GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU NHẰM MỤC
TIÊU PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG PHÁT
TRIỂN
3.1 Định hướng phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Chiến lược xuất nhập khẩu năm 2001-2010 đánh giá xuất khẩu góp phần
đáng kể vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy sản xuất, tạo công
ăn việc làm, thu ngoại tệ . Tuy nhiên, xuất khẩu của nước ta trong thời gian qua
vẫn còn những hạn chế nhất định như quy mô xuất khẩu còn nhỏ so với các
nước trong khu vực, khả năng cạnh tranh của nhiều hàng hoá còn thấp chưa phù
hợp với nhu cầu thị trường quốc tế; tỷ trọng hàng thô và sơ chế trong cơ cấu
xuất khẩu còn khá cao, tỉ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí tuệ cao
còn nhỏ. Tình hình 5 năm thực hiện chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2001-2010,
đã được nghiên cứu và đánh giá từ đó đưa ra mục tiêu và biện pháp thực hiện
cho giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010.
Mục tiêu tổng quát của hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 là phát
triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao, bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng
trưởng GDP, giải quyết việc làm cho người lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động, trước hết là cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp
và nông thôn. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh,
đồng thời tích cực phát triển những mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng
xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Chuyển dịch cơ
cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng có giá trị gia tăng cao;
tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và
chất xám cao, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu hàng thô, hàng có giá trị thấp.
Các chỉ tiêu phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006-2010 được
đề ra như sau:
- Dự kiến tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân sẽ là 17,5% và
đạt trên 72,5 tỉ USD vào năm 2010. Trong giai đoạn này, tập trung vào hai khâu
trọng tâm để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu. Thứ nhất là tập trung vào nhóm
hàng công nghiệp để mở rộng sản xuất. Thứ hai: khai thác thêm những mặt
hàng mới, thị trường mới và đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao giá trị gia
2,8 tỷ USD với các mặt hàng thuỷ sản, đồ gỗ, hàng cơ khí, cà phê, hạt tiêu. Thị
trường Châu Đại Dương đến năm 2010 kim ngạch đạt khoảng 5,6 tỷ USD, tập
trung xuất khẩu các mặt hàng dệt may, giày dép.
Để đạt được mục tiêu và chỉ tiêu trên, các quan điểm chủ đạo về phát
triển xuất khẩu trong giai đoạn 2006-2010 cần được thực hiện:
+ Tiếp tục kiên trì chủ trương dành ưu tiên cao cho xuất khẩu để tăng
kim ngạch xuất khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP, phát triển sản xuất.
+ Gắn thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, vừa chú trọng
thị trường trong nước, vừa phải quan tâm mở rộng thị trường xuất khẩu.
+ Giữ vững các thị trường lớn, thị trường trọng điểm đồng thời đa dạng
hoá thị trường xuất khẩu để tránh lệ thuộc vào nền kinh tế hay ngoại tệ của một
nước.
.
+ Khuyến khích, tạo điều kiện khai thác tối đa tiềm năng của mọi thành phần
kinh tế trong hoạt động xuất – nhập khẩu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp.
Định hướng chiến lược xuất khẩu của nước ta trong giai đoạn này là hoàn
toàn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, và đây cũng là định hướng phát
triển cho các doanh nghiệp thực hiên hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập
khẩu. Trong xu thế hội nhập, các doanh nghiệp có được nhiều thời cơ nhưng
cũng đứng trước rất nhiều thách thức. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh trên
thị trường nước ngoài mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay
trên thị trường nội địa. Để đạt được mục tiêu đề ra, ngoài nỗ lực của bản thân
mỗi doanh nghiệp Chính phủ cũng cần có những chính sách tài trợ xuất khẩu
thích hợp.
3.2 Định hướng hoạt động tín dụng xuất khẩu của ngân hàng Phát triển
Việt Nam
Ngân hàng Phát triển Việt Nam mà hoạt động chủ yếu của nó nhằm tài
trợ có hiệu quả cho các chương trình phát triển kinh tế do Chính phủ hoạch
định, là một kênh hỗ trợ của Nhà nước thông qua chính sách tài trợ ưu đãi. Do
vậy phát triển hoạt động tín dụng xuất khẩu tại ngân hàng Phát triển vừa phải
các dự án đầu tư với thời hạn vay tương đối dài (thường là trên 5 năm).
- Quá trình thẩm định khoản vay là một quá trình phức tạp diễn ra trong
một khoảng thời gian tương đối dài (thông thường từ 3 đến 6
tháng cho một dự
án có quy mô trung bình) với sự tham gia của rất nhiều bên như: Chính phủ các
nước, các ngân hàng thương mại của nước sở tại, các chuyên gia tư vấn tài
chính, kỹ thuật ....
- Để hạn chế rủi ro các ngân hàng thực hiện cho nhà nhập khẩu vay
thường yêu cầu Chính phủ nước nhập khẩu hoặc các ngân hàng lớn có uy tín
bảo lãnh cho khoản vay này, thực hiện cơ chế kiểm soát đặc biệt luồng tiền thu
về của dự án của nhà nhập khẩu để đảm bảo khả năng trả nợ tín dụng.
Hình thức cho nhà nhập khẩu vay có thể được thực hiện thông qua hai
kênh:
+ Cho nhà nhập khẩu vay trực tiếp: nghiệp vụ này đòi hỏi cán bộ tín dụng
cần thu thập nhiều thông tin khách hàng của mình như: khả năng tài chính, khả
năng thanh toán, uy tín và mức độ tín dụng của nhà nhập khẩu, thị trường tại
nước nhà nhập khẩu...
+ Cho vay gián tiếp (hay là cho vay lại) đến nhà nhập khẩu: tức là thông
qua Chính phủ của nước nhập khẩu hoặc thông qua một ngân hàng, tổ chức tài
chính tại nước nhà nhập khẩu có quan hệ với ngân hàng Phát triển để cấp tín
dụng cho nhà nhập khẩu.
Việc giải ngân của hình thức này thông thường được trả trực tiếp cho nhà
xuất khẩu tại Việt Nam. Việc giải ngân này có thể thực hiện ngay trong giai
đoạn sản xuất chế biến hàng hoá hoặc khi hàng hoá đã được chuyển giao cho
nhà nhập khẩu nếu có yêu cầu.
Để thực hiện hình thức cho nhà nhập khẩu vay có hiệu quả thì trong quá
trình thực hiện ngân hàng Phát triển cần có những biện pháp phòng ngừa rủi ro
tỷ giá (vì có thể đồng tiền cho vay và đồng tiền khi thu nợ khac nhau, tỷ giá
giữa các đồng tiền ở hai thời điểm chênh lệch nhau) như: ký các hợp đồng giao
án kinh doanh giảm đi. Do vậy mức phí bảo lãnh có thể coi là rào cản để nhà
xuất nhập khẩu thực hiện hình thức này.
Từ những phân tích trên cho thấy nhu cầu của các doanh nghiệp xuất khẩu
Việt Nam đối với các loại hình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và bảo
lãnh thực hiện hợp đồng sẽ không nhiều. Để đẩy mạnh các hoạt động này ngân hàng
Phát triển cần tập trung vào một số điểm như:
+ Đề ra quy trình thẩm định, ra quyết định bảo lãnh tín dụng xuất khẩu
cần đảm bảo ở mức đơn giản nhất cho đơn vị vay vốn, hạn chế những quá trình
trùng lắp với thẩm định khoản vay của ngân hàng thương mại khác.
+ Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể thực hiện bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh
thực hiện tại các ngân hàng thương mại, ngân hàng Phát triển sẽ thực hiện bảo lãnh
đối ứng cho các ngân hàng thương mại. Đơn vị vay vốn chỉ phải trả mức phí bảo lãnh
theo đúng quy định của Nghị định 151/2006/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển và
tín dụng xuất khẩu.
+Đối với nghiệp vụ bảo lãnh tín dụng xuất khẩu có thể cung cấp cho các
ngân hàng thương mại khi cho vay nhà nhập khẩu hoặc cho vay nhà xuất khẩu.
Mô hình:
3.3.1.3 Triển khai nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đa dạng hóa cho vay nhà
xuất khẩu
Triển khai hoạt động thanh toán quốc tế: