iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn
cùng cấp nào khác.
Tác giả Nguyễn Văn Dũng
ii
LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Thị Hòa đã tận tình giúp đỡ,
hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quí thầy cô Khoa Nuôi trồng Thủy sản -
Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt khóa học.
Xin cảm ơn các cán bộ Phòng thí nghiệm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Bến Tre, toàn thể anh em Trại cá Châu Bình - Giồng Trôm đã nhiệt tình hỗ trợ tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn các anh chị lớp cao học nuôi trồng thủy sản 2006, các anh chị tại
Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
đề tài này.
Sau cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Nha Trang, tháng 7 năm 2010
2.1.2 Hình thái 2
2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố 3
2.1.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng 4
2.2 Nghề nuôi cá tra trên thế giới và Việt Nam 5
2.2.1 Nghề nuôi cá tra trên thế giới 5
2.2.2 Nghề nuôi cá tra tại Việt Nam 6
2.2.3 Nghề nuôi cá tra tại Bến Tre 7
2.3 Đặc điểm và những biến động của các yếu tố môi trường trong các hệ thống
nuôi cá da trơn 7
2.3.1 Những nghiên cứu của thế giới 7
2.3.1.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh
9
2.3.2 Những nghiên cứu của Việt Nam 10
2.3.2.7 Chỉ tiêu sinh vật - vi khuẩn tổng số 12
2.3.2.8 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh
12
2.3.2.9 Vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh 13
2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra trên thế giới và tại Việt Nam 14
2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới 14
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 18
3.2. Sơ đồ khối/phương pháp nghiên cứu: 19
iv
3.3.Phương pháp nghiên cứu: 20
3.3.4 Theo dõi một số yếu tố môi trường 23
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26
4.1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Bến Tre. 26
Bảng 2.2: Diện tích và sản lượng cá tra của Việt Nam từ năm 2005 - 2009 6
Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng cá tra của tỉnh Bến Tre từ năm 2005 - 2009 7
Bảng 3.1: Các thông số kỹ thuật của 06 ao thí nghiệm 20
Bảng 4.1: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi sáng ở các nghiệm thức nuôi
có mật độ khác nhau (mg O
2
/L) 29
Bảng 4.2: Biến động hàm lượng DO trung bình vào buổi chiều tại các nghiệm thức
nuôi có mật độ khác nhau (mg O
2
/L) 30
Bảng 4.3: Biến động pH ở các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau 32
Bảng 4.4: Hàm lượng NH
3
trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức 33
có mật độ nuôi khác nhau 33
Bảng 4.5: Biến động hàm lượng NO
3
-
trung bình của 2 ao ở các nghiệm thức nuôi có
mật độ nuôi khác nhau 35
Bảng 4.6: Biến động của hàm lượng BOD
5
trung bình ở 2 ao của các nghiệm thức mật
độ nuôi khác nhau (mg/L) 37
Bảng 4.7 : Diễn biến nhiệt độ tại các nghiệm thức nuôi có mật độ khác nhau (
o
C) 39
Bảng 4.8. Diễn biến độ trong trung bình của các nghiệm thức mật độ thí nghiệm qua
các tháng nuôi 41
trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 36
Hình 4.5: Diễn biến BOD
5
trung bình ở 3 nghiệm thức nuôi với mật độ khác nhau 37
Hình 4.6 Diễn biến nhiệt độ trung bình buổi sáng ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm. 40
Hình 4.7 Diễn biến nhiệt độ trung bình buổi chiều ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 40
Hình 4.8: Diễn biến độ trong trung bình ở 3 nghiệm thức có mật độ nuôi khác nhau 42
Hình 4.9: Diễn biến TSS trung bình ở 3 nghiệm thức mật độ thí nghiệm 43
Hình 4.10: Biến động mật độ vi khuẩn tổng số tại trung bình của các nghiệm thức thí
nghiệm. 45
Hình 4.11: Biểu đồ sinh trưởng khối lượng của cá tại các nghiệm thức thí nghiệm theo
thời gian nuôi. 47
Hình 4.12: Bệnh gan thận mủ 50
Hình 4.13: Bệnh trắng mang, trắng gan và Bệnh xuất huyết, phù đầu, phù mắt 50
Hình 4.14: Bệnh vàng da 50
Hình 4.15: Tỷ lệ sống của cá tra tại 3 nghiệm thức mật độ khi kết thúc vụ nuôi. 52
Hình 4.16: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận của cá tra tại 3 nghiệm thức mật độ sau khi kết thúc
vụ nuôi. 53
1
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nghề nuôi cá tra xuất khẩu phát triển rất mạnh ở các tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Bến Tre, trong năm 2009 sản lượng cá tra sản
xuất được trong toàn vùng gần 1 triệu tấn và giá trị xuất khẩu hơn 1 tỷ USD. Tuy nhiên
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra
2.1.1 Hệ thống phân loại
Loài cá tra nuôi được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia, tên
khoa học của cá tra có nhiều tên khác nhau. Trước đây, cá tra được xếp vào họ
Shilbeidae và tên khoa học của chúng là Pangasius micronemus Bleeker, 1847 [34],
[12]. Ngoài ra, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cá tra còn có tên khoa học khác là
Pangasius sutchi [39]. Gần đây một số tác giả lại xếp cá tra vào một giống khác
Pangasianodon hypophthalmus [55]. Theo kết quả định danh lại của Roberts và
Vidthayanon (1991) cá tra có tên khoa học là Pangasius hypophthamus [68]. Fishbase
(www.fishbase.org, 9/2008) cá tra có hệ thống phân loại như sau:
Ngành động vật có xương sống: Vetebrata
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ cá nheo: Silurifomes
Họ cá tra: Pangasiidae
Giống cá Tra: Pangasianodon
Loài cá Tra: Pangasianodon hypophthamus (Sauvage, 1878)
Tên tiếng Anh: Sutchi catfish
Tên thương mại: Tra catfish
2.1.2 Hình thái
Cá tra có vẩy bị thoái hóa, mắt nhỏ hoặc tiêu biến, có cơ quan hô hấp phụ và có
khả năng hô hấp qua da, qua xoang miệng vì vậy chúng có khả năng sống lâu trong
bùn, trên cạn nhưng phải đảm bảo đủ độ ẩm cho da. Cá có thể tồn tại trong môi trường
nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp, nước bị nhiễm phèn có pH=4 (pH<4 cá bị sốc sẽ
bỏ ăn), ít chịu đựng được nhiệt độ thấp hơn 15
o
C và lớn hơn 39
o
2.1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra tăng trưởng tương đối nhanh, cá tra cùng cá vồ cờ (Pangasius
sanitwongsei) là hai loài cá tăng trưởng rất nhanh nhất trong 10 loài thuộc họ
Pangasiidae [57]. Cá tra bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1 - 1,1 cm, sau
14 ngày ương đạt 2,0 - 2,3 cm và có trọng lượng là 0,52 g. Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28 - 1,5
g chiều dài 5 - 6 cm. Sau 1 năm cá đạt 0,7 - 1,5 kg và đến 3 - 4 tuổi đạt 3 - 4 kg. Cá
còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy mỡ, cần
có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng còn tùy
thuộc rất lớn vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn cung cấp. Độ béo cũng
tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo tăng nhanh nhất, qua các
năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có trọng lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá
560 g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62 kg có độ béo là 1,62%. Cá đực có độ
béo cao hơn cá cái [32].
2.1.4.2 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu
cái. Gai trên cung mang thưa và ngắn nên không có tác dụng lọc thức ăn như các loài
cá phiêu sinh động vật. Dạ dày dạng chữ U, ruột ngắn và không gấp khúc. Với đặc
điểm trên nên trong tự nhiên, tính ăn của cá tra thiên về động vật. Ở giai đoạn cá bột
và cá hương, chúng thích ăn mồi sống, nhưng trong quá trình phát triển thì chúng thích
ăn mồi chết và phổ thức ăn rất rộng.
Theo Trần Thanh Xuân (1994), khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày
của cá tra đánh bắt trong tự nhiên có tỉ lệ thành phần thức ăn trong dạ dày được trình
bày ở Bảng 2.1 [32].
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên
Loại thức ăn Tỉ lệ (%)
Cá tạp
Ốc
Thực vật
Mùn bã hữu cơ
37,8
nghề nuôi cá tra truyền thống là Campuchia, Thái Lan và Việt Nam, do có nguồn cá tự
nhiên phong phú. Ở Campuchia tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài họ cá tra,
chỉ có 2% là cá basa và vồ đém. Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia
cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX [19].
Ở Thái Lan và Campuchia thì cá Pangasius sutchi được nuôi trong ao và bè. Từ
trước nhóm cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và
Campuchia. Hê thống nuôi này cũng được áp dụng ở Châu Âu và Mỹ [62]. Trước đây
nhu cầu về sản phẩm cá catfish (Cá heo Mỹ - Ictalurus punctatus Rafinesque) đối với
người dân Mỹ còn rất hạn chế, sau khi các chiến dịch tiếp thị của các trại nuôi cá
catfish và doanh nghiệp chế biến thủy sản thì nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ
6
cá catfish tăng lên. Nếu như năm 1970 các nhà nuôi ở Mỹ chỉ sản xuất 2.580 tấn thì
năm 2001 đã lên tới 271.000 tấn. Các trại nuôi cá catfish chủ yếu tập trung ở đồng
bằng sông Missisipi, Alabama, Arkansas và Louisiana [58].
2.2.2 Nghề nuôi cá tra tại Việt Nam
Nuôi cá tra, basa ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX, xuất phát
từ Đồng bằng sông Cửu Long, ban đầu chỉ nuôi ở quy mô nhỏ, nhằm tự cung tự cấp
thực phẩm. Các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao hầm, mương vườn và nguồn
thức ăn sẵn có. Cuối thập niên 90, nghề nuôi cá tra, basa đã có những bước tiến vượt
bậc, các doanh nghiệp đã tìm được thị trường xuất khẩu, các nhà khoa học đã thành
công trong quy trình sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thâm canh đạt kết quả cao. Việc
chủ động sản xuất giống cá tra, basa nhân tạo, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất đã mở ra
khả năng sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa [19].
Ở khu vực miền Tây Nam bộ hệ thống nuôi cá tra, basa đặc trưng là nuôi bè,
nuôi ao, đăng quầng ở vùng sông Hậu tỉnh Ðồng Tháp và An Giang. Nghề nuôi cá da
trơn trên bè bắt đầu vào những năm 1968, khi nhóm người Việt Nam sinh sống ở
Campuchia sơ tán về hạ lưu sông Mekong do tình hình chiến tranh [66]. Ðiều kiện tự
nhiên ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết
2009 715 90.000
(Nguồn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre)
Việc mở rộng diện tích ao nuôi cá tra thâm canh trong vài năm qua đã làm suy
thoái nghiêm trọng môi trường nước, thể hiện qua tình hình dịch bệnh ngày càng tăng
qua các năm. Nhất là hiện nay, đa số người dân áp dụng nuôi cá theo công nghệ mới,
để nâng cao năng suất và cải thiện thịt cá, việc thay nước được thực hiện liên tục.
Trong khi hệ thống ao xử lý hầu như không được quan tâm để xử lý nước thải trước
khi thải ra môi trường, điều này đã làm suy giảm môi trường nghiêm trọng.
2.3 Đặc điểm và những biến động của các yếu tố môi trường trong các hệ thống
nuôi cá da trơn
2.3.1 Những nghiên cứu của thế giới
2.3.1.1 Nhiệt độ
Zimmermann (1998) thì nhận định rằng nếu nhiệt độ cao hơn 34
o
C diễn ra
trong thời gian dài thì động vật thuỷ sản sẽ không sống được và tất nhiên thời gian còn
phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, nếu nhiệt độ <19
o
C hoặc > 42
o
C thì tôm cá sẽ bị
chết [24]. Riêng đối với cá da trơn theo NRC (1993) thì nhiệt độ từ 26 - 30
o
C là lý
tưởng [63].
8
2.3.1.2 pH
Theo (Boyd, 1990) thì khoảng tối ưu cho tôm cá nước ngọt phát triển và sinh
Nitrate có trong thủy vực là do quá trình nitrate hóa, NO
2
-
bị oxy hóa thành
NO
3
-
Vi khuẩn tham gia vào quá trình nitrate hóa ở cá thủy vực nước ngọt có vi khuẩn
Nitrobacter europara. Vi khuẩn này phân bố rất ít trong thủy vực nước sạch, nghèo
dinh dưỡng, quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra khi có mặt oxy, trong môi trường yếm khí
với sự có mặt của hydrate carbon sẽ xảy ra quá trình phản nitrate hóa, quá trình này
khử nitrate qua nitrite thành NO, N
2
O, NH
2
OH, NH
3
và N
2
. Vi khuẩn tham gia quá
trình này bao gồm các loài kỵ khí không bắt buộc như Bacillus, Pseudomonas [73].
Trong điều kiện hiếu khí, chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy hòa tan
trong nước, còn trong điều kiện kỵ khí chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng con
9
đường khử hydro để chuyển hydro cho nitrate và nitrite. Quá trình này không có lợi vì
nó làm mất nitơ trong thủy vực và tạo thành các chất độc hại cho thủy sinh vật như
NH
3,
2
S và CH
4
(mê-tan). Lượng
ammoni thoát ra ở bên ngoài lồng bè và thêm vào đó là sự xáo trộn nền đáy sẽ xảy ra
hiện tượng ammoni hoà tan vào nước nhanh dẫn đến tổng hàm lượng nitơ (TN) tăng
lên nhanh chóng [46].
Gần đây các nhà khoa học rất quan tâm đến sự ô nhiễm vật chất hữu cơ từ nuôi
trồng thuỷ sản và đề xuất các biện pháp để xử lý chất thải từ nuôi thuỷ sản [58]. Tuy
nhiên, việc lắp đặt hệ thống xử lý cho trại nuôi tôm, cá ở quy mô lớn chi phí rất cao.
Nước thải từ nuôi thuỷ sản được sử dụng cho các hoạt động xản suất nông nghiệp
trong hệ thống nuôi thuỷ sản kết hợp dẫn đến sự bền vững về kỹ thuật cùng như về
khía cạnh môi trường [53], [43]. Theo Boyd (1998) nguồn nitơ vào ao nuôi chủ yếu từ
thức ăn, lượng nitơ cao chủ yếu do sản phẩm thải của cá và thức ăn dư thừa, có 26,8%
nitơ và 30,1% phốtpho từ thức ăn được tích luỹ trong cá. Khi sản xuất 1kg cá nuôi sẽ
tiêu thụ 1,32 kg thức ăn và thải ra môi trường 51,1 g N và 7,2 g P [36].
10
Để tận dụng nguồn dinh dưỡng trong hệ thống ao nuôi một cách hiệu quả, một
thí nghiệm về nuôi ghép cá trê lai và cá rô phi thâm canh với mục tiêu tận dụng nguồn
dinh dưỡng dư thừa đã được Nguyễn Thanh Long và Yi (2004) thực hiện và kết quả là
nhu cầu nitơ để sản xuất 1 kg cá dao động 52,1 - 52,4 g và nhu cầu lân là 6 g trong hệ
thống nuôi ghép và 57,5 g trong hệ thống nuôi đơn, đồng thời thải ra môi trường một
lượng 17,6 - 21,7 g nitơ và 3 g lân [16].
2.3.2 Những nghiên cứu của Việt Nam
2.3.2.1 Nhiệt độ
Theo Lê Như Xuân (1994) thì khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
cá nhiệt đới là 25 - 30
o
C [31]. Như vậy với khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng
(2003) khi nghiên cứu về ngưỡng oxy dưới của cá tra đã kết luận rằng giá trị này nhỏ
hơn 2,0 mg/L [33].
2.3.2.4. Nhu cầu ôxy sinh hóa - BOD.
BOD là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy các
chất hữu cơ trong nước ở điều kiện hiếu khí. Ôxy sử dụng trong quá trình này là ôxy
hòa tan trong nước.
Chỉ số BOD chỉ là lượng ôxy mà sinh vật tiêu thụ trong phản ứng ôxy hóa các
chất hữu cơ trong nước, chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng
phân hủy sinh học trong nước càng lớn.
Để xác định chính xác nhu cầu ôxy sinh hóa, cần phải đo sau 20 ngày, vì thực
tế tại thời điểm đo sau 20 ngày khoảng 98 ÷ 99% lượng chất hữu cơ trong nước bị
ôxy hóa. Việc đo như vậy cần nhiều thời gian chờ đợi kết quả, cho nên có thể đánh
giá gần đúng bằng xác định BOD sau 5 ngày, vì tại thời điểm đo sau 5 ngày có
khoảng 70 ÷ 80% các chất hữu cơ bị ôxy hóa. Mặt khác có thể loại trừ được ảnh
hưởng của lượng ôxy tiêu thụ trong quá trình nitrat hóa. Chỉ tiêu này còn gọi là
BOD
5
[14], [29].
2.3.2.5 Tổng vật chất lơ lửng (TSS)
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú và Yang Yi (2003) cho thấy
vào thời điểm từ tháng 4 - tháng 6, tại một số điểm trên sông Hậu gần khu vực chợ thì
hàm lượng TSS thường vượt quá 200 mg/L [20].
Kết quả khảo sát hàm lượng TSS trong các ao nuôi cá tra thâm canh của Lê Bảo
Ngọc (2004) cho thấy hàm lượng này biến động rất lớn và cao (100 ± 273 mg/L, 112 ±
340 mg/L và 149 ± 415 mg/L) [18].
Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước
thường được dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), tổng chất rắn lơ
lửng phải ≤ 50 mg/L. Ở mức B (50 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤100 mg/L), thì được
đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các thủy vực quy định ở mức A. Nếu ở mức C
(100 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤200 mg/L), chỉ được phép thải vào các nơi quy
- Vi khuẩn dị dưỡng (Heterotrophic): Là vi khuẩn sử dụng các chất hữu cơ làm
nguồn năng lượng và nguồn cacbon để thực hiện quá trình sinh tổng hợp. Gồm có:
+ Vi khuẩn hiếu khí (Aerobes) cần ôxy hòa tan khi phân hủy chất hữu cơ để
sinh sản và phát triển.
+ Vi khuẩn kỵ khí (Anaerobes) chỉ hoạt động tốt trong điều kiện thiếu ôxy hoặc
sử dụng ôxy liên kết trong các hợp chất nitrat và sunphat.
+Vi khuẩn tùy nghi (Facultative) là nhóm vi khuẩn có cơ chế phát triển trong
điều kiện có hoặc không có ôxy hòa tan.
- Vi khuẩn tự dưỡng (Autotrophic): Là các vi khuẩn có khả năng ôxy hóa chất
vô cơ để thu năng lượng và sử dụng khí CO
2
làm nguồn cacbon cho quá trình sinh
tổng hợp. Thuộc nhóm này có vi khuẩn nitrat hóa, vi khuẩn lưu huỳnh, vi khuẩn sắt.
2.3.2.8 Ảnh hưởng của ô nhiễm chất hữu cơ trong ao nuôi cá da trơn thâm canh
Nuôi cá thâm canh trong ao đất thì cá được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tự
chế hoặc thức ăn công nghiệp. Thức ăn tự chế có hàm lượng đạm từ 20 - 30%. Nếu
cho ăn thừa thì thức ăn sẽ chìm xuống đáy ao, thối rữa tạo môi trường thuận lợi cho vi
khuẩn phát triển. Thức ăn thối rữa làm gia tăng sự phát triển của phiêu sinh vật trong
nước, phiêu sinh chết sẽ ảnh hưởng làm ô nhiễm nguồn nước. Theo Lê Huy Phước
(2002) thì việc sử dụng phân bón và thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm cho
13
nguồn nước thải từ các ao nuôi rất giàu các muối dinh dưỡng hoà tan, nhất là nitơ và
phốt-pho. Khi tổng hàm lượng đạm và tổng lân nâng cao dẫn đến hiện tượng phú
dưỡng hóa nguồn nước, vì thế nguồn nước xung quanh các khu nuôi tập trung sẽ có sự
thay đổi lớn hệ sinh vật của thuỷ vực, đồng thời làm ảnh hưởng trực tiếp đến các tính
chất thuỷ lý hoá của nguồn nước [23].
Việc cung cấp thức ăn trong quá trình nuôi thuỷ sản sẽ tuỳ thuộc vào mô hình
nuôi và đối tượng nuôi mà có thành phần và khẩu phần thích hợp. Trong thời gian nuôi
luôn có một lượng cac-bon và nitơ, ammonia, urea, bi-cacbonat, lân hoà tan, vitamine
14
Như vậy lượng chất thải ra môi trường ước tính khoảng hơn 1 triệu tấn, trong đó chứa
khoảng hơn 900.000 tấn chất hữu cơ, 29.000 tấn nitơ và 9.500 tấn phospho (tính trên
vật chất khô), khoảng 250 - 300 triệu m
3
nước thải và 8 -9 triệu tấn bùn thải [22].
Kết quả khảo sát của Trần Anh Dũng (2005) cho thấy có hai nguyên nhân chính
gây ra hao hụt trong quá trình nuôi cá tra ở những năm gần đây là do: (i) môi trường bị
ô nhiễm, chất lượng nước vùng nuôi bị suy giảm, đặc biệt là do các yếu tố môi trường
như pH, chất thải từ đồng ruộng, …. từ đó phát sinh dịch bệnh trên cá nuôi; (ii) chất
lượng con giống không đảm bảo nguyên nhân vì người sản xuất giống chạy theo số
lượng nên dùng quá nhiều kháng sinh ở giai đoạn cá giống làm cho việc phòng trị
bệnh trong giai đoạn nuôi cá thịt gặp nhiều khó khăn [7].
2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra trên thế giới và tại Việt Nam
2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh cá da trơn trên thế giới
Bệnh cá luôn được xem là một trong những tác nhân gây hao hụt lớn trong nghề
nuôi cá trên thế giới và Việt Nam. Nghề nuôi cá da trơn ở Mỹ và nhiều nước trên thế
giới đã phát triển vào đầu những năm 1980. Cùng với sự phát triển của nghề nuôi,
ngày càng có nhiều bệnh được phát hiện, bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho nghề nuôi cá
da trơn ở Mỹ là bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra trên
Cá Nheo Mỹ (Ictalurus punctatus Rafinesque) [47].
Giống Edwardsiella bao gồm hai loài đặc biệt gây bệnh trên cá đó là
Edwardsiella tarda [44], nhóm vi khuẩn này gây bệnh trên cá và cả những động vật
khác và Edwardsiella ictaluri [50] chỉ gây bệnh trên cá. Loài Edwardsiella tarda
thường gây hoại tử, thối rữa, nhiễm trùng máu trên các động vật nên có tên gọi là ES
(Edwardsiella septicaemia). Còn Edwardsiella ictaluri chỉ gây bệnh nhiễm trùng máu
trên cá da trơn nên có tên gọi là ESC (Edwardsiella septicaemia of catfish).
Bệnh Edwardsiella septicaemia xuất hiện đầu tiên trên các loài cá nhiệt đới ở
Châu Mỹ và Châu Á [59], tác nhân gây bệnh là E. tarda. Đặc điểm của E.tarda được
mô tả như sau: là vi khuẩn gram âm, hình que, di động yếu, đường kính khoảng 1µm,
(Brain heart infusion agar) và EIA (Edwardsiella ictaluri agar). Sau 36 - 48 giờ ủ ở 25 -
30
o
C mới xuất hiện những khuẩn lạc rất nhỏ (1 - 2 mm), hơi lồi, rìa bằng, không màu.
Vi khuẩn phát triển tốt ở 25 - 30
o
C, có thể tồn tại được 3 - 4 tháng trong nước ao, bùn
đáy, thực vật thủy sinh, sống sót tốt trong các mô đông lạnh [47], [49], [48], [69].
2.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh cá tra tại Việt Nam
Bệnh mủ gan được ghi nhận xuất hiện đầu tiên trên Cá Tra (Pangasianodon
hypophthalmus Sauvage, 1878) nuôi ở Đồng bằng Sông Cửu Long vào cuối năm 1998
[45], khi nghề nuôi Cá Tra xuất khẩu trở nên phổ biến ở mức độ thâm canh cao. Bệnh
có thể kéo dài hoặc gây chết cấp tính, gây tổn thất lớn trong nghề nuôi. Cá bị bệnh có
thể không biểu hiện dấu hiệu bất thường về bên ngoài, hoặc có một số dấu hiệu không
đặc trưng như: giảm ăn, bơi lội lờ đờ, da nhạt màu, cá gầy yếu, bụng sưng to, có xuất
huyết ở quanh miệng và hậu môn. Giải phẫu nội tạng là phương pháp chẩn đoán lâm
sàng tốt nhất cho bệnh này. Nội quan cá bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng từ 1 - 3 mm
trên gan, thận, lá lách [6]. Chính vì thế mà bệnh này còn được gọi với nhiều tên khác
nhau như: bệnh đốm trắng, bệnh trắng gan, bệnh gan thận mủ, bệnh mủ gan thận, bệnh
hoại tử nội tạng [9], [6], [41], [45], [54]. Các cơ quan gan, thận, lá lách sưng to, đặc
biệt thận sưng và mềm nhũn. Bệnh có thể xảy ở giai đoạn cá hương, cá giống đến giai
đoạn cá nuôi thịt và giảm dần sau giai đoạn 5 tháng tuổi [25].
16
Bệnh thường xảy ra vào mùa nước lũ, cao điểm vào tháng 7 và tháng 8. Tỉ lệ chết
tích lũy từ 10 - 90% nếu không có biện pháp kỹ thuật kịp thời [6]. Tuy nhiên, kết quả
nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm lại cho rằng bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, nhất
là mùa nước rút tháng 11 - 12 hàng năm [25], [6], [45]. Theo kết quả điều tra của Trần
Anh Dũng (2005), tỉ lệ xuất hiện bệnh mủ gan ở An Giang trên Cá Tra trong mô hình
nuôi ao là 61%, mô hình nuôi bè là 73,9%, mô hình nuôi đăng quầng là 88% [7].
17
song chủ (Tremtoda) gặp 1 loài: Bucephalopsis gracilescens; giun tròn (Nematoda)
gặp 2 loài: Spectatus pangasia, Cucullanus chabaudi; giáp xác (Crustacea) gặp một
loài: Egasius sp [13].
Hiện nay, bệnh vàng da cũng gây thiệt hại lớn cho các mô hình nuôi Cá Tra
trong bè, trong ao và nuôi đăng quầng. Với dấu hiệu bệnh lý là cá giảm ăn, bỏ ăn, bơi
lờ đờ, da có màu vàng nghệ, vàng túi mật, đặc biệt cá chết rất nhanh và gần như hàng
hoạt. Có thể bắt gặp bệnh vàng da quanh năm, mặc dù vậy cao điểm của bệnh là vào
những tháng mùa khô đối với nuôi đăng quầng; vào mùa lũ đặc biệt là thời điểm giao
mùa từ mùa khô chuyển sang mùa mưa trong mô hình nuôi bè, còn đối với nuôi cá tra
ao bệnh thường tập trung vào thời gian lũ rút [7]. 18
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
Thời gian thực hiện: 08 tháng (Từ tháng 8/2008 đến tháng 3/2009)
Địa điểm thực hiện đề tài: Các ao thí nghiệm được bố trí trên địa bàn xã Châu
Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Vị trí các ao thí nghiệm của đề tài
Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 19
3.2. Sơ đồ khối/phương pháp nghiên cứu:
Đánh giá phân tích kết quả nghiên cứu
Đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị
Mật độ thả N1
(25con/m
2
)
Mật độ thả N2
(35con/m
2
)
Mật độ thả N3
(45con/m
2
)
Yếu tố
thủy lý
Yếu tố
thủy hóa
Định kỳ
10 ngày
xác định
khối
lượng
trung
bình
Định kỳ
10 ngày