BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KC10/06-10
“NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ
BẢO VỆ CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG”
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG
CHỐNG BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN Ở VIỆT NAM
(MÃ SỐ KC10.26/06-10)
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Tây Nguyên
Chủ nhiệm đề tài: TS. Đặng Thị Cẩm Thạch
Hà Nội - 2010
nghìn, gia tăng sự
phức tạp trong công tác phòng chống bệnh tại Việt Nam.
Diễn biến bệnh SLGL tại Việt Nam phức tạp do các yếu tố cấu thành
2
vòng đời của sán rất phổ biến. Nguồn bệnh quan trọng lưu cữu trong kho
tàng “vòng đời khép kín của gia súc (chủ yếu gia súc nhai lại) ở nước ta”. Gia
súc mang trùng hoặc được chăn thả tự do hoặc bán thả, thường xuyên thải
trứng sán ra ngoài môi trường ; vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt
thuộc họ Limnaea (L. swinhoiei và L. viridis), phân bố rộng rãi trong cả nước,
đặc biệt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi có khí hậu nhi
ệt đới điển hình, sinh
thái thực vật thủy sinh trù phú; người dân với tập quán ăn sống các loại rau
thuỷ sinh như rau ngổ, rau cần, rau cải xoong, rau muống nước…, có nguy cơ
nhiễm sán rất cao tham gia vào vòng đời của sán một cách “tình cờ”. Những
yếu tố dịch tễ học này cảnh báo một tình huống lâu dài chung sống với sán lá
gan lớn. Hơn nữa, khác với mô tả bệnh kinh điển ở châu Âu (do F.hepatica),
chủ
ng SLGL gây bệnh ở nước ta là F.gigantica.
Từ 1997, các nghiên cứu về SLGL ở Việt Nam bắt đầu được trú trọng, tuy
nhiên thường giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực hoặc phạm vi hẹp; trong
khi đó diễn biến bệnh ngày càng phức tạp. Nhằm có nghiên cứu tổng thể, trên
phạm vi rộng để có phác đồ phòng chống bệnh chung cho ngành, Bộ Khoa
học Công nghệ và Bộ Y tế đã đặt hàng đề tài “Đặ
c điểm dịch tễ học và biện
pháp phòng chống bệnh sán lá gan lớn ở Việt Nam” với 2 mục tiêu chính:
1. Đánh giá hiện trạng về dịch tễ học của bệnh SLGL ở nước ta.
2. Xây dựng mô hình dự phòng và điều trị hiệu quả bệnh sán lá gan lớn.
3
Hình 01-01. Hình thể trứng sán lá gan lớn
Sức đề kháng: Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động
trực tiếp của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển,
trứng bị chết sau 8-9 ngày. Trong điều kiện khô hạn, trướng bị biến dạng, vỏ
trứng nhăn nheo, ấu trùng lông trong vỏ trứng bị chết sau 1-1,5 ngày. Ở môi
trường ẩm ướt, trứ
ng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn
tại đến 8 tháng). Dưới ánh nắng trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2
ngày ở nhiệt độ thấp (-5 đến -15
o
C). Nhiệt độ 10 – 20
o
C, trứng ngừng phát
triển. Tại nhiệt độ 40 – 50
o
C, phôi chết sau vài phút [33], [34], [117].
Hình 01-02. Hình thể ấu trùng Miracidium sán lá gan lớn
5
Ấu trùng:
Ấu trùng lông (Miracidium): khi còn ở trong trứng, ấu trùng lông có
kích thước nhỏ (nhỏ hơn khi đã thoát vỏ), bọc trong một lớp màng, túi tinh
chưa hình thành, hình thái nhìn chung giống như khi đã chui ra ngoài.
Cấu tạo: ấu trùng lông có lớp lông ở xung quanh, nhờ vậy chúng có khả
năng bơi lội trong nước cho tới xâm nhập được vào ốc hoặc chết.
Ấu trùng lông gồm có túi tinh ở phía đầu, hai bên có tuyến đỉnh. Cơ quan
bài tiết được tạo thành từ m
ột đôi tế bào ngọn lửa và các ống dẫn. Tế bào hình
Hình 01-04. Hình nang rediae sán lá gan lớn
Thời gian càng dài thì kích thước rê-đi càng lớn, sau 35 ngày kể từ khi
nhiễm ấu trùng lông, đạt kích thước trung bình: thân: 1,48 x 0,2 mm; ruột
0,68 x 0,121 mm, hầu: 0,077 x 0,063 mm.
7
Ấu trùng đuôi (Cercariae): là dạng ấu trùng sống tự do của sán lá gan
lớn, được phát triển từ rê-đi, cấu tạo gồm thân và đuôi. Ấu trùng đuôi còn non
phần thân dài hơn, khi già phần đuôi dài hơn.
Ấu trùng đuôi đã mang phần nào những đặc điểm cấu tạo của sán lá
trưởng thành cơ quan bám bám gồm giác miệng và giác bụng, ống tiêu hoá có
lỗ miệng, hầu gồm hai mảnh hình hạt đậu. ruột gồm nh
ững tế bào tròn xếp sát
nhau hình thành nên; hai bên thân có các tế bào hình trứng xếp thành hai
đường chạy từ cuối giác miệng đến núm đuôi; ngoài ra, trong cơ thể còn có
những hạt nhỏ sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho hoạt động của ấu trùng
(hạt glycogen).
Hình 01-05. Hình nang cercariae sán lá gan lớn
Nang ấu trùng
(Metacercariae): được hình thành từ ấu trùng đuôi,
trong giai đoạn này ấu trùng không còn đuôi và tạo thành nang, hình cầu,
kích thước nang kể cả màng ngoài 0,208 - 0,291 mm; trung bình 0,244
mm. Kích thước nang đo theo màng trong là 0,177 - 0,250 mm; trung bình
0,203 mm.
8
Hình 01-06. Hình thể nang ấu trùng sán lá gan lớn
dục cái bao gồm một buồng trứng duy nhất kết nối với ống dẫn tr
ứng. Ống
dẫn trứng nối với vài ống hoặc ống noãn hoàng. Ống dẫn trứng nối tiếp với
ootype rồi được bao quanh bởi một khối tuyến ngoại tiết (tuyến Mehlis). Tử
cung nằm ở cuối của ootype. Sự tự thụ tinh hiếm khi xảy ra trong các loài sán
lá. Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lớn lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh, trong cơ thể sán có cả cơ quan sinh d
ục đực và cái. Hệ
thống sinh dục rất phát triển, tử cung sán chứa đầy trứng. Sán có giác bụng và
giác miệng, giác miệng đóng kín và không nối với cơ quan tiêu hóa. Sán
không có hệ thống tuần hoàn, hô hấp và cơ quan thị giác, hệ bài tiết ở cuối
thân [10], [33].
SLGL có cả những loại sinh tinh bất thường (abnormal spermatogenic type
(AST) bao gồm nhiễm sắc thể nhị bội (diploid form), tam bội (triloid form ) và
đa bội mà không thụ tinh và loại sinh tinh bình thường (normal spermatogenic
type (NST) của Fasciola spp
được tìm thấy ở một số quốc gia châu Á như Trung
Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Nepal, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. AST xảy ra
10
đặc biệt ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại vùng Đông Nam Á, loài sán có loại AST
cùng khu vực phân bố với NST F.hepatica và NST F.gigantica. Tương tự, tại
châu Phi, chủ yếu gặp chủng F.gigantica. Ngược lại, ở châu Âu, Nam và Bắc
Mỹ, châu Đại Dương là các địa danh phân bố chủ yếu của F.hepatica
[12][75][117].
1.1.3.
Vòng đời
Vòng đời sinh học của SLGL đã được Leukart (1882) ở Đức và Thomas
(1882) ở Anh đồng thời nghiên cứu vào năm 1882. Qua nhiều năm, vòng đời
của sán lá gan lớn đã được làm sáng tỏ, có thể tóm tắt như sau.
không chín. khi vào đến dạ dày, dịch vị làm tan rã vỏ và ấu trùng được giải
phóng, nhiều nhất là ở tá tràng, sau 1 giờ ấu trùng thoát nang và xuyên qua
thành ruột, sau 2 giờ xuất hiện trong ổ bụng, qua màng glisson vào gan, đến
gan vào ngày thứ
6 sau khi thoát nang, sau đó chúng di chuyển đến ký sinh
trong đường mật. Trong cơ thể vật chủ chính, sán lá gan lớn đạt đến giai đoạn
trưởng thành phát dục từ 79 - 88 ngày. Thời gian từ khi nhiễm đến khi xuất
hiện trứng trong phân tùy thuộc vật chủ, ở cừu và trâu bò là 2 tháng (6 - 13
12
tuần), ở người là 3 - 4 tháng. Nếu sán trưởng thành sống trong hệ đường
mật, khi đẻ trứng sẽ từ ống mật trứng theo đường mật xuống ruột và ra
ngoài theo phân. Trứng xuống nước, ở nhiệt độ thích hợp 25-30
o
C, trứng
phát triển thành ấu trùng lông, sau 14-16 ngày, ấu trùng này thâm nhập
và ký sinh ở vật chủ phụ 1 là ốc thuộc giống lymnaea [ 34]. Trong ốc, ấu
trùng phát triển qua giai đoạn nang bào tử, hai giai đoạn rê-đi, phát triển
và sản sinh ra một số lượng lớn ấu trùng đuôi bơi lội tự do và các ấu trùng
đuôi này bám vào cây thủy sinh như rau muống, rau cần, cải soong tạo
thành nang ấu trùng [69], [74].
Giống như ở động vật, trong trường h
ợp ngừời không phải là vật chủ
thích hợp thì phần lớn sán cư trú trong nhu mô gan và chết, không vào đường
mật (Acosta Ferreira et al., 1979). Ngoài những trường hợp lây nhiễm thông
thường, một số trường hợp khác là do ăn gan sống của gia súc (Yoshida và cs,
1962; Cho và cs, 1976) và đã có hai thí nghiệm xác nhận giả thiết này. Các
nhà khoa học chứng minh sự lây nhiễm này bằng cách cho khỉ ăn loại gan đã
bị nhiễm sán SLGL trong 10-12 ngày tuổi (Tomimura và cs, 1975) hoặc cho
lợn sữa ăn chuột nhi
thành ấu trùng đuôi trưởng thành cần 13 – 14 ngày,
•
Ở ốc, vật chủ trung gian: ấu trùng đuôi phát triển thành nang ấu trùng
sau 2 giờ,
• Ở trâu, bò, bê, nghé ăn phải nang ấu trùng, sau 79 – 88 ngày trong ống
dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành, đẻ trứng theo phân ra ngoài.
Điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và
gây bệnh của sán lá gan lớn (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những
vùng có mầm bệnh tồn t
ại, cứ trung bình 3 tháng, sán lá gan lớn lại hoàn
thành vòng đời trong cơ thể trâu bò, nghĩa là lại tạo ra một đời sán mới
trong cơ thể. Con vật khi đã có sán lá gan ký sinh có thể tiếp tục nhiễm
mầm bệnh mới, dẫn đến tình trạng số lượng sán trong cơ thể tăng dần theo
tuổi trâu, bò [60].
14
1.1.4. Hiện tượng lạc vị trí ký sinh của sán lá gan lớn (Ectopic foci of
Fascioliosis).
Các loại ký sinh trùng thường chỉ sống và phát triển ở các vị trí nhất định
trong vật chủ hoặc ký sinh ở những loại vật chủ thích hợp. Tuy vậy, trên thực
tế có những trường hợp ngoại lệ, ký sinh trùng có thể ký sinh trái quy luật, nó
có thể ký sinh lạc chỗ hoặc lạc vật chủ.
Ký sinh trùng lạc chủ là những ký sinh trùng bình thường ký sinh ở một loài
vật chủ nhất định nhưng do một lý do nào đ
ó KST chuyển sang ký sinh ở vật chủ
mới. Sán lá gan lớn có vật chủ chính chủ yếu ký sinh ở trâu bò và người.
Ký sinh trùng lạc vị trí là những ký sinh trùng ký sinh lạc sang cơ quan,
phủ tạng khác với cơ quan, phủ tạng mà nó thường ký sinh. Bình thường sán
lá gan lớn ký sinh trong gan của vật chủ, nhiều trường hợp vì một lí do nào đó
đã ký sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể như mắt, cơ, khớp Đây là
Ở châu Âu người ta đã xác định được ký sinh trùng này gây bệnh ở người
(bệnh sán lá gan lớn - Fasciolosis) xuất hiện cách đây 5000 – 5100 năm (Bouchet,
1997; Aspock và CTV, 1999; Dittmar và Teegen, 2003). Điều đặc biệt và lý thú là
người ta đã phát hiện ra sán lá gan lớn ở trong các xác ướp Ai Cập từ thời các
Pharaon. Mãi sau một thời gian dài (1379) có một người Pháp tên là Jehan de Brie
quan tâm đến vấn đề này đã phát hiện sán lá gan lớn lần đầu tiên không phải trên
người mà là trên cừu. Kể từ đó người ta công nhận cừ
u là nguồn bệnh mang sán lá
gan lớn và vấn đề này đã được đăng tải trong tạp chí Le Bon Berger hay The Good
Schepherd [34]. Phát hiện của Jehan de Brie có thể được coi là dấu mốc khởi đầu
của sự phát triển chuyên ngành KST. Bệnh trong thời đó được gọi tên là sán lá gan
cừu (sheep liver fluke), tên gọi này được sử dụng suốt vài thế kỷ cho đến năm 1758
Lymnaea đặt tên theo tiếng La-tinh là Fasciola hepatica. Đến những năm cuối thể
kỷ 19, chu kỳ và vai trò của gây b
ệnh của Fasciola được làm sáng tỏ. Kể từ đó,
bệnh sán lá gan lớn trở thành một bệnh giun sán nghiêm trọng và giữ vị trí quan
trọng trong lĩnh vực y tế cộng đồng [126], [127].
16
Bệnh sán lá gan lớn (SLGL) là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ở khắp
các châu lục: châu Âu, Nam Mỹ, Trung Mỹ, châu Phi, châu Á và châu Đại
dương. Người mắc bệnh thường do ăn phải các rau thủy sinh có chứa nang ấu
trùng trong nước. Vì vậy bệnh có liên quan chặt chẽ đến phong tục, tập quán có
thói quen ăn những loại rau sống dưới nước. Ngoài rau thủy sinh cũng có một số
loài rau được tưới có chứa ấu trùng trong nước cũng là ngu
ồn lây bệnh [83],
[120], [130], [131].
Theo thống kê trên thế giới hiện nay cho thấy bệnh sán lá gan lớn đã được
phát hiện khoảng 65 nước, gần 180 triệu dân số nằm trong vùng nguy cơ và khoảng
17 triệu người (theo Hopkins et al., 1992). Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhấn
ỹ,
Đông Nam châu Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Lào, Cambodia, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam [80], [98], [99], [166].
Hàng nghìn người được phát hiện bệnh, trong đó có Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, Tây
Ban Nha và Liên Xô cũ. Một vài quốc gia, số người mắc bệnh này lên đến hàng
nghìn như Pháp, Ý (Gaillet et al., 1983), có một vùng lưu hành ở Pháp với hơn 3.297
bệnh nhân (1950-1983), phía Bắc Thỗ Nhĩ Kỳ có 1.011 bệnh nhân đã được chẩn đoán
(từ 1970-1992). Tại Tây Ban Nha, bệnh sán lá gan lớn phân bố ch
ủ yếu miền Bắc và
tại Liên Xô cũ, vùng biên giới Afganistan có cường độ nhiễm từ 1-14 sán được điều
tra trên 81 cư dân (từ 1968 - 1984) [166].
Bệnh SLGL xuất hiện khắp các châu lục, trong đó vùng dịch tễ cao là Nam
Mỹ. Ở Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) có 53 bệnh nhân SLGL được thông báo năm 1981.
Tại Trung Mỹ, bệnh SLGL lớn lưu hành ở đảo Caribe, đặc biệt ở vùng Perto Rico.
Bệnh SLGL cũng được thông báo lưu hành ở Cu-Ba, nă
m 1983 có trên 1.000 bệnh
nhân bị nhiễm bệnh. Tại Guatemala, người ta thông báo có 16 bệnh nhân và ở Cộng
hòa Dominican và Ensanvado có 100 bệnh nhân. Bệnh SLGL nghiêm trọng ở
Bolivia, Peru, Ecuador. Tại Bolivia bệnh SLGL ở người lưu hành ở phía Bắc với tỷ
lệ 7-10% bằng xét nghiệm phân và phản ứng huyết thanh. Tại đây 2,5 triệu người
nằm trong vùng có nguy cơ nhiễm bệnh. Tại Peru, Ecuador bệnh SLGL phân bố
khắp cả nước với mức độ lưu hành vừ
a và nặng với 8 triệu người có nguy cơ bị
nhiễm. Ở nhiều vùng ngoại ô Chi Lê tỷ lệ nhiễm SLG lớn lên đến 75%. Tại các
nước như Uruquay, Brazil, Colombia, Venezuela bệnh nhân SLGL được thông báo
18
lẻ tẻ dưới 100 trường hợp. Năm 1928 có hai ca và năm 1958 có 11 ca bệnh SLGL ở
người được chẩn đoán ở Ai Cập (Kuntz và cs.,1958; Farag và cs., 1998).
Một số bệnh nhân được thông báo ở các nước châu Phi, loài sán ở vùng này
19
Năm 1993, ít nhất 40 triệu người chủ yếu ở Đông Nam Á được thông báo là
nhiễm SLG, trong đó phải kể đến loài sán lá gan quan trọng là SLG lớn (Fasciola
gigantica hoặc Fasciola hepatica) và sán lá gan nhỏ (Chlonorchis sinensis,
Opisthochis viverini hoặc Opithorchis felineus).
Như vậy, tình hình bệnh SLGL trên thế giới chúng tôi có thể khái quát một số
vấn đề chính sau:
- Bệnh SLGL rất phổ biến ở động vật ăn cỏ: trâu, bò, dê, cừu, lạc đà…
- Các động vật
ăn cỏ là nguồn reo rắc mầm bệnh SLGL ra môi trường.
- Vật chủ trung gian là giống ốc Lymnaea, vật chủ trung gian này phân bố
khắp nơi trên thế giới
- Thực vật thuỷ sinh là nơi ấu trùng SLGL từ ốc bám vào tạo nang ấu
trùng, người hoặc động vật ăn cỏ sẽ bị nhiễm SLGL khi ăn thực vật thuỷ sinh
có chứa nang ấu trùng. Vì thế bệnh thường gia tăng ở những nơi có phong tục
tập quán ăn sống các loại rau thuỷ
sinh.
- Mọi đối tượng đều có thể bị nhiễm SLGL, không phân biệt chủng tộc,
màu da, tuổi tác.
- Bệnh phân bố ở khắp nơi trên thế giới, không phụ thuộc vào trình độ
phát triển của các nước, dù ở nước phát triển hay nước đang phát triển.
1.2.2.
Lịch sử nghiên cứu và phân bố sán lá gan lớn tại Việt Nam
Hơn 100 năm qua, hầu như bệnh ít được nói đến, trong thực tế Fasciola
hepatica gặp trên các loài động vật ăn cỏ ở Cao Bằng (Raillet và Gomy), rồi
sau đó tác giả Nguyễn Thị Lê và cộng sự cũng lần lượt gặp ở Hà Nội.
Codvelle và cộng sự thông báo đã phát hiện được Fasciola sp. đầu tiên ở Việt
Nam vào năm 1928, kể từ năm 1978, Đỗ Dương Th¸i và Trịnh Văn Thịnh
thông báo gặp đượ
c 2 trường hợp ở người trong đó một trường hợp abces
21
Hình 01-09. Bản đồ phân bố sán lá gan lớn ở Việt Nam
22
Số liệu khảo sát của Viện sốt rét - KST - CT Trung ương vào tháng
8/2004, toàn quốc có 27/64 tỉnh, thành có người bị nhiễm sán lá gan. Theo
khảo sát của Viện Sốt rét, ký sinh trùng và côn trùng Trung ương , tính đến
tháng 8/2006, toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan với tổng số
trên 3.000 người bị nhiễm (trong đó có 15 tỉnh chỉ có 1-2 ca bệnh), chỉ trong 8
tháng đầu năm 2006, đã có 1.465 bệnh nhân của 45/64 tỉnh, thành bị nhiễm
sán lá gan. Đặc biệt, những tỉnh có người nhi
ễm cao là: Bến Tre, TP. HCM,
Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai. Qua công tác khám, điều trị cho
thấy những năm gần đây số bệnh nhân bị nhiễm bệnh liên tục tăng nhanh, như
trong năm 2003 có 7 bệnh nhân đến Viện để khám, điều trị; năm 2005 có 55
người và đến nay có trên 200 bệnh nhân đang được điều trị tại Viện [46].
Tính đến thời điểm cuối tháng 09/2006, toàn quốc có đến 47 tỉnh thành có
người mắc bệnh SLGL, gồm có: Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang,
Sơn La, Hòa Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh,
thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang,
Đak- Lak, Đak - Nông, Gia - Lai, Kon - Tum. Trong đó, đáng quan tâm đến
thực trạng nhiễm SLGL t
ại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, nhiều nhất là
các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia - Lai. Riêng từ
ở huyện Bình Lục, Nam hà, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 – 57,5%.
Đoàn Văn Phúc (1980) đã kiểm tra 64 bò tại trại sữa Hà Nội, thấy tỷ lệ
nhiễm sán lá gan lớn là 73,43%; Đoàn Văn Phúc, Vương Đức Chất, Dương
Thanh Hà (1995) cho biết, trâu bò thuộc khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan lớn
tỷ lệ 53,41%.
Tỷ lệ và cường độ
nhiễm sán lá gan lớn ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào
24
những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ: thời tiết, khí hậu của một vùng, một
khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc – vật chủ
trung gian của sán lá gan lớn. Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều, tạo ra môi trường
nước, giúp ốc nước ngọt Lymnaea sống và sinh sản thuận lợi.
Trịnh Vă
n Thịnh và cs (1978), Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), đều
cho rằng, gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ
trung gian phát triển. Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên
so với những năm nắng ráo khô hạn. Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết
khí hậu. Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan lớn tăng cao hơn các mùa
khác trong năm. Cuối mùa đông bệnh sán lá gan lớn thường bắt đầ
u phát triển
[60].
- Yếu tố địa hình: vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có
liên quan chặt chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống
nhau. Địa hình là yếu tố quan trọng quyết đinh sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều
thuộc 4 loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học đều thống nhất cho rằng, gia súc nhai
lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán nhiều nhất, tỷ l