THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ XÂY DỰNG
I. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ XÂY
DỰNG GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH HÀ NỘI
1. Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Tư vấn Đầu tư và Xây dựng GTCC Hà Nội (tên giao dịch quốc tế là
CCIC ) là doanh nghiệp Nhà nước loại I, được thành lập theo quyết định số
702/QĐUB, ngày 31 tháng 5 năm 1996 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội,
trên cơ sở đổi tên và bổ sung nhiệm vụ cho Công ty khảo sát thiết kế GTCC Hà
Nội ( tên cũ của công ty).
- Chứng chỉ hành nghề tư vấn xây dựng số 254/BXD – CSXD do Bộ Xây dựng
cấp ngày 11 tháng 12 năm 1998.
- Đăng ký kinh doanh số 100637, 305688 và 305689 do Uỷ ban kế hoạch ( Sở Kế
hoạch và đầu tư ) thành phố Hà Nội cấp ngày 13 tháng 4 năm 1995 và ngày 16
tháng 9 năm 1995.
-
Công ty bao gồm 2 xí nghiệp trực thuộc là xí nghiệp xây lắp và xí nghiệp khảo
sát và 8 đội sản xuất, mỗi xí nghiệp có một giám đốc và một phó giám đốc; mỗi
đội sản xuất đều có đội trưởng để điều hành đội sản xuất. Cả hai xí nghiệp trực
thuộc được phép hạch toán độc lập, có con dấu riêng, có tài khoản tại ngân
hàng. Các đơn vị trực thuộc vẫn phải gửi hoá đơn lên để công ty hoạch toán.
Quy định cụ thể về việc sử dụng tài khoản của hai xí nghiệp như sau:
- Xí nghiệp xây lắp:
+ Đối với những hợp đồng kinh tế về tư vấn, khảo sát – thiết kế: Giám đốc công
ty ký hợp đồng với chủ đầu tư bằng tài khoản thu chi của công ty và hạch toán
đối với xí nghiệp xây lắp theo đúng quy chế hạch toán và khoán sản phẩm nội
thực hiện. Khi quyết toán công trình, phòng Tài vụ lập báo cáo tổng hợp các chi
phí sản xuất, trình Giám đốc công ty xem xét để xác định phần trách nhiệm của
Xí nghiệp khảo sát theo nguyên tắc “Các chi phí sản xuất được phân bổ theo tỷ
trọng giá trị mà chủ đầu tư thanh toán cho tư vấn, thiết kế và cho khảo sát”. Đối
với các công trình lớn, phòng tài vụ và phòng kế hoạch – kỹ thuật cần hạch toán
đầy đủ các khoản Chi phí trong quá trình thực hiện Hợp đồng kinh tế để phân bổ
trách nhiệm đóng góp một cách hợp lý cho các đơn vị tham gia.
2. Thực trạng tình hình đầu tư ở Công ty Tư vấn Đầu tư và Xây dựng
GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH Hà Nội
Trong thời gian qua, với xu thế hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và tại Công ty Tư vấn Đầu tư Xây dựng GTCC đã nhận thức được
rằng để nâng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng, để khai thác triệt
để các tiềm năng sẵn có, tạo điều kiện phát triển vốn với chủ trương phát triển
sản xuất kinh doanh thì không thể không có các hoạt động đầu tư. Do đó, trong
những năm gần đây, công ty đã tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực sau:
- Đầu tư xây dựng cơ bản.
- Đầu tư vào công nghệ và thiết bị xây dựng
- Đầu tư vào nguồn nhân lực.
Biểu 1 : Tình hình đầu tư của công ty trong những năm qua.
Năm
Đơn vị
TổngmứcVĐT Triệu đồng
1997
2400
1236
870
724
VĐT CN &
-
7500
6400
10800
18400
12800
10100
thiết bị XD
VĐT nhân lực
-
Biểu trên cho thấy tình hình đầu tư thực tế của công ty luôn đạt ở mức cao suốt
từ năm 1998 cho đến nay. Đặc biệt vào các năm 1999 và 2000, tốc độ tăng
trưởng đã lên đến 166.4% và 148%. Nguyên nhân của sự tăng đầu tư mạnh
trong giai đoạn này là do năm 1997, công ty được đổi tên mới và bổ sung chức
năng nhiệm vụ ( tên cũ là Công ty khảo sát thiết kế GTCC Hà Nội ) nên công ty
đã tiến hành đâu tư rất mạnh trên các mặt Xây dựng cơ bản và máy móc công
nghệ. Trong giai đoạn này công ty đã tiến hành xây dựng thêm hai hạng mục
công trình lớn tại Hà Nội làm trụ sở cho xưởng Thiết kế đô thị 2 và Xưởng thiết
kế cầu đường 2 (thuộc Xí nghiệp khảo sát) và mở rộng trụ sở của Xí nghiệp Xây
lắp. Đồng thời công ty cũng mạnh dạn vay vốn ngân hàng để đầu tư mới nhiều
thiết bị thi công hiện đại để tạo cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh. Sang đến
năm 2001 cho đến nay, tình hình đầu tư vào xây dựng cơ bản và công nghệ thiết
bị thi công của Công ty giảm dần do đã tạo được một khối lượng tài sản cố định
tương đối đầy đủ. Thay vào đó, công ty lại tăng cường đầu tư vào nguồn nhân
lực của mình trên tất cả các mặt: chính trị ,tư tưởng cũng như những kiến thức
và tay nghề chuyên môn. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, đội ngũ cán bộ có
tay nghề cao của công ty hãy còn rất mỏng, việc tiếp cận với công nghệ thi công
mới, hiện đại hãy còn nhiều bỡ ngỡ do trước đó chủ yếu sử dụng công nghệ thi
công từ Liên Xô cũ và các nước XHCN. Vì vậy, trong những năm gần đây, đầu
tư vào nguồn nhân lực lại càng được Công ty quan tâm sâu hơn nữa. Cụ thể là
công ty thường sử dụng những hình thức đầu tư vào nguồn nhân lưc bằng cách:
- Liên kết với một số trường đại học như Đại học Xây dựng, đại học Kiến Trúc,
Đại học GTVT... đầu tư cho sinh viên học tập để tiếp nhận khi ra trường.
- Tuyển chọn đội ngũ lao động trẻ, có trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn
cao đi đào tạo thời chuyên môn kỹ thuật ở nước ngoài.
- Thông qua các chuyên gia nước ngoài để đào tạo thực tiễn cán bộ, chuyên gia,
công nhân kỹ thuật của mình. Đây là một hình thức đầu tư nhanh, hiệu quả để bắt
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhất là một số thiết bị làm
đất như máy ủi, lu, xe Ben tự đổ…
- Giai đoạn 1990 – 1993: Được coi là thời kỳ đệm của Công ty trong hoạt động
đầu tư.
Thời kỳ này do tình hình kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, bước đầu chuyển
sang cơ chế thị trường, do nhiều yếu tố khách quan về cơ chế, chính sách nên
các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào hệ thống cơ sở hạ tầng ngành Giao thông
chưa triển khai được. Việc xây dựng chủ yếu tập trung vào công tác duy tu, bảo
dưỡng, cải tạo bằng các nguồn vốn đầu tư trong nước là chính. Tuy đã nhìn thấy
được khả năng về các nguồn vốn đầu tư sẽ được huy động trong tương lai,
nhưng do hạn chế về năng lực tài chính, mặt khác do thiếu thông tin về thị
trường thiết bị máy thi công, thiếu thông tin về quy trình công nghệ thiết bị thi
công, nên hoạt động đầu tư mua sắm máy móc xây dựng trong giai đoạn này chỉ
mang tính thăm dò, cầm chừng, chưa trở thành mục tiêu cấp bách của Công ty.
- Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Có thể phân chia thời kỳ này thành 2 giai đoạn
để đánh giá thực trạng đầu tư mua sắm máy móc xây dựng của công ty. Giai
đoạn 1 từ năm 1993 đến năm 1996 và giai đoạn 2 từ năm 1996 đến nay.
+ Giai đoạn 1993 - 1996: Trong giai đoạn này, do chưa hiểu biết các tiêu
chuẩn về công nghệ thi công xây dựng hạ tầng giao thông và chưa am hiểu về
tính năng kỹ thuật, chất lượng, giá cả của các loại thiết bị trên thị trường phục
vụ cho yêu cầu thi công nên các dự án đầu tư chưa được xây dựng trên luận cứ
chặt chẽ, xác đáng, có cơ sở khoa học và thực tiễn mà chủ yếu dựa vào định
hướng chiến lược và những phán đoán mang tính chủ quan. Vì vậy, kết quả là
những dự án đầu tư vào mua sắm máy móc thiết bị thi công có giá trị lớn thường
không đem lại hiệu quả.
+ Giai đoạn 1996 đến nay: Do đã trải qua một quá trình thực tiễn, công ty đã
lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là đã rút ra được những kinh nghiệm quan trọng
trong lĩnh vực đầu tư đầu tư, nên trong giai đoạn này việc đầu tư của công ty đã
2000
2001
2002
VĐT
Tỷ VNĐ
7.5
6.4
10.8
18.4
12.8
10.1
Tốcđộphát
%
_
85.3
Nguồn gốc
mua
xuất xứ
Số lượng
1
Máy khoan UKB – 25
1993
Liên Xô
1 bộ
2
Khoan máy SH – 30
1993
Trung Quốc
1 bộ
3
6
Thiết bị thí nghiệm đầm chặt tiêu chuẩn
1995
Việt Nam
1 chiếc
7
Máy thuỷ bình kiểm tra độ lún NI 004
1995
Thuỵ Sỹ
1 chiếc
8
Máy đo toàn đạc Delta
1996
Đức
3 chiếc
4 SOILTEST
12
Thiết bị siêu âm bê tông
1999
Anh
1 bộ
13
Trạm trộn bê tông ASphalt
1999
Nhật
2 chiếc
14
Máy rải bê tông Asphalt
1999
Nhật
2 chiếc
18
Máy khoan lấy lõi bêtông
2000
Nhật Bản
1 chiếc
19
Máy ủi 108CV
Nhật Bản
2 chiếc
20
Xe tưới nhựa DRGM
2000
Nga
5 chiếc
21
Máy lu bánh sắt
2001
Trung Quốc
6 chiếc
25
Máy đầm bàn
2001
Nhật
3 chiếc
26
Máy ủi DZ 171
2001
Nga
4 chiếc
27
Máy trộn bê tông xi măng B521
2002
Hàn Quốc
6 chiếc
31
Máy trộn vữa
2002
Đức
2 chiếc
32
Thiết bị đóng cọc DJ2
2002
Pháp
1 chiếc
33
4 chiếc
36
Xe vận tải KAMAZ 5320 và 5425
2002
Nga
4 chiếc
37
Xe ben tự đổ KPAZ 256 và MAZ 5549
2002
Nga
5 chiếc
Nguồn: Hồ sơ dự thầu của Công ty Tư vấn Đầu tư Xây dựng GTCC năm 2001 Hạ tầng kỹ
thuật khu liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình – Mễ Trì ( 110 ha) – giai đoạn 1
2.2. Về mặt chất lượng công nghệ
Chất lượng công nghệ thiết bị được đầu tư phụ thuộc vào khả năng tài chính
của công ty, yêu cầu của công trình và phụ thuộc vào chiến lược phát triển
đồng thời phải phù hợp với định hướng Công nghiệp hoá - hiện đại hoá của
đất nước. Đó chính là vấn đề đầu tư chiều sâu tăng năng lực thiết bị của
- Tạo công ăn việc làm ổn đinh, thường xuyên và lâu dài cho người lao động. Tạo
ra một môi trường làm việc năng động, sáng tạo, phát huy được sức mạnh tổng
thể của toàn bộ đội ngũ cán bộ công nhân viên trong toàn công ty. Nâng cao
trình độ tay nghề của công nhân, trình độ kỹ thuật của các kỹ sư, các kiến trúc
sư và của cán bộ quản lý thông qua các chương trình đạo tạo và đào tạo lại ở cả
trong nước và quốc tế. Qua đó gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của cán
bộ công nhân viên của công ty nói riêng và của cả nước nói chung.
- Tạo ra lợi nhuận cao, từ đó đảm bảo khả năng tái đầu tư và nâng cao sức cạnh
tranh của công ty trên thị trường xây dựng.
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ THIẾT BỊ XÂY DỰNG.
1. Hệ thống tổ chức công tác lập và quản lý dự án đầu tư đổi mới công
nghệ và thiết bị xây dựng của công ty.
Trên cơ sở định hướng chiến lược, nhiệm vụ kế hoạch giao hàng năm, từ dự
án của công ty, từ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, giám đốc sử
dụng các cơ quan chức năng của mình lập dự án đầu tư. Các công trường sản
xuất, các đội sản xuất là đầu mối sử dụng thiết bị xây dựng được đầu tư.
Nhóm chuyên viên kiêm nhiệm dự án là đơn vị cơ sở để đánh giá hiệu quả
đầu tư, là đầu mối trực tiếp quản lý dự án, hoàn trả vốn vay.
Trong những năm qua, hệ thống tổ chức này đã góp phần quan trọng giúp
cho các doanh nghiệp xây dựng giao thông trong lĩnh vực lập và quản lý dự
án đầu tư. Tuy nhiên, nó vẫn còn tồn tại khá nhiều bất cập gây ảnh hưởng
đến chất lượng của công tác lập dự án cũng như hiệu quả của công tác quản
lý dự án đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị xây dựng của công ty.
Sơ đồ tổ chức quản lý dự án của công ty được thể hiện như sau:
Đã thực hiện các bước quy định của quá trình lập dự án bao gồm nghiên cứu cơ
hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án.
Trong đó giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư được đặc biệt quan tâm qua việc
nghiên cứu về tình hình cung cầu trên thị trường xây dựng. Tuy nhiên, cũng do
ảnh hưởng của thị trường nên các kết quả trong giai đoạn này thường được lập
trên cơ sở những định hướng chung nhất của công ty nhiều hơn là bám sát tình
hình thực tiễn.
Xét riêng về công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, đối với các dự án dài hạn
thường được thực hiện đầy đủ, ví dụ như dự án đầu tư vào thiết bị đóng cọc DJ2
vào năm 1999 với tổng mức vốn đầu tư là 2678 triệu đồng. Còn đối với các dự
án đầu tư phục vụ trực tiếp cho một công trường cụ thể hoặc cho một dự án lớn
đã thắng thâù thì thường xuất phát từ nhiệm vụ cấp bách để ra quyết định đầu
tư, và trong một số trường hợp thường không tuân thủ các bước nhất là công tác
thẩm định dự án. Do biến động của thị trường cung cấp vốn cho dự án đầu tư
nên ngoài việc phụ thuộc vào mục tiêu đầu tư và thị trường xây dựng, trình tự
đầu tư còn phụ thuộc vào sự biến động của việc huy động vốn, và nhiều khi còn
phụ thuộc vào chính yêu cầu của nhà cung cấp vốn.
Trong thực tiễn có trường hợp giai đoạn chuẩn bị đầu tư và giai đoạn thực hiện
đầu tư được tiến hành song song với nhau. Thậm chí giai đoạn thực hiện đầu tư
được thực hiện trước rồi hoàn tất các thủ tục về tình tự đầu tư sau do yêu cầu
của tiến độ thi công công trình. Điều này một mặt có thể đáp ứng được tiến độ
thi công, nhưng mặt khác là do chỉ tính đến yêu cầu trước mắt nên sẽ chịu ảnh
hưởng trực tiếp của các yếu tố sau khi kết thúc dự án.
- Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư:
Việc tiến hành các thủ tục, các bước cũng còn nhiều yếu tố tác động. Đối với
các dự án đã xác định được địa chỉ lắp đặt dựa trên hợp đồng xây lắp cụ thể,
công việc tiếp nhận, xây dựng, lắp đặt các cơ sở bảo quản thường đựoc chuẩn
bị trực tiếp nhằm phục vụ kịp thời cho việc thi công công trình, nhưng thông
đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
chung của toàn công ty.
3. Thực trạng phân tích tài chính dự án đầu tư đổi mới công nghệ và thiết
bị xây dựng.
Phân tích tài chính là một nội dung quan trọng trong công tác lập dự án. Nhận
thức được việc này, công tác lập dự án của công ty cũng đã rất quan tâm việc
tính toán các chỉ tiêu tài chính và thông qua đó để đánh giá tính khả thi của
dự án. Để xem xét thực trạng của việc phân tích tài chính trong dự án đầu tư
đổi mới công nghệ và máy xây dựng của công ty, ta xem xét cụ thể một dự án
đầu tư vào dây chuyền rải bê tông cấp phối của Nhật Bản năm 2000. Dây
chuyền này bao gồm:
Biểu4 : Những thiết bị chính được đầu tư trong dây chuyền .
Tên máy
Đơn vị tính
Sốlượng
Đơn giá
Thành tiền
1000đ
1
5.674.950
1.897.712
Máy ủi 108CV
-
2
87. 800
175. 600
Thành tiền
-
Máy rải bêtông cấp phối
nhựa
12.098.820
Nguồn: Dự án đầu tư dây chuyền rải bê tông cấp phối Nhật Bản năm 2000
Cơ sở để tính toán các chỉ tiêu
Giá trị doanh thu :
Với dây chuyền trang thiết bị trên, tính trên cơ sở sử dụng được 70% công
suất thiết kế, đơn giá tính theo đơn giá khu vực Hà Nội (giá 393/KT – XD)
vì công ty chủ yếu thi công các công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội thì
162.000
Đắp nền lớp đáy kết m3
cấu mặt đường
Đắp cát hạt thô
m3
9.251,7
55
508843.5
Làm đường thảm
m2
16.515
23
3.798.450
m2
5.966
20
cấu loại 3
Mặt đường cứng
m2
Tổng giá trị doanh thu
9601531.5
Nguồn: Dự án đầu tư dây chuyền rải bê tông cấp phối Nhật Bản năm 2000
Cơ sở tính toán chi phí
- Chi phí nguyên vật liệu: Tính theo khối lượng nguyên vật liệu thực tế trong một
năm và theo bảng khối lượng dự kiến (biểu 5 ). Giá nguyên vật liệu lấy theo giá
khu vực Hà Nội quý II năm 2000.
- Chi phí nhân công: Theo định mức 58/BXD – VKT và các quy định chế độ
lương, phụ cấp hiện hành.
- Chi phí máy: Trên cơ sở giá ca máy 57/BXD – VKT trong đó
• Khấu hao cơ bản: 20% giá trị trung bình năm
• Khấu hao sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ: 6% giá trị trung bình một năm
• Năng lượng, nhiên liệu theo định mức tiêu hao từng loại thiết bị, lấy theo khối
lượng thi công thực tế (12% Tổng chi phí nguyên vật liệu )
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: 66,5% chi phí nhân công
- Thuế doanh thu 4%
- Lãi định mức 11% (theo tiêu chuẩn thi công đường)
Biểu 6: Giá trị chi phí được tính toán cụ thể trong bảng sau:
Đơn vị: 1000đ
m3
5.800
186,00
1.078.800
Nhựa bitum
kg
15.300
3,500
53.550
Đá lớp base
m3
2.400
142,20
341.280
Bêtông cấp phối
%
15
3.124.180,4
468.627,06
III. Chi phí máy
3.471.852,77
Khấu hao cơ bản
%
20
11275480
2.255.096
Sửa chữa lớn, sửa chữa
%
6
11275480
311.637
V. Thuế, lãi định mức
%
11
7.376.297,23
811.392,7
nhỏ
VI. Tổng chi phí
8.187.689,93
Nguồn: Dự án đầu tư dây chuyền rải bê tông cấp phối Nhật Bản năm 2000
Các nội dung được đề cập đến trong dự án bao gồm
- Tổng mức đầu tư (1000Đ)
+ Giá mua dây chuyền thiết bị:
12.098.820
+ Chi phí lắp đặt:
26.660
• Lợi nhuận sau thuế vốn
- Tỷ suất chiết khấu r
• Nguồn vốn vay ngân hàng: 7.8%
• Nguồn vốn tự có: 10%
Tỷ suất chiết khấu r =
(0,078*12.098.820)+ (0.1* 79.360)
12.098.820 + 79.360
= 0.078