nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh mủ gan ở cá tra (pangasius hypophalmussauvage, 1878) nuôi thương phẩm trong ao đất tại huyện châu thành, giồng trôm và bình đại tỉnh bến tre - Pdf 20



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THỊ THƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH MỦ GAN
Ở CÁ TRA (Pangasius hypophalmus Sauvage, 1878)
NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG AO ĐẤT TẠI HUYỆN
CHÂU THÀNH, GIỒNG TRÔM VÀ BÌNH ĐẠI - TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ THỊ HÒA Nha Trang – năm 2010 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản
thân tôi thực hiện dưới sự chỉ dẫn tận tình, chu đáo của Cô giáo hướng dẫn PGS -
TS. Đỗ Thị Hoà.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.
đang công tác tại Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre: Nguyễn Văn Dũng,
Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Tạo, Quách Văn Chịa
và hai em sinh viên lớp bệnh học khoá 46 - Trường Đại học Nha Trang:
Đồng Thanh Hà và Nguyễn Việt Vương đã chia sẽ và hỗ trợ tôi trong thời
gian nghiên cứu.
- Xin cảm ơn gia đình, Má, anh, chị, chồng và con tôi đã lo lắng, tạo điều
kiện, luôn động viên kích lệ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Trình bày số liệu trong nghiên cứu hồi cứu 19
Bảng 2.2: Phân bố phiếu điều tra 19
Bảng 3.1: Diện tích nuôi và sản lượng Cá Tra ở Bến Tre 22
từ năm 2006 – 2008
Bảng 3.2: Trình độ văn hoá và chuyên môn của người nuôi cá tra 23
tại Bến Tre
Bảng 3.3: Số năm kinh nghiệm nuôi cá tra 24

điểm điều tra ở 3 huyện Châu Thành, Bình Đại và Giồng Trôm
Bảng 3.22: Bảng phân tích tổng hợp ảnh hưởng của các yếu tố 49
kỹ thuật tới bệnh mủ gan ở cá tra
Bảng 3.23: Kết quả phân tích các yếu tố nguy cơ 49
Hình 3.11: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm độ sâu của ao nuôi 44
Hình 3.12: Tần xuất gặp bệnh mủ gan ở các nhóm có số lần hút bùn 46
khác nhau MỤC LỤC
Trang

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: TỔNG QUAN 3
1.1. Sơ lược đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre 3
1.2. Tình hình nuôi Cá Tra ở Bến Tre 4
1.3. Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới 5
1.4. Tình hình nghiên cứu bệnh mủ gan trên Cá Tra ở Việt Nam 9
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.2. Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1. Sơ đồ khối của đề tài 17
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học 18
2.2.2.1. Dịch tễ học mô tả 18
2.2.2.2. Dịch tễ học phân tích 18
2.2.2.3. Các dữ liệu điều tra 19
2.2.3. Phương pháp thu thập mẫu vật cá bệnh và mô tả bệnh lý 20
2.3. Phương pháp phân tích số liệu 20
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.4. Một số giải pháp phòng trị bệnh mủ gan cho cá tra 50
3.4.1. Phòng bệnh 50
3.4.2 Trị bệnh 51
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
4.1. Kết luận 52
4.2. Đề xuất 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Cá Tra (Pangasius hypophthalmus Sauvage,
1878) là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến, năng suất cao, là một trong những
đối tượng nuôi chủ lực cho xuất khẩu, đứng thứ hàng thứ 2 sau con tôm. Kim
ngạch xuất khẩu Cá Tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2008 đạt 1,4 tỉ USD,
chiếm 31,1% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (4,51 tỉ USD), tăng
43,72% so với năm 2007 [42]
Trước đây, Cá Tra được nuôi chủ yếu theo qui mô gia đình, mật độ thấp và
nguồn giống chủ yếu dựa vào tự nhiên. Việc sinh sản nhân tạo thành công vào năm
1980 cùng với thị trường xuất khẩu mở rộng, sức tiêu thụ lớn làm cho quá trình
đầu tư nuôi phát triển mạnh, mô hình nuôi thâm canh mật độ cao được áp dụng
rộng rãi. Tuy nhiên, nuôi cá thâm canh với mật độ cao đã phải đối đầu với vấn đề
suy thoái môi trường và dịch bệnh, gây tổn thất lớn về kinh tế. Tại Bến Tre, trong
năm 2008 có 130 hộ nuôi Cá Tra, với 650 ha diện tích mặt nước nuôi, sản lượng
đạt 100.223 tấn. Tuy nhiên, việc phát triển tự phát chưa có qui hoạch, mức độ thâm
canh cao, trong khi kiến thức về quản lý chăm sóc ao nuôi, ý thức về bảo vệ môi
trường nuôi, kinh nghiệm và kiến thức về quản lý dịch bệnh của người nuôi còn
hạn chế, tình trạng sử dụng thuốc và hóa chất tràn lan đã làm cho môi trường ngày
càng xấu đi, dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều [10], [11].

phẩm
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Kết quả nghiên cứu cung cấp các thông tin khoa học góp phần xây dựng
hệ thống quản lý bệnh cho cá tra nuôi tại Bến Tre.
- Các biện pháp phòng ngừa bệnh mủ gan bằng giải pháp môi trường và kỹ
thuật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình nuôi cá tra thâm canh.
Do kinh nghiệm của bản thân về lĩnh vực đang nghiên cứu còn nhiều hạn
chế, nên bản luận văn này sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận
được sự đóng góp ý kiến và lượng thứ của quí Thầy Cô, các anh chị và bạn bè
đồng nghiệp. PHẦN 1
TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre
Tỉnh Bến Tre nằm ở hạ lưu châu thổ Sông Mekong, về phía tây Nam bộ,
thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi
cho canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Giới hạn bởi 9
o
48’ – 10
o
20’ độ vĩ
Bắc, 105
o
57’ – 106
o
48’ độ kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới

2
trong đó bao gồm
1.812 km
2
đất nông nghiệp. Dân số Bến Tre khoảng 1.369.358 người. Hệ thống
sông ngòi, kênh rạch chằn chịt khoảng 6.000 km (các sông lớn: sông Cổ Chiên 82
km, sông Hàm Luông 71 km, sông Ba Lai 59 km, sông Cửa Đại 83 km) chở phù sa
chảy khắp ba dải cù lao là một lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy,

hệ thống thủy lợi, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hóa với các
tỉnh lân cận. Vào mùa khô, gió chướng mạnh đưa nước biển vào sâu trong nội
đồng, dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn xảy ra vào khoảng 2 tháng cuối mùa khô,
gây trở ngại cho hoạt động nông nghiệp và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho
sinh hoạt. Vào giữa đến cuối mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 11) nước lũ từ thượng
nguồn Sông MeKong tràn về, theo dòng nước lũ, tôm cá trên sông MeKong di trú
về làm cho nguồn lợi thủy sản khá dồi dào. Là tỉnh gần biển nên lũ không ảnh
hưởng nhiều đến các công trình giao thông thủy lợi, cây trồng, nhưng nó lại ảnh
hưởng đến dịch bệnh trên Cá Tra nuôi thâm canh như bệnh mủ gan thường xuất
hiện vào mùa lũ [2].
Về hành chính, tỉnh Bến Tre có một thành phố và tám huyện, trong đó có ba
huyện ven biển Đông có ưu thế về khai thác thủy sản, nuôi tôm Sú, Nghêu và Sò
Huyết, đó là các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Các huyện còn lại là Châu
Thành, Giồng Trôm, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc có ưu thế về sản xuất
nông nghiệp và nuôi thủy sản nước ngọt như Cá Tra, Tôm Càng Xanh… Tổng
diện tích nuôi thủy sản năm 2008 của Bến Tre là 42.106 ha, tăng 6% so với cùng
kỳ năm 2007. Sản lượng nuôi đạt 158.995 tấn, tăng 60,8% so với cùng kỳ năm
2007. Tổng kim ngạch xuất khẩu của thủy sản năm 2008 đạt 70,098 triệu USD
chiếm khoảng 38,1% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Trong đó sản lượng cá Tra
xuất khẩu là 22.442 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 53,111 triệu USD [10].
1.2. Tình hình nuôi Cá Tra ở Bến Tre

Bệnh hoại tử và nhiễm trùng máu do E, tarda đã xuất hiện đầu tiên trên các
loài cá nhiệt đới ở Châu Mỹ và Châu Á [27]. E. tarda được là vi khuẩn gram âm,
hình que, di động yếu, đường kính khoảng 1µm, dài 2 - 3 µm, lên men đường, sinh
khí, phát triển ở nồng độ muối 3‰ và chịu được nhiệt độ cao [41]. Vi khuẩn E.
tarda được phân lập ở Nhật Bản với tên gọi đầu tiên là Paracolabacterium
anguillimortiferum [25]. Khi gây bệnh ở các loài cá khác nhau, E. tarda có thể
gây ra những dấu hiệu bệnh lý không giống nhau. Chúng gây bệnh mủ trên gan,
thận ở Cá Chình Nhật Bản (Anguilla japonica) và ở Cá Bơn (Paralichthys
olivaceus) [29], [30]; ở cá nheo Mỹ Ictalurus sp bệnh gây ra những đốm trắng nhỏ
trên da ở phần đuôi, từ đó vết thương tổn có thể tạo thành vết loét sâu vào trong cơ,
kèm theo hiện tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có
khả năng sinh H
2
S. Ở Mỹ E. tarda gây bệnh nhiễm trùng máu cấp tính trên Cá
Nheo (Ictalurus punctatus), bệnh gây ra những đốm trắng nhỏ trên da ở phần đuôi,
từ đó vết thương tổn có thể tạo thành vết loét sâu vào trong cơ, kèm theo hiện

tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có khả năng sinh
H
2
S và gây tỉ lệ hạo hụt cao [16]. Ước tính thiệt hại do bệnh nhiễm trùng máu ở Cá
Nheo nuôi công nghiệp tại Mỹ khoảng 60 triệu USD/ hàng năm [38].
Bệnh ESC cũng đã được biết là bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho nghề nuôi Cá
da trơn ở Mỹ, có tần số bắt gặp là 32,9% [24] bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào
năm 1976, đến 1979 được Hawke và ctv xác định là bệnh do một loài vi khuẩn
mới thuộc họ Enterobacteriaceae gây ra và tác nhân này có quan hệ gần gũi với
loài vi khuẩn E. tarda nên được đặt tên là E. ictaluri [22]. Những nghiên cứu
ban đầu cho rằng E. ictaluri có ký chủ đặc hữu là cá da trơn nên không phải là mối
nguy đối với các loài cá khác trong cùng một ao. Tuy nhiên, vi khuẩn này đã được
phân lập từ đường ruột của nhiều loài cá khác nhau, vì vậy người ra cho rằng,

sọ xâm nhập đến da và nội tạng gây ra những biến đổi đặc trưng như hình thành lỗ
hổng ở phần đầu (hole in the head), bơi lội hỗn loạn thường bơi xoắn và gần tằng
mặt [22], [24].
Vi khuẩn E. ictaluri có thể xâm nhập vào cá theo hai hướng khác nhau: khi
điều kiện môi trường nước thuận lợi, vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ quan khứu
giác của cá theo đường mũi sau đó chúng di chuyển đến dây thần kinh khứu giác
để tấn công vào não, sự nhiễm trùng này lan rộng đến màng não và da gây nên
hiện tượng “đầu trên đuôi dưới” và E. ictaluri có thể xâm nhập vào máu, gây
nhiễm trùng máu, chính vì thế làm cho biểu bì da bị họai tử và mất sắc tố.
E.ictaluri gây sưng gan và hoại tử trên gan, thận, tỳ tạng của cá Nheo Mỹ [35]. Vi
khuẩn E. ictaluri được tìm thấy trong máu và tại các cơ quan như thận trước và
sau, não, gan, tỳ tạng, buồng trứng, tuyến tụy và cơ trên cá Nheo Mỹ [28].
Cá Tra (P. hypophthalmus) được nuôi ở Indonesia có dấu hiệu bệnh lý
tương tự như bệnh “mủ gan” trên Cá Tra ở Việt Nam, bệnh được thông báo từ
tháng 2 năm 2002. Bệnh xảy ra lần đầu tiên tại hai nông trại nuôi cá ở miền trung
Sumatra, gây chết 50-100% cá nuôi trong 2 tuần với dấu hiệu bệnh lý như: mang
nhợt nhạt, bụng sưng to, xuất huyết ở gốc vây và xung quanh hậu môn, giải phẫu
nội tạng cho thấy gan, tỳ tạng và thận trước có nhiều đốm trắng với đường kính 1 -
2mm. Từ gan, thận của cá bệnh người ta đã phân lập được một dạng vi khuẩn hình
que, gram âm, kích thước thay đổi từ 1.2 - 15mm, có khả năng di động nhưng yếu
ở 25
o
C, không di đông ở 37
o
C, kiểm tra các phản ứng sinh hóa bằng API 20 kit cho
thấy hầu hết các đặc điểm sinh hóa của các chủng phân lập đều giống với
Edwardsiella ictaluri là vi khuẩn gây bệnh ESC (enteric septicemia of catfish). Thí
nghiệm cảm nhiễm ngược với các chủng vi khuẩn bằng các phương pháp tiêm vào
cơ, xoang bụng và phương pháp ngâm đều gây chết 100% cá thí nghiệm trong
vòng một tuần với những dấu hiệu đặc thù của bệnh. Vi khuẩn phân lập lại từ cá

o
C và thấp hơn có ý nghĩa khi nuôi ở 18
o
C (10%) và 30
o
C (23%); khi
nuôi cá đã bị cảm nhiễm vi khuẩn ở các nồng độ muối 0‰, 0.1‰, 1‰, 2‰, 3‰, ở
25
0
C trong 28 ngày, tỷ lệ chết tích lũy lần lượt là 100%, 96%, 33%, 45%, 17%.
Đây là những nghiên cứu cho thấy rằng việc kiểm soát các yếu tố môi trường như
nhiệt độ và độ muối có thể giảm thiểu sự bùng phát của bệnh [36]. Trong nuôi
công nghiệp, tỷ lệ chết tích lũy do bệnh này có thể đạt 100%. Bệnh gây thiệt hại
lớn ở giai đọan cá giống đến cá lớn khoảng 300 g, làm giảm mật độ nuôi trong ao
và gây thiệt hại lớn về sản lượng cho nghề nuôi cá da trơn công nghiệp [23].
Bệnh ES và ESC là bệnh do vi khuẩn gây ra nên có thể chữa trị bằng nhiều
loại kháng sinh khác nhau. Ở Mỹ có sáu nhóm thuốc và hóa chất cho phép sử dụng
trong nuôi trồng cá da trơn, đó là: chorionic gonadotropin, formalin solution,
tricaine methanesulfonate, oxytetracycline, sulfamerazine và sulfadimethoxine/
ormetoprim [44]. Theo Plumb (1999), ở Mỹ có hai loại kháng sinh được FDA
(Food and Drug Administration] cho phép sử dụng để điều trị bệnh ESC ở cá da
trơn là oxytetracycline và sulfadimethoxine/ormetoprim với liều lượng như sau:
oxytetracycline sử dụng với liều lượng 50 – 75 mg/kg cá/ngày, sử dụng liên tiếp từ
12 – 14 ngày, sulfadimethoxine/ormetoprim sử dụng với liều 50 – 75 mg/kg
cá/ngày, sử dụng liên tiếp 5 ngày, kháng sinh Flofenicol dùng với liều lượng 10
mg/kg cá trong 10 ngày có hiệu quả trị bệnh [32], [34].
Bệnh nhiễm khuẩn ở thận cá (Bacterial Kidney Disease of fish) gây ra bởi
Renibacterium salmoninarum, là một vi khuẩn hình que ngắn hơi tròn 0.5 – 1 µm,
gram dương, không sinh bào tử, không vận động nhưng thường xếp với nhau theo


Bệnh có thể xảy ở giai đoạn cá hương, cá giống đến giai đoạn cá nuôi thịt và giảm
dần sau giai đoạn 5 tháng tuổi [12].

Bệnh thường xảy ra vào mùa nước lũ, cao điểm vào tháng 7 và tháng 8. Tỉ lệ
chết tích lũy từ 10 - 90% nếu không có biện pháp kỹ thuật kịp thời [2]. Tuy nhiên,
kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm lại cho rằng bệnh thường xảy ra vào
mùa mưa, nhất là mùa nước rút tháng 11 – 12 hàng năm [2], [12], [19]. Theo kết
quả điều tra của Trần Anh Dũng (2005), tỉ lệ xuất hiện bệnh mủ gan ở An Giang
trên Cá Tra trong mô hình nuôi ao là 61%, mô hình nuôi bè là 73,9%, mô hình
nuôi đăng quầng là 88% [3].
Do đặc điểm phân bố địa lý, Cá Tra được nuôi chủ yếu ở khu vực hạ lưu
sông Mekong, phổ biến ở các nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuy nghề nuôi cá
Tra đã có từ lâu đời, các bệnh về Cá Tra vẫn ít được nghiên cứu. Tại Việt Nam,
các kết quả nghiên cứu về bệnh mủ gan trên Cá Tra như sau:
Nghiên cứu của trường đại học Cần Thơ (Việt Nam) kết hợp với đại học
Stirling (Anh) lần đầu tiên đã công bố về tác nhân gây bệnh hoại tử nội tạng trên
cá tra nuôi ở Việt Nam vào năm 2001. Thông báo này cho rằng Bacillus fumarioli
chính là tác nhân gây bệnh mủ gan của cá Tra nuôi ở ĐBSCL. Thí nghiệm cảm
nhiễm nhân tạo của nhóm tác giả này đã được thực hiện và cá khỏe sau khi bị tiêm
vào xoang bụng của cá một lượng vi khuẩn là 2 x 10
7
CFU, sau bảy ngày thí
nghiệm cá đã xuất hiện bệnh tích tương tự cá bị cảm nhiễm tự nhiên [19].
Tuy nhiên, vào năm 2002 nhóm tác giả này đã cải chính lại rằng tác nhân
gây bệnh mủ gan ở cá tra lại là Edwardsiella ictaluri. và vi khuẩn này đã được
nuôi cấy phân lập trong phòng thí nghiệm trên môi trường EIA (Edwardsiella
ictaluri agar). Kết quả định danh cho thấy mặc dù các chủng vi khuẩn này mang
những đặc trưng cơ bản của Edwardsiella ictaluri nhưng có một số đặc điểm khác
biệt so với chủng chuẩn. Thông thường E.ictaluri là trực khuẩn nhỏ, kích thước
1µm x 2 - 3µm. Tuy nhiên, những chủng vi khuẩn phân lập từ Việt Nam cho thấy

Hình 1.2: Hafnia alvei - trực khuẩn G (-) (A); Có ký sinh nội bào (B)

Nhóm tác giả này đã cảm nhiễm với hai chủng vi khuẩn này bằng cách
tiêm vào xoang bụng 0,2 mL ở nồng độ 5 x 10
8
CFU/mL, cá chết sau 5 ngày tiêm
và chết tập trung kể từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 7, tỷ lệ chết cao từ 80 - 85% cá thí
nghiệm với những biểu hiện bệnh tích giống như cá bị bệnh ngoài tự nhiên.
A

Hình 1.1: Cá Tra bị bệnh mủ gan: các đốm trắng trên gan, thận, lá lách (A);
Vi khuẩn E. ictaluri dưới kính hiển vi quang học (B);
Vi khuẩn E. ictaluri phát triển trên môi trường TSA sau 48 giờ (C).
A

B

C

A

BVi khuẩn Hafnia alvei còn được gọi với nhiều tên khác nhau như: Bacillus
asiaticus (Castellani, 1912), Bacterium cadaveria (Gale EF and Epps. HMR.
1943), Enterobacter alvei (Sakazaki.R. 1961), Enterobacter aerogenes subsp.
hafniae (Ewing WH. And Fife MA, 1968), đến 1954, Moeller đã xác định tên
chính xác là H. alvei và là loài duy nhất của giống Hafnia. Đây là tác nhân được
thông báo là gây một số bệnh cho người và động vật trên cạn như: bệnh đường

Hình 1.3: Clostridium sp trực khuẩn G (+), có nội bào tử (A);
Có ký sinh nội bào (B); Có tiên mao (C)

Theo Nguyễn Hữu Thịnh và ctv (2004), khi phân tích mô học của 241 mẫu
Cá Tra, trong đó có 181 con có biểu hiện của bệnh mủ gan, các mẫu còn lại là cá
khỏe. Cá được thu từ An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp với cả hai hình thức nuôi
là ao và bè đã đưa ra kết luân là những biểu hiện về mặt vi thể khi cá tra bị bệnh
đốm trắng ở gan do vi khuẩn là sự xung huyết, xuất huyết và cuối cùng là sự xuất
hiện từng vùng hoại tử trên cá cơ quan gan, thận và tỳ tạng, ở từng giai đoạn bệnh
cá sẽ có những biểu hiện khác nhau. Những cụm vi khuẩn xuất hiện ở rìa của các
vết thương, vết hoại tử. Mô mang, cơ và tim không có những biến đổi lớn khi cá bị
bệnh mủ gan [13].
Ngoài vi khuẩn, ký sinh trùng thuộc nhóm thích bào tử trùng Myxobolus đã
gặp ký sinh ở nhiều cơ quan khác nhau của cá tra bị bệnh đốm trắng ở gan, thận và
lách, tim. Khi nhiễm bệnh, cá bơi lội không bình thường, hay quẫy mạnh, dị hình
cong đuôi, cá kém ăn rồi chết [4], [5].
Bệnh mủ gan trên Cá Tra đã được xác định là bệnh do vi khuẩn [2], [12],
[15], [19] nên khi bệnh xảy ra đa số người nuôi đều sử dụng nhiều loại kháng sinh
khác nhau để điều trị. Tuy nhiên, theo Nguyễn hữu Thịnh, việc sử dụng kháng
sinh tùy tiện, không đúng liều lượng và phác đồ điều trị đã làm giảm hiệu quả của
thuốc kháng sinh. Hơn nữa việc hình thành chủng vi khuẩn Edwarsiella ictaluri đề
kháng kháng sinh đã làm giảm hiệu quả điều trị [13].
A

B

CTừ Thanh Dung và ctv (2004) đã thông báo về kết quả kiểm tra kháng sinh


90%. Trường hợp mãn tính thịt cá có điểm xuất huyết màu đỏ và giảm giá trị
thương phẩm. hiện nay vẫn chưa có biện pháp phòng trị hữu hiệu [6].
Cũng như một số loài cá nước ngọt khác, bệnh trắng đuôi do vi khuẩn
Pseudomonas sp cũng xuất hiện trên Cá Tra ở giai đọan cá hương, cá giống. Thời
kỳ đầu của bệnh, ở vị trí gần đuôi có một điểm trắng sau đó lan dần về phía trước
cho đến vây lưng và vây hậu môn, cả đoạn thân sau màu trắng. Bệnh nặng cá cắm
đầu xuống dưới, đuôi hướng lên trên tạo thành góc vuông với mặt nước, còn gọi là
cá “trồng cây chuối”, cá bệnh chết nhanh chóng và hàng loạt trước khi chết có hiện
tượng co giật [4].
Cá Tra giống thường bị nhiễm các nhóm ký sinh trùng đơn bào và đa bào có
chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian như trùng bánh xe
(Trichodina), thích bào tử trùng (Myxobolus, Henneguya), trùng miệng lệch
(Chilodonella), sán lá đơn chủ (Datylogyrus, Gyrodactylus), trùng mỏ neo
(Lernaea). Chúng gây thành bệnh và làm thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi cá.
Cho đến nay đã phát hiện được 29 loài ký sinh trùng trên Cá Tra. Trong đó nhóm
ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) gặp 21 loài thuộc 10 giống: Cryptobia,
Ceratomyxa, Myxobolus, Henneguya, Balantidium, Ichthyophthyrius, Epistylis,
Apisoma, Trichodina, Tripatiella; sán lá đơn chủ (Monogenea) gặp 2 loài thuộc
giống Thaparocleidus; sán dây (Cestoidea) gặp 2 loài: Lystocestus varvulus,
Proteocephalus osculatus; sán lá song chủ (Tremtoda) gặp 1 loài: Bucephalopsis
gracilescens; giun tròn (Nematoda) gặp 2 loài: Spectatus pangasia, Cucullanus
chabaudi; giáp xác (Crustacea) gặp một loài: Egasius sp [5].
Cho đến thời điểm này, chưa có một nghiên cứu nào về bệnh cá tra nuôi tại
Bến Tre thực sự được công bố. Năm 2008, một sinh viên ngành bệnh học của
Trường Đại học Nha Trang đã vào Bến Tre để thu mẫu cá bệnh cho nghiên cứu
phân tích tác nhân gây bệnh mủ gan, nhưng kết quả của những nghiên cứu này đến
tận bây giờ vẫn chưa được công bố chính thức. Do vậy, việc tìm hiểu tình hình lưu
hành của bệnh này ở các vùng nuôi cá tra tại Bến Tre, một số đặc điểm dịch tễ của
bệnh để làm cơ sở cho công tác quản lý và phòng bệnh là thật sự cần thiết. Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre

CHÂU THÀNH
BÌNH
ĐẠI
GIỒNG
TRÔM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status