Tìm hiểu các biện pháp mà chính phủ việt nam thực hiện để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu tại việt nam trong những năm 2010 2014 - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là xu thế tất yếu khách quan. Trong
những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với sự phát triển của
khoa học – kĩ thuật, sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công
lao động quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Kinh tế thị trường là một nền
kinh tế mở, do đó mỗi nước cần có những mối quan hệ với thị trường thế giới,
không một quốc gia nào tách khỏi thị trường thế giới mà có thể phát triển nền
kinh tế của mình. Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam cũng đang từng
bước hội nhập nền kinh tế thế giới. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới
chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy
mạnh hợp tác quốc tế là vấn đề quan trọng của công cuộc đổi mới.
Xuất nhập khẩu là một trong những hình thức chủ yếu của kinh tế đối
ngoại, đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như nước ta,
ngoại thương có tác dụng rất lớn, rất quan trọng. Việc mở rộng giao lưu kinh tế
thế giới sẽ mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các
nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có những đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
rất riêng biệt… Do đó cần phải nhận rõ tầm quan trọng của xuất nhập khẩu, tình
hình thực tế về ngoại thương của nước ta để đề ra những giải pháp, chiến lược
thích hợp để phát triển hội nhập kinh tế. Bên cạnh đó, việc trao đổi hàng hóa
giữa các quốc gia đem đến nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, thử
thách.
Nhằm hiểu biết rõ hơn về vấn đề kinh tế trên, em xin chọn đề tài “Tìm
hiểu các biện pháp mà chính phủ Việt Nam thực hiện để điều chỉnh hoạt
động xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong những năm 2010 - 2014”.

1


CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA XUẤT NHẬP KHẤU

xuất. Không đảm bảo thỏa mãn những yêu cầu đến một mức độ cần thiết thì

2


không thể tái sản xuất đầy đủ về số luợng và chất lượng lao động cho quá trình
sản xuất mới.
Vai trò của xuất nhập khẩu đối với việc chuyển hóa giá trị sử dụng làm
thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được
sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy.
Xuất nhập khẩu nhập khẩu những tư liệu sản xuất mới cần thiết để phục vụ cho
việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước.
Xuất nhập khẩu trực tiếp nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng mà trong nước
chưa sản xuất hoặc sản xuất chưa đủ. Đây là một hoạt động quan trọng của xuất
nhập khẩu để phục vụ cho tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng của
nhân dân, nhưng hoàn toàn không thể bị động với đòi hỏi của tiêu dùng, mà phải
tác động mạnh mẽ đến tiêu dùng đặc biệt là cơ cấu tiêu dùng trong xã hội, làm
cho nó thích ứng với tình trạng cụ thể của cơ cấu sản xuất.
Mở rộng buôn bán với nước ngoài đã làm cho tình trạng tiêu dùng của xã
hội có nhiều biến đổi quan trọng. Sự thay đổi đó đặt ra những yêu cầu cao hơn
cả về số lượng và chất lượng, kiểu, mốt, thẩm mỹ của hàng tiêu dùng. Điều đó
một mặt thúc ép việc sản xuất trong nước muốn phát triển phải đáp ứng đầy đủ
nhu cầu ngày vàng cao của người tiêu dùng, nếu không sẽ không cạnh tranh
được với hàng ngoại. Mặt khác xuất nhập khẩu có thể và cần phải đóng vai trò
quan trọng trong việc hướng người tiêu dùng vào những đòi hỏi hợp lý đối với
thị trường, phù hợp với chính sách tiêu dùng trong một giai đoạn nhất định. Phải
bằng nhiều biện pháp trong đó quan trọng là biện pháp giá cả để điều tiết những
đòi hỏi vượt quá khả năng của nền kinh tế.
1.1.3 Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi
trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh

trong
nước

I. Nông nghiệp, lâm nghiệp 1500


Xuất

Nhập

cuối cùng

khẩu

khẩu

của

600

100

phẩm XH
1000

và thủy sản:
- Nông nghiệp

1300


600

1500

- Công nghiệp

250

450

1200

1000
4

cấu
sản


- Xây dựng

200

50

150

300

III. Dịch vụ


50

110

10

50

440

- Nhà ở, khách sạn, du lịch, 500

100

50

450

sửa chữa.
Tổng số

1300

1300

4300

- Tài chính, tín dụng, ngân 100
hàng và bảo hiểm.

lợi thế tuyệt đối ( chi phí sản xuất thấp hơn), rồi trao đổi sản phẩm của mình với
các quốc gia khác thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Tổng của cải vật chất của
các quốc gia dẽ tăng lên.
• Lợi thế so sánh ( lợi thế tương đối):
David Ricardo đã hoàn chỉnh thuyết phân công lao động quốc tế của
Adam Smith bằng nguyên tắc lợi thế tương đối. Một quốc gia cho dù không có
lợi thế tuyệt đối về các sản phẩm so với một quốc gia khác nhưng vẫn có lợi thế
tương đối ( lợi thế so sánh) trong thương mại quốc tế. Do đó mỗi quốc gia nên
chuyên môn hóa sản phẩm mà mình có lợi thế tương đối rồi trao đổi sản phẩm
cho nhau thì cả hai quốc gia đều có lợi hơn.
• Phát huy lợi thế so sánh của nền kinh tế nhờ xuất nhập khẩu:
Các nước có lợi thế về các điều kiện tự nhiên như khí hậu và tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu quả nhiều
sản phẩm như cà phê, chè, cao su, dừa, các loại trái, nông sản, lâm sản, thủy
sản…các loại khoáng sản.


Lợi thế có được do sự phát triển của công nghệ và sự lành nghề (nhờ
chuyên môn hóa). Nhờ sự chuyên môn hóa, các nước có thể gia tăng hiệu
quả lao động do:

+ Người lao động sẽ lành nghề hơn do họ lặp lại cùng một thao tác nhiều lần
+ Người lao động không mất thời gian chuyển từ việc sản xuất sản phẩm này
sang sản phẩm khác.
+ Do làm một công việc lâu dài, người lao động sẽ nảy sinh các phương pháp
làm việc tốt hơn.

6



Ví dụ:
Giả sử mội giờ công lao động: Việt Nam sản xuất được 5 giạ gạo, Trung
Quốc sản xuất được 9 giạ gạo. Trong khi đó, 1 giờ công lao động ở Trung Quốc
sản xuất được 10 mét vải thì ở Việt Nam chỉ sản xuất được 4 mét.

Sản phẩm

Việt Nam
7

Trung Quốc


Gạo (giạ/ người –
giờ)
Vải (mét/ người –

5

9

4
10
giờ)
Ta thấy tuy Việt Nam bất lợi về cả 2 mặt hàng nhưng do mức độ bất lợi
của Việt Nam về mặt hàng gạo nhỏ hơn mặt hàng vải ( thể hiện qua bất đằng
thức 4/10 < 5/9). Tương tự, mức độ lợi thế của Trung Quốc về mặt hàng vải lớn
hơn mặt hàng gạo ( thể hiện qua bất đẳng thức 10/4 > 5/9). Do đó, Việt Nam sẽ
có lợi thế so sánh về gạo còn Trung Quốc có lợi thế so sánh về vải. Mỗi nước sẽ
chuyên môn hóa mặt hàng mình có lợi thế so sánh, sau đó đem trao đổi lấy mặt

sẵn có và góp phần nâng cao trình độ công nghệ qua phát triển công nghiệp chế
tạo và chế biến.
Xuất nhập khẩu tạo môi trường thuận lợi cho việc mở rộng hàng hóa của
nước ta ra nước ngoài, giúp mở rộng thị trường.
Trong xuất nhập khẩu, việc nhập khẩu các thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện
đại, nhận chuyển giao công nghệ sẽ thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong nước phát
triển từ đó góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

9


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT NHẬP KHẤU VIỆT NAM
TỪ 2010 -2014
2.1. Tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014
2.1.1 Các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của
Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014
Chúng ta đã biết, Việt Nam đang trong tình trạng là nước nhập siêu từ
nhiều năm qua, đồng thời cũng là một trong những nước có tỉ lệ lạm phát cao
trên thế giới , do đó Chính phủ phải thi hành một số chính sách vừa để kiềm
chế lạm phát, vừa nhằm giảm trị giá nhập khẩu ở nước ta. Chúng ta biết hàng
hóa nhập khẩu đồng biến với tổng sản lượng quốc gia trong nước và nghịch
biến với tỷ giá hối đoái vì vậy nhóm sẽ phân tích những tác động của chính
sách của Chính Phủ trong năm 2011đã tác động đến mức sản lượng cũng như
tỷ gia hối đoái trong nước như thế nào để có thể thực hiện mục tiêu kiềm chế
nhập siêu.


Chính sách tiền tệ chặt chẽ và chính sách tài khóa thắt chặt.
Theo Nghị quyết 11/NQ-CP ban hành ngày 24/2/2011 để đảm bảo thực


đề ra, song song với việc thi hành các chính sách tiền tệ thu hẹp thì Chính phủ
cũng thi hành các chính sách tài khóa thắt chặt với mục đích nhằm giảm tổng
cầu bằng các biện pháp như : rà soát, sắp xếp, cắt giảm đầu tư công, tập trung
vốn cho các công trình quan trọng, cấp bách, hiệu quả; giảm bội chi ngân sách
Nhà nước năm 2011 xuống dưới 5%, tăng cường quản lý nợ Chính phủ, nợ
quốc gia.

( Đồ thị biểu thị sự tác động của chính sách tài khóa )
 Dưới sự tác động của chính sách ngoại khóa thắt chặt qua việc giảm
đầu tư công của Chính phủ cũng như tăng một số lãi suất chủ chốt làm cho
lượng đầu tư giảm dẫn đến tổng sản lượng giảm, thể hiện qua được IS1 dịch
chuyển sang trái thành đường IS’, làm cho điểm cân bằng dịch chuyển từ
E1( Y1,r1) xuống E’(Y’,r’) Vậy tại mức cân bằng mới thì ta có tổng sản
lượng giảm  Nhập khẩu giảm.
Kết luận : Thông qua việc thi hành chính sách tiền tệ thu hẹp và chính
sách tài khóa thắt chặt đã làm cho tổng sản lượng giảm xuống đã làm cho sản
12


lượng nhập khẩu ở một số mặt trong năm 2011 vừa qua đã giảm về mặt số
lượng so với cùng thời điểm ở năm trước đó.


Các chính sách ngoại thương :
Phá giá đồng nội tệ :

Ngày 11/02/2011, Ngân hàng nhà nước (SBV) đã chính thức tăng tỷ giá bình
quân liên ngân hàng từ 18.932 đồng/USD lên 20.693 đồng/USD, tương đương
tăng 9,3%. Đồng thời thu hẹp biên độ giao dịch từ +/-3% xuống +/-1% 
Điều này đã gây tác động lớn đối với hoạt động nhập khẩu vì trước khi có sự

chỉnh theo giá thế giới thì trong nước giá xăng dầu sẽ tăng "kép" vì vừa tăng
giá, vừa tăng theo tỉ giá và tác động đến lạm phát sẽ lớn hơn.
Điều chỉnh mức thuế, hạn ngạch :
Để thực hiện mục tiêu đảm bảo nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch
xuất khẩu, thì Chính phủ đã thay đổi sắc thuế đối với một số mặt hàng nhập
khẩu như : giảm thuế đối với các mặt hàng đầu vào cho sản xuất mà trong
nước chưa thực hiện được như xăng dầu, máy móc thiết bị,… Từ giữa tháng
1/2011 Bộ Tài chính đã thực hiện điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu xăng,
diesel xuống 0% và đến ngày 24/2/2011 tiếp tục giảm thuế nhập khẩu xuống
0% đối với dầu ma dút và dầu hỏa. Mức thuế nhập khẩu xăng dầu giảm xuống
0% tiếp tục được giữ cho đến nay. và.ngày 09/6/2011 thông báo của Liên bộ
cho biết thông qua thông tư 82/2011/TT-BTC sẽ tăng mức thuế nhập khẩu đối
với dầu diesel và dầu hỏa theo đó mức tăng vẫn thấp hơn 10% ( đối với dầu
diesel) và thấp hơn 15%( đối với dầu hỏa) theo quy định của Biểu thuế hiện
hành. Điều này lý giải cho việc trong khoảng 4 tháng đầu năm 2011, sản
lượng nhập khẩu xăng dầu có xu hướng tăng cho đến khoảng tháng 5/2011 thì
giảm nhẹ cho đến cuối năm 2011. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng bắt đầu tập
trung đánh thuế vào các mặt hàng xa xỉ, các mặt hàng tiêu dùng không thiết
yếu như từ ngày 15/8/2011 quyết định 36/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ban hành mức thuế nhập khẩu ôtô cũ chở người từ 15 chổ ngồi trở
xuống có hiệu lực qua đó với cách tính thuế mới, các loại xe đã qua sử dụng
hạng sang và siêu sang sẽ có thuế suất thuế nhập khẩu mới thậm chí vượt mức
100% và cao hơn nhiều so với xe chưa qua sử dụng cùng loại. Từ đó, ta thấy
sản lượng ôtô 9 chỗ ngồi trở xuống nhập khẩu từ khoảng 4 tháng cuối năm có
xu hướng giảm rõ rệt.
14


2.1.2. Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2010-2014
a. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu

2010.
Biểu đồ : Lượng sắt thép các loại nhập khẩu năm 2005- 2011

+ Nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong
tháng này kim ngạch nhập khẩu đạt 939 triệu USD, giảm 12,5% so với tháng
trước, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong năm 2011 lên
12,27 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm 2010. Trong đó trị giá nhập khẩu vải là
6,73 tỷ USD, tăng 25,5%; nguyên phụ liệu dệt may da giày 2,95 tỷ USD, tăng
12,5%; xơ sợi dệt là 1,53 tỷ USD, tăng 30,4% và bông là hơn 1 tỷ USD, tăng
56,1%.
16


Trong năm 2011, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập
khẩu 7,88 tỷ USD, tăng 26,3% và các doanh nghiệp trong nước là 4,39 tỷ
USD, tăng 22% so với năm 2010.
+ Phân bón các loại: trong cả năm 2011, lượng phân bón nhập khẩu của
Việt Nam là hơn 4,25 triệu tấn, tăng 21,1%, trị giá là 1,78 tỷ USD, tăng
46,1% so với năm 2010. Trong đó nhập khẩu nhiều nhất là phân Urê với hơn
1,13 triệu tấn, tăng 14,5%; phân Kali là 947 nghìn tấn, tăng 44,2% và phân
SA là 891 nghìn tấn, tăng 30,5% so với năm 2010.
+ Ô tô nguyên chiếc: trong tháng lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là
3,6 nghìn chiếc, tăng 31,3%, nâng tổng lượng xe nhập khẩu trong năm 2011
lên 54,6 nghìn chiếc, trị giá là hơn 1 tỷ USD, tăng 1,4% về lượng và tăng
5,1% về trị giá so với năm 2010.
Tính đến hết năm 2011, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu xe
dưới 9 chỗ là 34,9 nghìn chiếc, giảm 0,3%; ô tô tải là 16 nghìn chiếc, tăng
13,3%; ô tô loại khác là 3,69 nghìn chiếc, giảm 32,5% so với năm 2010.

Biểu đồ : Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm 2011

2010, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo đầu người mới chỉ là 186 USD thì đến
năm 2014 đã tăng lên mức 569 USD, tức là tăng gấp 3,05 lần.
2.2.2 Về chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Trong thời gian qua, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có nhiều chuyển biến tích
cực. Sản phẩm xuất khẩu đa dạng, phong phú hơn. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã
chuyển dịch theo hướng tăng dần các sản phẩm chế biến, giảm dần sản phẩm
thô, nguyên liệu. Đặc biệt, xu hướng tăng tỷ trọng của nhóm hàng chế biến, chế
tạo được coi là sự thay đổi tích cực nhất.
18


2.2.3 Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu liên tục được mở rộng và đa dạng hóa, nhất là đã đột
phá xuất khẩu thành công vào thị trường Mỹ và duy trì được thị phần trên thị
trường lớn nhất thế giới này.
Ngoài ra, chúng ta đã giảm dần được thị phần ở thị trường châu Á, củng
cố thị trường EU, khôi phục thị trường Nga và Đông Âu, mở rộng thị trường
châu Đại Dương, khai phá mạnh mẽ thị trường Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh...
Xuất khẩu hàng hóa đã huy động ngày càng đông đảo các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia. Đặc biệt, các doanh nghiệp FDI và các
doanh nghiệp xuất khẩu không thuộc khu vực kinh tế nhà nước đang trở thành
động lực chính cho xuất khẩu. Các doanh nghiệp FDI đang đóng góp quan trọng
nhất cho xuất khẩu với việc khai thông thị trường, phát triển các mặt hàng chế
biến, chế tạo cho xuất khẩu (điện tử, bản mạch máy tính ...) và chiếm tỷ trọng
cao nhất trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thời gian. Khu vực doanh
nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng nhiều
(chiếm tỷ trọng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu và tạo ra sự năng động lớn trong
xuất khẩu hàng hóa thời gian vừa qua).
Xuất khẩu tăng trưởng khá nhanh đã góp phần quan trọng bảo đảm nhập
siêu luôn ở mức dưới 20% kim ngạch xuất khẩu. Tăng trưởng xuất khẩu thời

sút thì xuất khẩu cũng trì trệ.
Sự phụ thuộc lớn cũng được thể hiện qua sự lúng túng và bị động trong
ứng phó với các rào cản thương mại mới của nước ngoài (tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm, môi trường, dư lượng kháng sinh, nhất là các vụ kiện chống bán
phá giá, kết quả là đối với những mặt hàng bị kiện chống phá giá thời gian qua
chúng ta hầu như đều bị thua kiện và xuất khẩu giảm sút mạnh (cá tra, cá basa
và tôm ở thị trường Mỹ, xe đạp ở thị trường EU và Ca-na-đa...).


Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu

của thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu còn phụ thuộc
quá lớn vào một số mặt hàng chủ lực: 5 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ đạt kim ngạch 26,2 tỉ USD,
chiếm tỷ trọng 54,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
năm 2007, cộng tiếp 5 mặt hàng trong top 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của
Việt Nam là điện tử và linh kiện vi tính, gạo, cao su, cà phê, than đá đạt kim
ngạch 33,97 tỉ USD, chiếm 70,2% tổng kim ngạch xuất khẩu... Tóm lại, cơ cấu
hàng xuất khẩu của Việt Nam thời gian qua chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng
mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh
sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các
20


ngành công nghiệp gắn bó, liên kết chặt chẽ với nhau hình thành chuỗi giá trị gia
tăng xuất khẩu lớn. Đây chính là một thách thức lớn về mặt chất lượng và hiệu
quả xuất khẩu.


Khả năng đa dạng hóa thị trường, thâm nhập thị trường mới và duy



nghiệp và nông nghiệp tạo chuyển biến về chất trong cơ cấu xuất khẩu của Việt
Nam;
Tăng cường đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xuất khẩu, đồng
thời khai thác hiệu quả hệ thống hạ tầng hiện có phục vụ tốt nhất cho xuất khẩu
của đất nước. Phát triển thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin trong
các giao dịch thương mại;
Đẩy mạnh các hoạt động thuận lợi hóa và hỗ trợ việc gia nhập thị trường
của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, khai thác hiệu quả các nguồn lực của
đất nước cho xuất khẩu, khuyến khích việc liên doanh, liên kết hợp nhất, sáp
hợp các doanh nghiệp xuất khẩu để hình thành các tập đoàn xuất khẩu mạnh của
Việt Nam,...;
Tiếp tục khai thác tối đa làn sóng đầu tư mới từ hiệu ứng gia nhập WTO
vào các ngành hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam, nhất là các ngành chế
biến, chế tạo và các ngành công nghiệp công nghệ cao có khả năng tăng trưởng
xuất khẩu mạnh như sản phẩm gỗ, cơ khí nhỏ, dây và cáp điện, sản phẩm nhựa,
linh kiện điện tử và vi tính, phần mềm, ...;
Cải tiến việc thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia,
phát triển thị trường xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xúc tiến
thương mại. Tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ quan ngoại giao và
đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài trong việc cung cấp thông tin
và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, kênh phân phối nước ngoài...
Không ngừng chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho xuất khẩu, chú ý
đào tạo ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, marketing, kỹ năng đàm
phán quốc tế, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, nâng cao trình độ luật pháp quốc
tế, trình độ ngoại ngữ, ứng dụng tin học, nâng cao tay nghề. Việc đào tạo cần
theo hai hướng, trước mắt, đối với người lao động cần thuần thục về kỹ năng và
chuyên môn hóa sâu. Mặt khác phải chú trọng đặc biệt tới đào tạo, bồi dưỡng
nhân tài, có khả năng ứng dụng và tích hợp khoa học công nghệ của nhân loại

những mặt hàng tích cực cho xuất khẩu; cơ cấu hàng nhập khẩu hợp lý trên cơ
sở khuyến khích sản xuất, thay thế nhập khẩu; tăng kim ngạch xuất khẩu để đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu, với chính sách mặt hàng xuất khẩu phù hợp…

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO


Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Phần 2



Giáo trình Kinh tế Quốc tế



Giáo trình Kinh tế Ngoại thương



Trang

web

của

Tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status