1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao đã được phát hiện từ trước công nguyên nhưng đến năm 1882
Robert Kock tìm ra được nguyên nhân gây bệnh lao. Việc tìm ra nguyên nhân bệnh
lao là do vi khuẩn lao giúp các nhà khoa học có nhiều nghiên cứu để tìm hiểu về
bệnh lao. Hơn thế kỷ qua, y học đã đầu tư nguồn lực để thanh toán bệnh lao tại cộng
đồng nhưng chưa có thành công bền vững.
Năm 1999 Tổ chức Y tế Thế giới thông báo tình hình khẩn cấp toàn cầu của
bệnh lao, nhằm kêu gọi sự quan tâm các tổ chức Chính phủ và toàn thể nhân dân thế
giới cùng góp sức để chống lại dịch bệnh nguy hiểm này. Hơn 80% nạn nhân của
bệnh lao là những người đang ở độ tuổi lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Bệnh lao đã làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh đói nghèo. Nếu những người trụ
cột của gia đình không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, trung bình họ sẽ mất
một năm không lao động. Chiến lược hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp là
một đầu tư kinh tế có cơ sở đối với bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể như một nghiên cứu
ở Thái Lan việc sử dụng hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp hợp lý có thể
tiết kiệm được 2,3 tỷ đô la Mỹ trong vòng 20 năm [21].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới đến năm 2006, bệnh lao gia tăng nhanh các
nguyên nhân chính là do đói nghèo bất ổn kinh tế xã hội tại một số khu vực,
lao/HIV, lao kháng thuốc, bùng nổ dân số và hoạt động kém hiệu quả của hệ thống
y tế, chương trình chống lao tại một số quốc gia. Chính vì sự lây lan nhanh chóng
của lao phổi AFB(+), tỷ lệ tử vong do lao tăng làm cho bệnh lao trở thành gánh
nặng thật sự đối với các nước đang phát triển cả về mặt xã hội và kinh tế. Ước tính
tình hình dịch tễ bệnh lao trên thế giới vẫn còn là vấn đề khẩn cấp toàn cầu hiện tại
có khoảng hơn 2 tỷ người đã bị nhiễm lao (tương đương 1/3 dân số thế giới), hàng
năm có khoảng 9,2 triệu người mắc bệnh lao mới (tương đương tỷ lệ 139/100.000
dân), có 14,4 triệu người bệnh lao cũ và mới lưu hành trong đó có 4,1 triệu người
bệnh lao phổi AFB(+) (tương đương 62/100.000 dân), bao gồm 0,7 triệu trường hợp
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về bệnh lao
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh lao
- Bệnh lao đã được phát hiện từ trước công nguyên ở Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp
và các nước Trung Á. Thời kỳ này bệnh lao được xem như một bệnh nan y không
chữa được, bệnh lao do di truyền.
Đến thế kỷ thứ XIX Laennec (1819) và Sokolski (1838) đã mô tả khá chính
xác về các tổn thương chủ yếu của bệnh lao. Năm 1865 Villemin làm thực nghiệm
bằng cách tiêm truyền bệnh phẩm lấy từ bệnh nhân lao cho súc vật và có nhận xét
bệnh lao do một căn nguyên gây bệnh nằm trong các bệnh phẩm đó.
- Năm 1883 Zoppf đổi tên thành Bacterium Tuberculosis và 3 năm sau
Lehmann và Neumann đổi tên thành Mycobacterium Tuberculosis .Việc tìm thấy vi
trùng lao đã mở ra giai đoạn vi trùng học của bệnh lao đã định hướng cho loài người
tìm ra phương cách phòng chống một căn bệnh nguy hiểm này.
- Đến đầu thế kỷ XX có một loạt công trình về dị ứng, miễn dịch và phòng
bệnh lao. Năm 1907 Vonpirquet áp dụng phản ứng da để xác định tình trạng nhiễm
lao. Mantoux năm 1908 dùng phương pháp tiêm trong da để phát hiện dị ứng lao.
- Năm 1882 Robert Koch tìm ra nguyên nhân gây bệnh là vi trùng lao hay
gọi là Bacillus de Koch (viết tắt là BK).
1.1.2. Tổ chức thực hiện chƣơng trình chống lao quốc gia
- Xác định đường lối chiến lược phòng chống lao:
Phát hiện bệnh lao bằng phương pháp thụ động là chủ yếu, sử dụng phương
pháp soi đàm trực tiếp, ưu tiên phát hiện nguồn lây AFB(+).
Điều trị bằng phác đồ hóa trị liệu lao ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp
(chương trình DOTS), thống nhất trên toàn quốc.
Lồng ghép họat động chống lao vào hệ thống y tế chung.
Tiêm vaccin B.C.G ngừa lao cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi.
- Tổ chức mạng lưới công tác chống lao: 5
Tuyến Trung ương: Bệnh viện lao và bệnh phổi Trung ương, Ban chỉ đạo
chương trình chống lao quốc gia đồng thời là cơ quan quản lý dự án phòng chống
lao dưới sự chỉ đạo của Ban chủ nhiệm chương trình chống lao quốc gia.
Tuyến tỉnh: tổ chức theo mô hình Bệnh viện lao và bệnh phổi, Trung tâm
phòng chống bệnh xã hội, đơn vị trực thuộc sở y tế.
Tuyến huyện: công tác chống lao được khoa phòng chống dịch bệnh và
HIV/AIDS thuộc Trung tâm y tế huyện quản lý .
Tuyến xã: đơn vị trạm y tế xã thuộc Trung tâm y tế huyện quản lý. Trạm y
tế xã chịu trách nhiệm thực hiện công tác phòng, chống lao ở xã gồm có 4 chức
năng chính như sau:
* Phát hiện bệnh lao qua khám người có triệu chứng nghi lao, gửi người bệnh
đến tổ chống lao huyện thử đàm.
* Thực hiện điều trị lao bằng phương thức DOTS tại trạm y tế xã.
* Tiêm phòng B.C.G cho trẻ sơ sinh.
* Tuyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh lao trong nhân dân [20].
1.1.3. Nguyên nhân gây bệnh và đƣờng lây
- Lao là bệnh truyền nhiễm do vi trùng lao gây ra gọi là Mycobacterium
Tuberculosis. Vi trùng lao xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp do hít phải các
giờ sinh sản một lần, khi gặp điều kiện không thuận lợi chúng có thể sinh sản chậm
hơn, thậm chí ở trạng thái ngủ, tồn tại lâu trong tổn thương khi có điều kiện lại tái
sinh sản lại. Để vi khuẩn phát triển thuận lợi cần đòi hỏi môi trường có nhiều chất
dinh dưỡng và oxy. Cấu trúc vi khuẩn lao rất phức tạp có nhiều đại phân tử
Protides, Glucoses và Lipides, Acid mycolic là một thành phần cấu tạo nên thành vi
khuẩn. Chính acid này đã giúp vi khuẩn bắt màu đỏ fuchsine khi nhuộm Ziechl –
Neelsen.
- Trong số các kháng nguyên của vi khuẩn lao đã được nghiên cứu có
Tuberculine là một hỗn hợp Proteine, Polysaccharit, Lipid dùng để chẩn đoán bệnh
lao, nghiên cứu tình trạng nhiễm lao và đánh giá hiệu quả của B.C.G vacxin.
- Vi khuẩn lao đề kháng thuốc là do sự thích ứng của cơ thể vi khuẩn lao dưới tác
dụng của môi trường bên ngoài, trong đó có các thuốc chống lao. Có sự đột biến tự
nhiên của vi khuẩn lao [70].
1.1.4.2. Dịch tễ lao
- Dịch tễ học là môn nghiên cứu sự phân bố tần số mắc và chết của bệnh và
những yếu tố nguy cơ và áp dụng nghiên cứu này để giải quyết vấn đề bệnh tật.
Dịch tễ học là một phần quan trọng của chương trình chống lao bởi vì thông tin về
mô hình nhiễm bệnh, mắc bệnh và có thể giúp cho người dân hoặc nhóm dân cư có
nguy cơ mắc lao hiểu được cách lây truyền như thế nào, những trường hợp nào nên 7
ưu tiên khám và điều trị, đặt kế hoạch sử dụng cán bộ, nguồn lực như thế nào cho
hợp lý.
- Bệnh lao lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, một bệnh nhân lao phổi ho
khạc ra vi trùng lao có thể lây truyền bệnh lao cho 10 người trong một năm. Khi
không được phát hiện và điều trị đúng cách, bệnh nhân có thể là nguồn lây trong
vòng 2 năm trước khi chết. Nếu bệnh nhân có thể tự lành thì khả năng lây lan cho
cộng đồng kéo dài hơn [43].
Theo Tổ chức Y tế thế giới đến năm 2006, ước tính tình hình dịch tễ bệnh lao
- Bằng chứng cụ thể là trong đợt điều tra dịch tễ lao toàn quốc lần đầu tiên
năm 2006-2007 cho thấy số bệnh nhân lao hiện mắc cao hơn so với ước tính trước
đây [4].
1.1.5. Miễn dịch trong bệnh lao
- Miễn dịch chống lao chỉ là tương đối. Tức là một cá thể khi tạo đựơc miễn
dịch thì khả năng bảo vệ không mắc bệnh khi có vi trùng xâm nhập vào là không
được tuyệt đối. Tiêm B.C.G về cơ bản có tác dụng phòng mắc bệnh lao. Tuy vậy
vẫn có những trẻ dù đã được tiêm B.C.G vẫn có thể mắc bệnh lao nhưng thường tỷ
lệ thấp hơn và bệnh thường nhẹ hơn so với những trẻ không được tiêm phòng. Để
có miễn dịch lao chúng ta tiêm BCG: hiệu quả bảo vệ tại Việt Nam là 65% năm
1970 - 1975 của nhiều tác giả [43].
- Theo tác giả Altes HK, nếu không tiêm ngừa B.C.G nguy cơ hằng năm phát
triển lao cấp tính nghiêm trọng đối với trẻ em sẽ tăng lên, tỷ lệ mắc lao trong nhóm
có nguy cơ là 3/100.000 dân, trong khi nếu được tiêm ngừa B.C.G nguy cơ sẽ giảm
đi 73%. Vì vậy có khoảng 9.000 trẻ em cần thiết phải tiêm ngừa để không trở thành
một trường hợp bệnh lao. Việc chủng ngừa B.C.G cho trẻ em tại những quốc gia có
chỉ số mắc lao cao là rất cần thiết [80].
1.1.6. Các đối tƣợng dễ mắc lao
Bệnh lao dễ biểu hiện ở những đối tượng sau:
- Những người sống chung với bệnh nhân lao phổi có vi trùng lao trong đàm,
đặc biệt ở trẻ em và thanh niên.
- Những người nhiễm HIV/AIDS.
- Những người có hình ảnh bất thường nghi lao trên X-quang phổi
- Người suy dinh dưỡng, mắc các bệnh mãn tính, loét dạ dày, tiểu đường.
- Những người nghiện rượu, nghiện thuốc lá, tiếp xúc với các chất độc. 9
- Người dùng các thuốc giảm miễn dịch kéo dài như Corticoit…
- Người vô gia cư.
10
Những lý do chính làm hoạt động chống lao kém hiệu quả làm bệnh lao
bùng phát trở lại toàn cầu là:
Không kiểm soát trực tiếp quá trình điều trị lao.
Sử dụng thuốc không đầy đủ liệu trình.
Không sử dụng các công thức hoá trị chuẩn.
Thiếu hệ thống quản lý [29].
1.2.2. Tình hình phát hiện bệnh lao các nƣớc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng
- Năm 2006, khu vực Tây Thái Bình Dương gồm có 36 quốc gia và các tiểu
khu vực, số bệnh nhân lao mới khu vực này 21% tổng số bệnh lao mới trên thế
giới, số lượng bệnh lao hiện mắc 24% số bệnh lao trên thế giới.
1,9 triệu bệnh lao mới phát hiện tương đương 109/100.000 dân.
3,5 triệu người lao cũ và mới lưu hành tương đương 199/100.000 dân [90].
- Lao/HIV có xu hướng gia tăng tại các quốc gia khu vực Tây Thái Bình
Dương năm 2005 tỷ lệ bệnh nhân lao nhiễm HIV của Campuchia là 10%, Trung
Quốc là 0,6%; Lào là 0,6%; Malaysia là 12,6%; Phippines là 0,6%; Singapore là
1,3%; Việt Nam là 4,2%. Tại các quốc gia này xấp xỉ 50% người nhiễm HIV giai
đoạn cuối chết do mắc lao [92].
1.2.3.Tình hình phát hiện bệnh lao tại Việt Nam
Chương trình chống lao Việt Nam qua các giai đoạn :
- Từ năm 1957 hoạt động chống lao bắt đầu triển khai chưa có hệ thống chống
lao trên toàn quốc.
- Năm 1979 tổ chức chương trình chống lao cấp I được hình thành với hệ thống
chống lao toàn quốc gồm có 4 cấp Trung ương - tỉnh - huyện – xã .
- Năm 1986 tổ chức thực hiện chương trình chống lao cấp II hình thành chương
trình chống lao mới theo nguyên lý của Hiệp hội chống lao Quốc tế.
- Năm 1992 triển khai chương trình điều trị lao với phác đồ ngắn hạn 8 tháng
2SHRZ/6HE thống nhất toàn quốc. Chiến lược quản lý điều trị lao có kiểm soát trực
tiếp gọi là “DOTS”.
- Năm 1995 chương trình chống lao chính thức trở thành một trong các chương
thời gian điều trị không dùng đơn độc một loại thuốc. Đối với bệnh nhân phải được
phát hiện bệnh lao sớm, dùng thuốc lao đúng quy định để giảm nguy cơ kháng
thuốc, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thường thầy thuốc cho đơn độc Rifampicin
nên dẫn đến tình trạng kháng đa thuốc tràn lan [79]. 12
- Tỷ lệ lao kháng thuốc được báo cáo khác nhau tại các nước và thay đổi theo
nhóm bệnh nhân.
Theo Dukok.M.R (1976) kháng thuốc tiên phát với INH ở các nứơc đang
phát triển Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh với tỷ lệ 10%, còn ở Châu Âu, Bắc Mỹ tỷ
lệ kháng thuốc tiên phát là 5%. Các quốc gia đều có tỷ lệ kháng thuốc ở nam bằng
với ở nữ , thường gặp ở tuổi trẻ.
Theo Peterson K.F (1981) đã cho thấy tỷ lệ kháng INH ở Thuỵ Điển là
1,3% còn ở Bồ Đào Nha là 13,1%. Với Streptomycine từ 0,4% ở Séc còn 12,8% ở
Hunggari [68].
- Trung Quốc (2000) tỷ lệ kháng thuốc tiên phát với INH là 1,5%; tỷ lệ kháng
bất kỳ 1 loại thuốc kháng lao 11%, đa kháng thuốc là 7,5% [86].
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2005 đến năm 2008 một số quốc gia có tỷ
lệ kháng thuốc lao như sau:
Australia (2005) tỷ lệ kháng thuốc tiên phát INH là 8,8%; tỷ lệ bất kỳ một
loại thuốc kháng lao trong nhóm 10,1%; đa kháng là 1,5%
+ Newzealand (2007) tỷ lệ kháng tiên phát INH là 4,7%; tỷ lệ kháng bất kỳ 1
loại thuốc kháng lao là 9%, đa kháng thuốc là 0% [89].
1.2.4.2. Tình hình kháng thuốc lao tại Việt Nam
- Vấn đề đầu tiên của nghiên cứu để định hướng chiến lược mục tiêu cho
công việc phòng chống lao ở Việt Nam, ngay từ đầu các năm đất nước mới hoà bình
là tìm tỷ lệ mắc lao, tỷ lệ chết do lao, BS.Phạm Ngọc Thạch, BS.Nguyễn Đình
Hường đã nêu ra tỷ lệ kháng thuốc lao mắc phải của INH là 53%, với PAS là 26%
và Streptonycine là 59% [70].
RHES là 9, 2%).
- So với tỷ lệ kháng thuốc toàn quốc thì Tiền Giang có tỷ lệ kháng thuốc lao
tiên phát và thứ phát tương đối thấp [3].
1.3. Tình hình điều trị bệnh lao
1.3.1. Tình hình điều trị bệnh lao trên thế giới
Bệnh lao là một bệnh gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ và trẻ em. Do đó từ
năm 1989 Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra biện pháp tốt nhất để phát hiện và điều
trị lao trong chiến lược DOTS vào thời điểm này hơn 100 quốc gia đã chấp nhận và 14
coi DOTS như một hướng đi đúng đắn và hơn 1 triệu bệnh nhân lao đã được điều trị
bằng DOTS từ năm 1990. Những hệ thống giám sát toàn cầu được thiết lập và bản
đồ về sự lan tràn của lao kháng thuốc được thiết lập, trong giai đoạn 1990 - 1999 Tổ
chức Y tế Thế giới tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược DOST toàn cầu thấy tỷ lệ
điều trị bệnh khỏi được nhân lên rõ rệt, giảm nguy cơ kháng thuốc xuống mức tối
thiểu, giảm tỷ lệ mắc lao, giảm tỷ lệ tử vong do lao. Các nước khu vực Tây Thái
Bình Dương điều tra tổng số mắc lao có xu hướng giảm. Trong thời gian 15 năm từ
1980-1995 tỷ lệ mắc lao AFB(+) là 310/100.000 dân năm 1980 và 90/100.000 dân
năm 1995. Như vậy tỷ lệ mắc lao tại Hàn Quốc giảm rõ rệt trung bình 23%/năm.
Philippin tỷ lệ mắc lao AFB(+) là 660/100.000 dân năm 1983 và 310/100.000 dân
năm 19957. Như vậy tỷ lệ mắc lao tại Philippin giảm 15,2%/năm [7], [8].
- Một khảo sát từ năm 2000 – 2005 tại Trung Quốc, kết quả điều trị lao phổi
AFB(+) mới bằng chương trình DOTS có tỷ lệ điều trị thành công năm 2000 là
95%, năm 2001 là 96%, năm 2002 là 93%, năm 2004 là 94% và tử vong là 2%. Đối
với nhóm bệnh nhân tái điều trị, tỷ lệ thành công thấp hơn trung bình là 88% và tử
vong là 3%. Trong giai đoạn 2000 – 2005 số bao phủ DOTS tại các địa phương
cũng tăng dần theo thời gian và số lượng bệnh nhân lao điều trị chương trình DOTS
cũng tăng theo. Năm 2000 bao phủ 68% . Năm 2002 là 78%. Năm 2005 là 100% Số
bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới được điều trị bằng chương trình DOTS cũng tăng
3
E
3
cho bệnh nhân lao
phổi AFB(+) tái phát:
Tỷ lệ khỏi trung bình của phác đồ này là 80% đối với bệnh nhân tái phát, tỷ
lệ chết và tỷ lệ thất bại đều có chiều hướng ổn định khoảng 4-5% mỗi năm.
Tỷ lệ bệnh nhân chuyển trong nhóm bệnh nhân lao phổi AFB(+) tái phát
điều trị công thức tái trị khá cao.
- Đối với bệnh nhân thất bại các công thức điều trị mới, khả năng kháng thuốc
của vi khuẩn lao đã xuất hiện, chính vì vậy đáp ứng với các phác đồ tái trị có kết
quả rất hạn chế, nhận thấy giai đoạn 2000 – 2004 đã âm hoá thêm được 60% đến
70% số lao phổi AFB(+) thất bại. Tỷ lệ thất bại khi điều trị công thức này khá cao,
xấp xỉ 20%. Tỷ lệ bệnh nhân chuyển trong nhóm bệnh nhân lao phổi AFB(+) thất
bại điều trị công thức tái trị khá cao: năm 2002 là 4.3% thấp hơn năm 2000 gần 2%
- Kết quả điều trị theo khu vực trong cả nước của nhóm bệnh nhân lao phổi
AFB(+) mới có thực hiện chiến lược DOTS từ năm 1995 – 2004: đều luôn giữ ở
mức độ trên 90% tại khu vực Đồng Bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long. 16
Riêng khu vực Bắc bộ , Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ tỷ lệ khỏi bệnh
đạt chỉ trên 85% và đạt yêu cầu mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới tỷ lệ điều trị
khỏi trên 85% bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới.
Các tỉnh Tây Nguyên và Tây Bắc tỷ lệ khỏi bệnh thay đổi theo năm, tỷ lệ
khỏi bệnh chỉ đạt 71% năm 1998. Từ năm 2000 – 2004 nói chung tỷ lệ đạt trên
85%. Đây là khu vực gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý điều trị, nhưng
đã được cũng cố và có nhiều thay đổi về mặt chất lượng điều trị để nâng tỷ lệ khỏi
được duy trì ở mức trên 80%.
- Trong giai đoạn 2001-2005 chương trình chống lao nâng chất lượng chiến
- Theo Lê Bá Tung từ năm 1992 – 2000 tình hình quản lý điều trị lao/HIV tại
21 tỉnh thành phía Nam như sau:
Lao - HIV/tổng số bệnh nhân AIDS là 48%. Trong đó thành phố Hồ Chí
Minh cao nhất là 75,7%.
Bệnh nhân lao/HIV chết do AIDS là 24,4%. Trong đó Thành phố Hồ Chí
Minh cao nhất là 43,1%.
Kết quả đều trị Lao/HIV có AFB(+) mới tỷ lệ khỏi 49,4%; chết 42,2%; bỏ
trị 3,4%; thất bại 5% [86].
1.4. Tình hình hoạt động chống lao tại tỉnh Tiền Giang
- Chương trình chống lao tại tỉnh Tiền Giang đã được triển khai từ nhiều năm,
song đến năm 1990-1996 100% xã, phường và 100% dân số được bao phủ bởi chiến
lựơc DOTS.
- Vấn đề triển khai trị liệu ngắn ngày tại các nước đang phát triển cũng như
các tỉnh vùng nông thôn, các chuyên gia chống lao khuyến cáo việc rút ngắn thời
gian điều trị và số liều thuốc dùng là rất cần thiết, người bệnh tuân thủ điều trị tốt, ít
nguy cơ nhiễm độc thuốc mãn tính và giảm gánh nặng về ngân sách.
- Việc phòng bệnh chương trình chống lao địa phương áp dụng hai cách: trẻ
sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi phải tiêm phòng lao bằng vaccin B.C.G. Điều trị có hiệu
quả lao phổi AFB(+), bệnh lao tuy nguy hiểm nhưng có thể chữa khỏi hoàn toàn
nếu phát hiện sớm, điều trị đúng cách, đủ liều lượng, đủ thời gian [9], [10], [53].
- Tháng 03/2007 chương trình chống lao quốc gia tiến hành điều tra dịch tễ lao
toàn quốc trong đó Tiền Giang chọn xã Vĩnh Kim huyện Châu Thành điều tra bằng 18
phương pháp soi trực tiếp và nuôi cấy kết quả chung của quốc gia như sau: tỷ lệ
mắc lao phổi AFB(+) mới miền Nam là 200/100.000 dân từ 15 tuổi trở lên.
- Tình hình phát hiện và điều trị bệnh lao AFB(+) năm 1996 - 2000.
Tỷ lệ bệnh lao phổi AFB(+)/100.000 dân năm 1996 - 2000 lần lượt là 77, 88,
100, 96, 88.
3
(2004 - 2007)
+ Kết quả điều trị bệnh lao phổi AFB(+) tái trị tỷ lệ âm hóa 85,8%; hoàn
thành 0,53%. So với kết quả điều trị trong cả nước tỷ lệ thành công phác đồ tái trị
của Tiền Giang cao hơn 9,5 %.
+ Tình hình lao/HIV: năm 2008 là 1,8%
+ Tình hình lao kháng thuốc tại Tiền Giang: 19
Năm 2001: 02 huyện Châu Thành và Cai Lậy là 02 trong các điểm nghiên
cứu kháng thuốc toàn quốc. Tỷ lệ kháng thuốc trong số bệnh lao mới và tái trị là
10,7% đối với INH, 8,9% đối với SM và 1,8% đối với kháng đa thuốc. Kết quả này
chưa phản ảnh đúng tình hình lao kháng thuốc của địa phương vì cơ mẫu nghiên
cứu quá ít và trên phạm vi hẹp.
Năm 2003 – 2007 cỡ mẫu đề nghị nghiên cứu là 2.500 ca lao phổi AFB(+)
mới và tái trị tại 03 huyện: Cái Bè, Cai lậy, Châu Thành đại diện cho toàn tỉnh Tiền
Giang kết quả như sau:
Xác định là chủng Bắc Kinh 614 (35%), gặp nhiều ở nhóm bệnh nhân tuổi
15-24. Lớn hơn 1,3 lần nhóm tuổi 25 – 64 và 2,7 lần nhóm > 24 tuổi .
Chủng Hà Nội 845(49%), chủng khác 285 (16%).
Lao phổi AFB(+) mới: tỷ lệ kháng 30%, bao gồm kháng SM (25%), kháng
Rifampicin (4%), kháng E (1%), đa kháng (3%).
Lao phổi AFB(+) tái trị : tỷ lệ kháng 60%, bao gồm kháng SM (54%),
kháng INH (44%), kháng R (15%), kháng E (3%), đa kháng 14%, tỷ lệ kháng thuốc
cũng có liên quan đặc hiệu với tuổi, ở bệnh nhân tái trị cao gấp 4 lần ở nhóm tuổi 15
– 24 so với nhóm tuổi lớn hơn hoặc bằng 65 tuổi.
- Như vậy so với năm 2001 tỷ lệ kháng đa thuốc của Tiền Giang có tăng hơn
trong nhóm bệnh nhân lao AFB(+) mới và tái trị năm 2001 (1,8%).
- Năm 2003 – 2007 là lao mới (3%) lao tái trị 14%. Qua nghiên cứu chúng tôi
21
Chương 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân có chẩn đoán xác định lao phổi
AFB(+) trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ngày 01/01/2009 đến ngày 31/12/2009.
- Thời gian nghiên cứu: 01/01/2009 đến 28/02/2010.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh.
Những bệnh nhân được chẩn đoán lao phổi AFB (+) mới, lao phổi AFB(+)
tái phát, lao phổi AFB(+) thất bại, lao phổi AFB(+) khác của tỉnh Tiền Giang ở tất
cả mọi lứa tuổi, có thời gian sống ổn định trên địa bàn nghiên cứu từ 1 năm trở lên,
được điều trị đúng phác đồ của chương trình chống lao quốc gia.
Bệnh nhân phát hiện lao phổi AFB(+) ngoài tỉnh nhưng có hộ khẩu thường
trú tại Tiền Giang, có phiếu xét nghiệm đàm đúng quy định của chương trình chống
lao quốc gia.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
hiện vượt tuyến, tiền sử gia đình, theo dõi kết quả xét nghiệm đàm, phản ứng thuốc
lao trong quá trình điều trị, bệnh kết hợp, đánh giá kết quả điều trị, kiến thức về
bệnh lao, thói quen của bệnh nhân uống rượu, hút thuốc lá.
- Thu thập thông tin từ các mẫu sổ, báo cáo, phiếu sử dụng ghi nhận các
thông tin của bệnh nhân lao đến khám, xét nghiệm, quản lý điều trị theo qui định
của chương trình chống lao quốc gia tại các cơ sở khám lao như sau:
Sổ xét nghiệm đàm tìm AFB.
Sổ đăng ký bệnh nhân lao tuyến huyện.
Báo cáo hoạt động xét nghiệm.
Báo cáo tình hình quản lý bệnh nhân lao.
Báo cáo kết quả điều trị.
Phiếu xét nghiệm đàm.
Phiếu điều trị có kiểm soát.
Phiếu thăm bệnh nhân tại nhà.
- Xây dựng công cụ thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi đóng và mở. 23
- Tiến hành điều tra thử.
- Tiến hành tập huấn cho các điều tra viên là các bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng của
Bệnh viện lao và bệnh phổi Tiền Giang, cán bộ làm công tác quản lý chương trình
chống lao tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Tập huấn cán bộ y tế làm công
tác quản lý bệnh lao của tất cả xã, phường, thị trấn trong diện nghiên cứu.
- Cách thức thu thập thông tin số liệu theo mẫu in sẵn của chương trình
chống lao và phỏng vấn trực tiếp từng bệnh nhân bằng bộ câu hỏi.
- Tiến hành tập huấn cho các cộng tác viên là các thầy thuốc chuyên khoa
lao ở các cơ sở khám lao huyện thu thập thông tin, số liệu từ người bệnh theo mẫu
đã định sẵn của chương trình chống lao quốc gia.
- Tiến hành thu thập thông tin thử.
- Tiến hành điều tra thu thập thông tin, số liệu.
khám, bệnh nhân lấy thêm mẫu thứ 3 dưới sự giám sát của cán bộ y tế [6].
- Thời gian tái phát của bệnh nhân lao tái phát, chúng tôi sắp xếp nhóm bệnh
nhân được gọi là tái phát sớm sau khi ngừng điều trị thời gian từ 1-12 tháng gọi là
tái phát sớm, từ 1-3 năm là thời gian tái phát trung bình, thời gian > 3 năm gọi là tái
phát muộn.
- Điều trị lao đúng phác đồ và đúng chỉ định của chương trình chống lao.
Phác đồ 1: 2.SHRZ/6.HE hoặc 2.EHRZ/6.HE dùng thuốc liên tục hàng
ngày 7/7. Chỉ định các trường hợp lao phổi AFB(+) mới.
Phác đồ 2: 2.SHRZE/1.RHZE/5.R
3
H
3
E
3
trong 3 tháng tấn công dùng thuốc
liên tục hàng ngày 7/7 và 5 tháng duy trì dùng cách khoảng 3 lần/1 tuần. Chỉ định
các trường hợp lao phổi thất bại, tái phát của phác đồ 1, lao phổi AFB(+) khác.
Phác đồ 3b: 2.HRZE/4.RH. Chỉ định cho bệnh lao mới trẻ em <15 tuổi.
Các chỉ số dịch tễ lao:
- Không giống dịch tễ của các bệnh nhiễm trùng khác, dịch tễ của bệnh lao
rất phức tạp. Có 3 chỉ số cần phải xem xét: nhiễm bệnh, mắc bệnh và tử vong. Khi
phân tích phải tách riêng chỉ số nhiễm lao và mắc lao, lao mới mắc và hiện mắc.
Thêm vào đó chỉ số mắc bệnh phải được bổ sung với thông tin về tổng số các
trường hợp đồng nhiễm HIV và các trường hợp kháng thuốc tiên phát , các trường
hợp lao màng não. 25
- Trong lãnh vực đề tài nghiên cứu này chúng ta chú ý đến chỉ số mắc lao
mới là: số bệnh nhân lao mới mắc hàng năm thường được tính trên 100.000 dân.