát ở Cồn Lu
có gần 100 ha rừng phi lao.
- Theo điều tra bước đầu của Birdlife international ở Vườn quốc gia Xuân
Thuỷ đã gặp 219 loài chim thuộc 41 họ 13 bộ. Khu hệ chim ở đây tiêu biểu là các
loài bộ Hạc, bộ Ngỗng, bộ Rẽ và bộ Sẻ.
- Trong 13 bộ chim ở khu vực, Bộ Sẻ chiếm số lượng nhiều nhất tới 40% sau
đó là bộ Rẽ ,bộ Hạc ,bộ Sếu và bộ Sả . Bộ Chim Lặn chỉ có hai loài . Nếu so sánh
với Danh lục các loài chim Việt Nam ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có:
+ 219 loài bằng 26,5 % của tổng số loài chim cả nước 828 loài
+ 41 họ bằng 50,61 % tổng số họ chim cả nước 81 họ
+ 13 bộ bằng 68,42% tổng số bộ chim cả nước 19 bộ
Như vậy sự đa dạng của khu hệ chim ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ là tương
đối cao nếu so sánh với Vườn quốc gia khác .
- Các sinh cảnh chính thường gặp là : rừng ngập mặn (64,6% ), bãi sậy và cói
( 67,4 %), bãi bồi và cồn cát trống (55,1%) ,rừng phi lao (42,2%).
- Những loài chim quý hiếm được ghi vào sách đỏ quốc tế thường gặp là : Cò
thìa ( Platalea minor,P.leucorodia) ,Bồ nông (Penecanus philippensis) ,Cò trắng
Trung quốc (Egretta eulophotes) ,Mòng bể mỏ ngắn (Larus saundersi), Choắt đầu
đốm ( Tringa guttifer ) ,Choi choi mỏ thìa ( Erynorhynchus pygmeus),Choắt chân
màng lớn (Limodromus semipalmatus), Te vàng (Vanellus cinereus)
- Hai loài Cò thìa và Mòng bể mỏ ngắn được coi là đỉnh của chuỗi dinh
dưỡng đã có mặt khá đông ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ . Có thời điểm loài Cò thìa
đã chiếm tới 20 % số cá thể còn lại của thế giới . Loài Choi choi mỏ thìa là loài cực
hiếm ,hầu như chỉ có thể thấy ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ . Có lúc đã phát hiện
trên 20 cá thể . Những năm gần đây chỉ còn thấy dăm ba cá thể vào mùa di trú.
5

6


Theo số liệu của Sở thuỷ sản, mùa khô 1996 có kết quả thu mẫu của 37 loài
thuộc 4 ngành tảo như sau :
Ngành tảo Silic (Bacillariophyta) : 15 chi, 27 loài , chiếm 73%
Ngành tảo Giáp ( Pirophy) : 2 chi, 4 loài, chiếm 10,8 %
Ngành tảo Lam (Cyanophyta) : 2 chi; 3 loài, chiếm 8 %
Ngành tảo lục ( Chlorophyta) : 3 chi, 3 loài, chiếm 8 %
Hai chi có số loài cao thuộc ngành tảo Silic, các chi còn lại chỉ chiếm từ 1
đến 2 loài .
Kết quả thu mẫu mùa mưa ( '96) được 40 loài theo tỷ lệ :
Ngành tảo Silic : 15 chi, 3 loài , chiếm 75%
Ngành tảo Giáp : 1 chi, 5 loài, chiếm 12,5 %
Ngành tảo Lam : 2 chi; 2 loài, chiếm 2 %
Ngành tảo lục

: 3 chi, 3 loài, chiếm 7,5 %

Số tảo Giáp, Lục, Lam không có giá trị làm thức ăn cho thuỷ hải sản chiếm
25 % tổng số loài .
Mặc dù số loài phát hiện ở trên còn thấp nhưng lại có mặt nhiều loài ưu thế ở
vùng cửa sông ven biển , ngành tảo Silic chiếm tỷ lệ lớn tạo lên sinh khối lớn làm
thức ăn phong phú cho các loài động vật thuỷ sinh .
Mật độ tế bào trung bình trong mùa mưa và mùa khô là : Mùa mưa :
140.370 tế bào /m3 nước, mùa khô : 2.275.644 tế bào /m3 nước . Như vậy có sự
chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa .Mùa khô mật độ tế bào cao gấp 16 lần
mùa mưa. Đặc biệt là tảo Thalassiothrix có mật độ cá thể cao và xuất hiện phổ biến
ở tất cả các Trạm thu mẫu .
Động vật nổi : Đóng vai trò quan trọng vùng cửa sông Hồng bao gồm 165

trùng , nhuyễn thể ở giai đoạn bám , ấu trùng giáp xác sống đáy với kết quả như
sau : Mùa khô: 2.400 cá thể/m3 nước (trung bình). Mùa mưa: 450 cá thể/m 3 nước
(trung bình)
Cá : Vào những năm 1980 đã thống kê được 156 loài, năm 2002 điều tra sơ
bộ thấy 107 loài thuộc 12 bộ, 44 họ, có trên 40 loài cá có giá trị kinh tế sản lượng
8


cá đạt khoảng 4000 tấn/năm. Một số loài có giá trị cao như : Cá Vược (Lates
calcarifer), Cá bớp (Bostrichthys sinensis), Cá đối (Mugil nepalensisreus). Cá dưa
(Muraenesox cinereus), Cá nhệch (Pisoodonophifboro), Cá Tráp (Taius tumifrons)
...
Về mặt số lượng các loài cá trên chiếm tỷ lệ khá lớn . Tuy nhiên thời gian
gần đây bị suy giảm do bị khai thác quá mức. [4]
Khu hệ động vật rừng ngập mặn thuộc vườn Quốc gia Xuân Thuỷ và Việt
Nam nhìn chung còn ít được biết đến và thống kê. Ví dụ các loài đang có nguy cơ
đe doạ trên toàn cầu như Rùa biển (bao gồm Rùa xanh (Chelonia mydas) và các
loài thú như Mèo cá (Prionailurus viverinus), Rái cái vuốt bé (Aonyx cinerea) được
ghi nhận là đã từng xuất hiện ở vườn Quốc gia, tuy nhiên cũng chưa đủ căn cứ để
xác định sự biến mất của các loài này có phải là do tình trạng săn bắn quá mức của
con người hay không. [5].
c. Giá trị và ý nghĩa vùng ĐNN cửa sông đồng bằng Hồng.
Duy trì và phát triển hệ sinh thái thực vật ngập mặn đồng thời duy trì và phát
triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản. Thực vật ngập mặn ở đây phát triển
thành rừng, đem lại những giá trị gián tiếp vô cùng to lớn về điều hoà vi khí hậu,
hấp thụ chất ô nhiễm và khả năng tự làm sạch môi trường. Duy trì nguồn gen đa
dạng của sinh vật thuỷ sinh, điều chỉnh tiến hoá trầm tích và thành tạo bão triều.
Vùng ĐNN cửa sông đồng bằng sông Hồng còn là Ngư trường lớn cho nghề cá,
tôm ven bờ; là bãi thân mềm hai vỏ có giá trị khai thác cao như Ngao vân, Ngao
dầu, Hầu sông, Sò, Ngó, Móng tay…Tổng diện tích bãi ngao khoảng 15 000 ha

thường xuyên, canh tác nông nghiệp; ĐNN mặn không thường xuyên, nuôi trồng
thuỷ sản. Các dải rùng ngập mặn phân bố dọc theo ven biển, ở những bãi bồi ngập
mặn, có vai trò rất lớn trong hệ sinh thái ĐNN ven biển, nhưng hiện nay diện tích
rừng ngập mặn đã và đang bi suy thoái giảm đi rất nhiều về số lượng và chất lượng.
[2]
ĐNN mặn cửa sông phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông Cửu Long thụoc địa
bàn tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thuộc các dạng
10


ĐNN không thường xuyên, canh tác nông nghiệp và ĐNN mặn không thường
xuyên nuôi trồng thuỷ sản.
b. Đa dạng sinh học.
* Đa dạng sinh học Mũi Cà Mau:
Hệ thống động thực vật phong phú: Có 13 loài thú thuộc 9 họ trong đó 2 loài
được ghi trong sách đỏ của IUCN là hỉ đuôi dài (Macaca fasciculalis), Cà khu
(Trachypithecut cristatus) và 4 loài có trong sách đỏ Việt Nam: 74 loài chim thuộc
23 họ (5 loài có trong sách đỏ IUCN, 7 loài trong sách đỏ Việt Nam), 28 loài di cư
trong đó có các loài quý hiếm như: có Trung Quốc (Egretta eglophotes), Bồ nông
chân xám (Pelicanus philippensis), Giang sen (Ibis leucocepphalus)…có 17 loài bò
sát thuộc 9 họ trong đó có 2 loài thuộc sách đỏ Việt Nam. Lưỡng cư có 5 loài thuộc
3 họ. Tất cả các loài ưu thế của rừng ngập mặn đều có mặt ở đây, 22 loài đã được
phát hiện tại cồn Cửa Ông Trang. Quần xã thực vật ngập mặn chủ yếu gồm rừng tái
sinh tự nhiên của Đước, Vẹt và Mắm thuần chủng. [3].
* Đa dạng sinh học tại khu bảo tồn ĐNN Láng Sen.
Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, với tổng diện tích 5.030 ha, được xem
như một bồn trũng nội địa thuộc vùng trũng rộng lớn Đồng Tháp Mười, tỉnh Long
An. Với hình thái địa mạo đa dạng và là vùng sinh thái tiêu biểu cho kiểu đầm lầy
ngập nước. Sự duy trì thảm thực vật ven sông, đồng cỏ tự nhiên ngập nước theo
mùa, đầm lầy và gia tăng diện tích tràm trồng đã làm phong phú quần thể động

hoặc dây bò: 8 loài; Ký sinh: 2 loài
Phiêu sinh vật: Theo kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần phiêu sinh trong
vùng không nhiều với Cyanophyta: 2 loài, Chlorophyta: 14 loài, Bacillariophyta: 8
loài. Có thể việc giới hạn về thời gian và số mẫu nghiên cứu nên chưa thể hiện
được số liệu chính xác thành phần phiêu sinh vật đang hiện diện trong vùng.
Thủy sản: Do trong đợt khảo sát mực nước trên đồng khá cao nên chưa thể
tiến hành thu mẫu, kết quả thu được do điều tra các hộ tại địa phương. Các loài điều
tra được gồm có: cá trạch, thát lát, cá rô, cá linh, cá mè, lóc, lia thia đồng, cá chốt,
cá lìm kìm, cá trê, lươn, ếch, rắn (3 loài), rùa, tôm.
12


Ngoài ra, một số loài thực vật thủy sinh khác đã phát hiện như: Marsilea
quadrifolia, Ceratopteris siliquosa, Salvinia cucullata, Lemna tenera, Eriocaulon
sp., Limnophylla heterophylla, Najas sp., Blyxa sp., Valisneria gigantia, Rotala
wallichii, Myriophyllum tetandrum, Hydrilla verticilata.
Động vật: Để có thể ghi nhận được nhiều thông tin về động vật, nhóm nghiên
cứu đã dùng phương pháp phỏng vấn dân địa phương kết hợp với khảo sát thực tế
(đối với lớp Chim, phỏng vấn thông qua hình ảnh), có 128 loài động vật có xương
sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen; trong đó: lớp Lưỡng thê:
4 loài; lớp Bò sát: 17 loài; lớp Chim: 101 loài; lớp Thú: 6 loài
Theo Buckton, Cu, Tu and Quynh (1999) thì qua 2 đợt khảo sát thực địa
trong năm 1999, các tác giả đã phát hiện được 61 loài chim ở Láng Sen. Trong 61
loài này, có 21 loài không nằm trong danh sách 101 loài chim được trình bày ở
bảng trên. Như vậy, tổng số các loài chim phát hiện được qua các đợt điều tra, bằng
cách kết hợp các phương pháp khác nhau, đã lên đến 122 loài và tổng số các loài
động vật có xương sống (không kể cá) lên đến 149 loài, trong đó có 13 loài có
trong Sách Đỏ Việt Nam. [6]
Đầu năm 2004, khu vực này đã được quyết định chính thức trở thành Khu
Bảo Tồn Đất Ngập Nước Láng Sen, được chọn làm một trong hai điểm trình diễn

ở các nhóm cá, giáp xác thân mềm, rong biển và cỏ biển. Các loài điển hình như:
Cá Đối mục (Mugil cephalus), cá Mòi chấm (Clupanodon pustatus), tôm Rảo
(Metapenaeus ensis), tôm Sú (Penaeus monodon), Sò (Arca), Ngao (Meretrix)…
Một số loài rong có giá trị như Rong câu chỉ vàng (Glacilaria tenuistipitata) và một
số loài cỏ biển có sinh khối lơn được khai thác làm thức ăn gia súc, phân bón. Ở hệ
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có 37 loài động vật đáy thuộc các nhóm giun nhiều
tơ (Polychaeta), giáp xác, thân mềm, trong đó thân mềm chiếm mật độ cao nhất,
tiếp đến là giáp xác. Trữ lượng rong câu mảnh tại đây có thể đạt 5000 tấn khô/năm,
mật độ rong mái chèo (Valisneria spiralis) 3,6 – 10,2 Kg tươi/m2.
tài nguyên phi sinh vật: Loại tài nguyên này không ớn nhưng đa dạng với các loại
khoáng sản như sa khoáng (Ziron, Ilenit), cát xây dựng. Ở nhiều đầm phá có cát
14


màu trắng được khai thác và sử dụng làm nguyênliệu thuỷ tinh như điểm cát trắng
Phú Xuân (phá Tam Giang - Cầu Hai) có trữ lượng khoảng 8 triệu m3.[3]
c. Giá trị và ý nghĩa các vùng đất ngập nước đầm phá miền Trung.
Đến nay xét về mặt ĐDSH và các chức năng sinh thái, 5 đầm phá ven biển
có thể được coi là các vùng ĐNN quan trọng của Việt Nam. Đó là đầm Ô Loan
(Phú Yên), đầm Thị Nại và Đề Gi (Bình Định), Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) và đầm
Nại (Ninh Thuận). Đây là các khu vực có nguồn gen ĐDSH cao nhất đồng thời có
ý nghĩa trong phát triển kinh tế xã hội trong khu vực.
III. Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản tại các bãi bồi và vùng ngập nước ven
biển Việt Nam.
3.1 Những thuận lợi trong việc áp dụng các mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở
Việt Nam.
Theo định nghĩa FAO thì NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng
thuỷ sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh…quá trình này bắt đầu từ
thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong. Có thể nuôi tùng cá thể
hay quần thể với nhiều hình thức nuôi theo mức độ thâm canh khác nhau như

nuôi như: tôm Sú, tôm Lớt, tôm He, tôm Rảo, tôm Mương, tôm Hùm, tôm Bông,
tôm Càng Xanh.
- Về nhuyễn thể: Có một số loài chủ yếu; Trai, Hầu, Diệp, Nghêu, Sò, Ốc,...
- Về rong tảo: Với 90 loài có giá trị kinh tế trong đó đáng kể là Rong câu (11
loài), rong Mơ, rong Sụn...[8]
c. Khí hậu, thời tiết.
Khí hậu Việt Nam nói chung chịu sự ảnh hưởng của đới khí hậu nhiệt đới gió
mùa ẩm, song mỗi miền lại có các đặc trưng khác nhau.
- Miền Bắc: Nhiệt dộ trung bình không khí từ 22,2 – 23,5 0C, lượng lưa trung
bình từ 1.500 – 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 – 1.750 giờ/năm. Mùa mưa từ
tháng 6 đến tháng 8 và là vùng chịu ảnh hưởng của bão xuất hiện sớm trong cả
nước. Vùng này là vùng thuộc chế độ nhật triều với biên độ 3,2 – 3,6 m.
16


- Miền Trung: Nhiệt độ trung bình trong năm từ 25,5 – 27,5 0C, mưa tập trung
vào cuối tháng 9 đến tháng 11, năng nhiều, từ 2.300 – 3.000 giờ/năm. Chế độ thuỷ
triều gồm nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm phá thích hợp nuôi trồng thuỷ
sản.
- Miền Nam: Khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình trong năm
từ 22,6 – 27,6 0C. Nưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Lượng lưa trung bình từ
1.400 – 2.400mm/năm, số giờ nắng trên 2.000 giờ/năm. Vùng này có chế độ thuỷ
triều chủ yếu là bán nhật triều với biên độ 2,5 – 3 m.(Khí tượng NN)
Nhiệt độ ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của các loài thuỷ
sinh: Hô hấp, tiêu thụ thức ăn, đồng hoá thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự
tăng trưởng..Nhiệt độ thay đổi theo khí hậu mỗi mùa. Do đó tại miền Nam có thể
nuôi tôm quanh năm trong khi miền Bắc chỉ khai thác được vào mùa nóng.[9], [10]
Vũ Thế Trụ (1993): Nhiệt độ thích hợp cho tôm loại Penaeus spp tại các ao
hồ vùng nhiệt đới khoảng 28 – 300C. Tôm Sú có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới
280C nhưng tôm lớn tương đối chậm, trên 30 0C tôm lớn nhanh hơn nhưng dễ mắc


2005
2.550.000

Theo bảng trên ta thấy: Số lượng lao động trong ngành NTTS tăng dần qua
các năm. Điều này thẻ hiện rõ khả năng thu hút lao động do hiệu quả kinh tế và giải
quyết việc làm của ngành sản xuất này. Bên cạnh số lượng tăng lên, chất lượng lao
động ngày càng được cải thiện, đây là động lực quan trọng để thực hiện thắng lợi
chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
3.2 Một số mô hình nuôi trồng thuỷ sản ven biển và vùng bãi bồi ngập nước.
3.2.1 Nuôi quảng canh (QC).
Mô hình này phổ biến nhất ở các khu vực có rừng ngập mặn, với mô hình
tôm - rừng kết hợp, đặc biệt là các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Là hình thưc nuôi dựa
hoàn toàn vào thức ăn tự nhiên trong đầm, ao. Mật độ thả tôm thường thấp, 5 – 7
con/m2/ (vụ 1) và 1 – 1,5 con/m2 (vụ 2) [13]. Do lệ thuộc vào nguồn giống tự nhiên,
diện tích ao nuôi thường từ 3 – 40 ha (đầm nuôi). Ưu điểm là vốn vận hành và chi
phí thấp vì không tốn chi phí thả giống và thức ăn, kích cỡ tôm thu hoạch lớn, giá
bán cao, cần ít lao động cho một đơn vị sản xuất và thời gian nuôi không dài do
giống đã lớn. Nhược điểm là năng suất và lợi nhuận thấp, cần diện tích ao nuôi lớn
để tăng sản lượng nên vận hành và quản lý khó, nhất là các ao đầm tự nhiên có hình
dạng rất khác nhau.
Bảng 2: Các thông số kỹ thụât và kinh tế cơ bản của mô hình nuôi tôm QC.
Diện tích (ha)
Tỷ lệ rừng/tôm

3 – 40.
50 – 50/70 – 30.
Tự nhiên, có thả thêm ít tôm Sú giống

Con giống

1,23
(Nguồn: Số liệu điều tra của Khoa Thuỷ sản, ĐH Cần Thơ, 2003)
Nhìn chung, Kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi quảng canh khá đơn giản, mức
độ đầu tư không cao, người dân có thể áp dụng được. Tuy nhiên mô hình này đòi
hỏi về diện tích khá lớn và khó kiểm soát môi trường nước trong vuông nuôi. [14]
3.2.2 Mô hình nuôi quảng canh cải tiến (QCCT).
Hiện nay hai mô hình được áp dụng khá phổ biến ở ĐBSCL là mô hình nuôi
quảng canh (68%) và mô hình nuôi quảng canh cải tiến (27%). Do nguồn giống tự
nhiên ngày càng giảm nên nhiều nguời nuôi tôm theo mô hình quảng canh dần
chuyển sang quảng canh cải tiến trong những năm gần đây. Mo hình canh tác này
không chỉ được áp dụng ở những ao nuôi chuyên tôm mà còn ở những vuông nuôi
trong rừng ngập mặn (tôm - rừng riêng biệt) hoặc những ao nuôi kết hợp trồng rau
màu ngắn ngày. Trong mô hình này ngoài việc bổ sung tôm sú giống nhân tạo,
người dân còn bổ sung thêm thức ăn cũng như bón vôi và phân cho ao/vuông
nuôi.Về hiệu quả kinh tế, mô hình này có mức đầu tư thấp nhưng lợi nhuận và hiệu
quả sử dụng vốn khá cao (B/C: 2,1) nên cung kích thích người dân chuyển sang
nuôi quảng canh cải tiến. Tuy vậy mô hình này cũng gặp trở ngại về bệnh tôm
thường xảy ra nên rỉ ro của mô hình này thường cao hơn mô hình tôm - rừng - cua.
Các thông số về kinh tế và kỹ thuật của mô hình nuôi quảng canh cải tiến được
trình bày như bảng dưới. [14]
19


Bảng 3: Các thông số về kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi tôm QCCT.
Diện tích (ha)
Diện tích mặt nước.
Con giông

1–3
60 – 70%

biển Việt Nam. Trong năm 2003, diện tích nuôi tôm thâm canh là 15.534 ha và bán
thâm canh là 20.116 ha (Bộ Thuỷ sản, 2003). Trong đó diện tích nuôi tôm TC –
BTC của các tỉnh ven biển ĐBSCL khoảng 17.000 ha, chiếm 46,8% diện tích nuôi
tôm TC – BTC của cả nước. Chủ yếu ở các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh,
Bến Tre và Cà Mau. Các thông số về kỹ thuật và kinh tế của mô hình được trình
bày như trong bảng sau.
Bảng 4: Các thông số về kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi tôm TC – BTC
ở ĐBSCL:
Diện tích (ha)
Diện tích mặt nước(%).
Con giống
Mật độ (con/m2)
Mùa vụ thả nuôi
Cách chăm sóc
Sử dụng vôi, phân

1–4
60 – 75%
Tôm sú giống nhân tạo (PL15)
15 – 45
Tháng 1 – 5 (vụ 1), tháng 6 – 10 (vụ2)
Sử dụng 100% thức ăn công nghiệp.
Có sử dụng
20


Hoá chất & men vi sinh
Có sử dụng
Tỷ lệ sống
39% (vụ 1) và 27% (vụ 2)

Diện tích (ha).
Diện tích mương bao (%).
Con giống.

3–5.
25 - 30 .
Tôm sú giồng nhân tạo (PL15), cua khai
thác từ tự nhiên. (CW: 0,5 – 3,7cm) và
21


tôm cá tự nhiên.
Mật

độ

tôm

nuôi

bình

quân

(con/m2).
Mùa vụ thả nuôi.
Mật độ cua (con/m2).
Mùa vụ thả nuôi.
Cách chăm sóc.
Sử dụng vôi, phân.

3.2.5 Mô hình tôm – lúa luân canh.
Đây là mô hình đặc thù của những vùng có tính nhiễm mặn theo mùa (mùa
khô) ở các tỉnh thuộc ĐBSCL. Hiện nay mô hình này phát triển khá nhanh từ 3.000
ha (năm 1999) lên đến 118.000 ha (Lư, 2001), đặc biệt các vùng vừa chuyển đổi từ
canh tác 1 lúa không hiệu quả sang tôm – lúa luân canh như Cà Mau, Bạc Liêu,
Kiên Giang. Nét đặc thù của mô hình này là tôm sú được thả nuôi trong mùa khô
theo phương thức quảng canh cải tiến (khi nguồn nước trên sông bị nhiễm mặn) và
việc canh tác lúa được thực hiện trong mùa mưa (nước ngọt). Một số thông số kỹ
thuật và kinh tế được trình bày như bảng dưới. [14]
22


Bảng 6: Một số thông số kỹ thuật và kinh tế của mô hình nuôi tôm – lúa
luân canh.
Diện tích (ha).
1–2.
Diện tích mương bao (%).
25 – 30% .
Mực nước trên mặt ruộng .
25 – 30 cm.
Con giống.
Tôm sú giồng nhân tạo (PL15).
2
Mật độ (con/m ).
2 – 5.
Mùa vụ thả nuôi.
Tháng 1 – 5.
Cách chăm sóc.
Bổ sung thức ăn viên hoặc tự chế.
Sử dụng vôi, phân.


Trong 50 năm trở lại đây Việt Nam bị mất hơn 80% rừng ngập mặn. Phong
trào nuôi tôm là một trong những xu hướng nổi trội nhất dẫn dến phá rừng ngập
mặn. Vùng ĐBSCL, Hải Phòng, Quảng Ninh là những vùng có diện tích rừng ngập
mặn bị mất nhiều nhất. Những nguyên nhân khác là chuyển đổi đát nông nghiệp
thành đất xây dựng, chiến tranh tàn phá và khai thác củi đun.
Trong 3 thập lỷ gần đây nhất từ 1960 đến 1995, ở Quảng Minh và Hải Phòng đã có
khoảng 40 ngàn ha rừng ngập mặn bị biến mất. Hiện cả hai tỉnh này chỉ còn khoảng
15.700 ha rừng ngập mặn . [17]
Theo bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2004) tổng diện tích ĐNN ở Việt
Nam là khoảng hơn 10 triệu ha. Trong 15 năm qua diện tích ĐNN tự nhiên giảm đi,
diện tích ĐNN nhân tạo tăng lên.
Các khu rừng ngập mặn tự nhiên ven biển đã mất dần, thay vào đó là các
đầm nuôi thuỷ sản, các công trình du lịch và một số ít diện tích rừng trồng. Diện
tích rừng ngập mặn đã giảm đi 183.724 ha trong suốt 20 năm qua (từ năm 1985).
Trong khi diện tích nuôi trồng thuỷ sản đã tăng lên 1.1 triệu ha vào năm 2003.
Các khu rừng Tràm tự nhiên và các trảng cỏ ngập nước theo mùa ở Đồng Tháp
Mười cũng mất dần, thay thế vào đó là diện tích khai hoang trồng lúa và các khu
rừng trồng tràm.
Diện tích ĐNN ven biển năm 1982 là 494.000 ha, đến năm 2000 là 606.792
h, do mở rộng diện tích nuôi tôm (Đỗ Đình Sâm và nnk, 2005).
Diện tích khu cửa Bạch Đằng giảm từ 64.169 ha (năm 1934) xuống 30.729 ha (năm
1977): ĐNN triều tự nhiên của sông ven biển vùng ĐBSCL là 1.473.889 ha (năm
1995) xuống 1.409.289 ha (năm 1999). Năm 1976, diện tích deo trồnglúa ở ĐBSCL
là 2.062.000 ha, đến năm 2004 tăng lên 3.815.000 ha (Nguyễn Sinh Cúc, 205).
Diện tích đất than bùn vùng U Minh năm 1990 khoảng 90.000 ha, đến nay (2005)
còn khoảng 12.000 ha (Phân viện điều tra quy hoạch Rừng Nam Bộ). [2]
4.2 Biến động về chất lượng môi trường.

24

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status