Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới năm 2008 có thể nói là một bức tranh ảm đạm ảnh
hưởng tới hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài
những tác động tiêu cực với những biến động mạnh của giá vàng, giá dầu thô, tỷ
giá ngoại tệ diễn biến phức tạp, tăng giảm mạnh, lạm phát gia tăng…Những yếu
tố đó tiếp tục tác động tới hoạt động sản xuất của các DN trong và ngoài nước
năm 2009, hoạt động tín dụng ngân hàng chắc chắn không tránh khỏi những ảnh
hưởng. Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhưng chưa hoàn toàn ổn định. Nguy cơ
bệnh dịch, thiên tai vẫn có khả năng xảy ra. Hội nhập kinh tế quốc tế với những
chính sách tự do hóa thương mại trong điều kiện sức cạnh tranh các DN còn yếu
sẽ tiếp tục có những khó khăn đối với nền kinh tế trong nước. Đứng trước tình
trạng lạm phát tăng cao, chịu tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính
Phủ, hầu hết các DN đều đứng trước nguy cơ thiếu hụt về vốn trầm trọng, nhất
là các DNVVN ( chiếm tới 95% tổng số DN tại Việt Nam, đóng góp hơn 45%
GDP ) thì việc tiếp cận nguồn vốn vay Ngân hàng càng trở nên khó khăn hơn
bao giờ hết. Nhưng hiện nay, NHNN đã thay đổi chính sách nhằm kích cầu,
kích thích các DN mở rộng sản xuất, bằng chính sách hỗ trợ lãi suất ưu đãi cho
các DN, đặc biệt là các DNVVN thông qua các NHTM. Bản thân các NHTM
cũng đang hướng tới mở rộng cho vay đối với DNVVN, làm thay đổi cơ cấu tín
dụng, đồng thời phát triển tiềm năng đem lại lợi nhuận lớn cho NH.
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là một trong 5 ngân hàng
thương mại quốc doanh lớn nhất Việt Nam hiện nay, trong thời gian qua ngân
hàng đã có bước phát triển lớn mạnh không ngừng trên nhiều lĩnh vực, trở thành
một ngân hàng hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất trong toàn hệ thống và ngày
càng nâng cao được uy tín, vị thế của mình. Tuy thế mạnh của ngân hàng là cho
vay đối với các DNNN, tài trợ các dự án trung và dài hạn, song kể từ năm 2003
trở lại đây, ngân hàng đang có chính sách tăng dần tỷ trọng cho vay đối với các
DNVVN.
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
1
trong nền kinh tế, nếu phân loại theo quy mô Doanh nghiệp thì Doanh nghiệp
được chia làm 2 loại hình Doanh nghiệp: Doanh nghiệp lớn và DNVVN.
Theo quy định tại điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về
trợ giúp phát triển DNVVN thì “DNVVN là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc
lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Theo như định nghĩa trên thì DNVVN không phải là một khối DN thuần
nhất. Các DN này khá khác biệt về số luợng lao động cũng như năng lực tài
chính, công nghệ và quản lý. Các số liệu thống kê mô tả tình trạng DNVVN Việt
Nam dưới đây sử dụng cách phân loại DN dự kiến dựa trên số lượng nhân công
như sau:
DN siêu nhỏ : < 10 lao động
DN nhỏ: 10 – 49 lao động
DN vừa: 50 – 299 lao động
DN lớn: > 300 lao động
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
1.1.2. Nhu cầu vốn của DNVVN
Bất cứ một DN nào muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có sự hỗ trợ
vốn của NH, đặc biệt là với các DNVVN vì đặc điểm của loại hình DN này là
quy mô về vốn hết sức nhỏ bé. Nhờ vốn của NH mà DN có thể tự chủ trong việc
sản xuất kinh doanh và có khả năng chống chịu truớc những biến động của thị
trường. Vì vậy nhu cầu vốn là một điều kiện không thể thiếu của DNVVN.
1.1.3. Đặc điểm của DNVVN
- DNVVN Năng động, linh hoạt: do quy mô nhỏ nên các DN này rất cơ
động, linh hoạt, dễ chuyển hướng kinh doanh, có khả năng tiếp cận và đáp ứng
với những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực tốt hơn là nhũng DN lớn, Sẵn sàng
đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao
- DNVVN có thể tiếp cận, thích ứng công nghệ hiện đại: do quy mô
lượng lao động cả nước. Theo báo cáo thống kê riêng khu vực DN không tính
các hộ kinh doanh cá thể, mỗi năm thu hút trên dưới 45 vạn lao động với mức
thu nhập bình quân 1,05 triệu đồng/ tháng. Ngoài ra khu vực hộ kinh doanh cá
thể mỗi năm tăng thêm từ 12- 15 vạn cơ sở, thu hút thêm gần 40 vạn lao động
với mức thu nhập bình quân từ 350.000-500.000 đồng / tháng. Tiềm năng to lớn
này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ
thất nhiệp và ổn định xã hội hiện nay.
-Thu hút vốn: Vốn là một nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò
rất quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng DN.
Tuy nhiên hiện nay có một nghịch lý là các DN thiếu vốn trầm trọng trong khi
đó vốn trong dân còn tiềm ẩn nhưng không huy động được. Trong trường hợp
đó chính các DNVVN là người trực tiếp tiếp xúc với người cho vay, gây được
niềm tin nên có thể huy động được vốn, hoặc chính người có tiền đứng ra đầu tư
kinh doanh
- Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Do số lượng các DN tăng lên rất lớn, nên làm tăng tính cạnh tranh, giảm
bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng số lượng và chủng loại
hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Ngoài ra các DNVVN có khả năng thay đổi
mặt hàng, công nghệ và chuyển đổi hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh
tế năng động hơn. Một điều quan trọng là vốn của các DNVVN trong đó phần
lớn là khu vực tư nhân, chủ yếu chỉ đầu tư vào các ngành nghề có hiệu quả kinh
tế cao. Do vậy việc tăng các cơ sở này làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
- Khai thác tiềm năng rất phong phú trong dân: Việc phát triển các DN
sản xuất các ngành ghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong
những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân mà
hiện đang có xu hướng bị mai một dần, thu hút lao động nông thôn, phát huy lợi
thế của từng vùng để phát triển kinh tế
hạn thanh toán.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NH nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo
thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.
Theo luật tổ chức tín dụng Việt Nam thì: “Tổ chức tín dụng được cấp tín
dụng cho tổ chức cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và
giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định
của NHNN”. Như vậy, tín dụng NH không chỉ đơn thuần là hoạt động cho vay
mà còn các hình thức chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài sản…
Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội
dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
1.2.2. Phân loại tín dụng NH
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo
những tiêu thức phân loại khác nhau.
- Phân loại theo hình thức cấp tín dụng: Gồm chiết khấu, cho vay, bảo
lãnh và cho thuê
+ Chiết khấu thương phiếu là việc NH ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của NH để sở hữu
một thương phiếu chưa đến hạn.
+ Cho vay là việc NH đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng
phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xấ định.
+ Bảo lãnh là việc NH cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng của mình.
cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí chiết khấu đối với trường hợp cụ thể có
liên quan đến rủi ro và chi phí đòi tiền.Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn
giản, dựa trên sự tín nhiệm của ngân hàng và những người kí tên trên thương
phiếu.Do tối thiểu có 2 người cam kết trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của
thương phiếu tương đối cao.
1.2.3.2. Cho vay
- Phương thức cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần
cách biệt nhau đối với khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay
trong trường hợp cần thiết để vốn NH tham gia vào một giai đoạn nhất định của
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn và trình NH
phương án sử dụng vốn vay. NH sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho
vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu
cầu bảo đảm. Số lượng tín dụng cấp từng lần sẽ căn cứ vào tỷ lệ so với tài sản
đảm bảo hoặc nhu cầu vay vốn của DN. Cụ thể:
Số luợng cho vay = nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh – Vốn
chủ sở hữu tham gia – Các nguồn vốn khác tham gia
Nếu cho vay theo giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng cho vay = Giá trị tài sản đảm bảo * Tỷ lệ cho vay trên tài sản
đảm bảo
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo do từng NH cụ thể qui định phù
hợp với qui định của NH Nhà Nước. Với hình thức này NH có thể kiểm soát
từng món vay cụ thể, và trong quá trình vay NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu
quả sử dụng vốn, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng NH sẽ thu nợ trước
hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn.
-Phương thức cho vay theo hạn mức: Đây là hình thức cho vay theo đó
NH thỏa thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng
được cấp tren cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay
NH cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình
đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) và trong khoảng thời gian
xác định. Để được vay thấu chi khách hàng làm đơn xin NH hạn mức thấu chi
và thời gian thấu chi. Trong thời gian thấu chi khách hàng có thể kí séc, lập ủy
nhiệm chi…vượt quá số dư tiền gửi để chi trả nhưng không được vượt quá hạn
mức thấu chi. Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi NH sẽ thu nợ
gốc và lãi. Nếu khách hàng chi vượt quá hạn mức thấu chi thì sẽ bị phạt và đình
chỉ sử dụng hình thức này.
- Phương thức cho vay hợp vốn: phương thức trong đó NH cùng với một số
tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho
vay một hoặc một phần dự án, phương án, trong đó NH có thể là tổ chức đầu
mối hoặc thành viên cho vay hợp vốn.
- Phương thức cho vay theo dự án đầu tư: Là hình thức tài trợ của NH cho
khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh
doanh, dich vụ. Phương thức này thường áp dụng cho những dự án có nhu cầu
vốn lớn.
- Các phương thức khác: Tùy theo nhu cầu của từng khách hàng và thực tế
phát sinh, NH sẽ xem xét cho vay theo các phương thức khác phù hợp với đặc
điểm hoạt động trong cùng thời kỳ và không trái với quy định của pháp luật.
1.2.3.3. Cho thuê tài sản
Cho thuê của NH thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân
hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
gần đủ hoặc đủ giá trị của tài sản cho thuê cộng lại. Hết hạn thuê, khách hàng có
thể mua lại tài sản đó. Cho thuê giống một khoản cho vay thông thường ở chỗ
ngân hàng phải xuất tiền với lỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định,
khách hàng phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kỳ. Ngân hàng
cũng phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả
- Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở
hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài
trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa,
để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy
tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn
vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọn dự án có
mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị
trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao
cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án.
Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám
sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh
nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi
của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò
tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những
khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao
hiệu quả kinh tế.
- Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục
của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ
chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.
Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa
lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh
trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu
vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm
từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách... được ngân hàng thương mại huy động
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý có phạm vi hoạt động rộng xong chủ yếu làm 3 dạng chính:
Quản lý giới vô sinh: nhà xưởng, hầm mỏ, máy móc thiết bị, nhà
xưởng…
Quản lý xã hội loài người: Đảng, đoàn thể, nhà nước, doanh nghiệp,
gia đình…
Quản lý giới sinh vật: vật nuôi, cây trồng…
Tất cả các dạng quản lý đều mang những đặc điểm chung sau đây:
- Để quản lý được một hệ tồn tại của quản lý bao gồm cả hai phân hệ: chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động
quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý đi đến mục tiêu. Chủ thể có thể là một
người, một bộ máy quản lý gồm nhiều người nhiều thiết bị. Đối tượng quản lý
tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý. Đây có thể là những yếu tố thuộc giới vô
sinh, giới sinh vật hoặc con người.
- Phải có một tập hợp mục đích thống nhất cho cả chủ thể và đối tượng
quản lý. Đạt mục đích tốt nhất trong hoàn cảnh môi trường luôn biến động và
nguồn lực hạn chế luôn là lý do của quản lý. Đó cũng là căn cứ quan trọng nhất
để chủ thể quản lý tiến hành các dạng quản lý.
- Quản lý liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều. Quản lý là một
quá trình thông tin. Chủ thể quản lý luôn thu thập thông tin về môi trường, về hệ
thống, tiến hành chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, bảo quản thông tin, truyền
tin và ra các quyết định- một dạng thông tin đặc biệt nhằm tác động lên các đối
tượng quản lý. Còn đối tượng quản lý tiếp nhận các thông tin quản lý của chủ
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
thể cùng các đảm bảo vật chất khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
mình.
dùng…rủi ro cao hơn thì lãi suất danh nghĩa sẽ cao hơn sẽ cao hơn so với lãi
suất cho vay ngắn hạn, hoặc lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp…Tuy nhiên,
sau khi tài trợ quan hệ đó lại là tổn thất càng cao thì sinh lời càng thấp. Ngân
hàng có thể theo đuổi chiến lược tài trợ rủi ro cao hoặc thấp trong ngắn hạn,
song đều phải xác lập mối liên hệ rủi ro và sinh lời nhằm đảm bảo gia tăng thu
nhập cho chủ sở hữu trong dài hạn.
Ngân hàng thường phân loại rủi ro tín dụng dựa trên thống kê kinh
nghiệm và phân tích các điều kiện thị trường. Phân loại này cho phép nhà quản
lý xác định các tỷ lệ rủi ro liên quan đến từng nhóm khách hàng, các nguyên
nhân gây rủi ro và môi trường nảy sinh rủi ro. Phân loại cũng giúp các nhà quản
lý xác định các phép đo rủi ro tín dụng một cách hợp lý và ngưỡng rủi ro mà
ngân hàng có thể chấp nhận.
Nghiên cứu và tìm các giải pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, giải quyết bù
đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dung chính của quản lý tín dụng.
Xây dựng quy trình phân tích tín dụng và phổ biến rộng rãi quy trình đó cho mọi
khách hàng sẽ góp phần làm cho khách hàng hiểu yêu cầu và nội dung công việc
của ngân hàng khi tài trợ. Thiết lập các quỹ và các hợp đồng tài chính nhằm bù
đắp tổn thất xảy ra, thiết lập các quỹ và các hợp đồng tài chính nhằm bù đắp tổn
thất xảy ra, thiết lập các rang buộc pháp lý giữa ngân hàng và khách hàng, giữa
ngân hàng với cán bộ tín dụng là biện pháp mà các ngân hàng đang hướng tới
trong môi trường rủi ro đang ngày càng gia tăng.
Dự phòng là biện pháp nhiều ngân hàng áp dụng để ước lượng giá trị các
khoản cho vay có khả năng thu hồi. Dự phòng có thể được coi như tài sản đối
ứung khi ngân hàng cho vay.
Dư nợ ròng = Dư nợ - Dự phòng tín dụng
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Dự phòng tín dụng làm giảm vốn của chủ. Ngân hàng phải tính toán sao
cho thu nhập ròng sau thuế và trích lập dự phòng tổn thất đủ để tăng vốn của chủ
công tác quản trị nhân sự tại ngân hàng sẽ được điều chỉnh kịp thời cho hợp lý
và hiệu quả nhất.
Dựa vào quy trình tín dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành chính
cho phù hợp với những quy định của Luật pháp và đảm bảo mục tiêu an toàn
trong kinh doanh. Thiết kế các khoản cho vay phải thích hợp với từng nhóm
khách hàng, từng loại cho vay cũng như kỹ thuật tín dụng nhằm cung cấp đầy đủ
các thông tín cần thiết, nhưng không gây phiền hà cho khách hàng, cũng như tiết
kiệm thời gian cho cả 2 bên.
Quy trình tín dụng nhằm hướng dẫn việc thực hiện thống nhất những
nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng.
Quy trình tín dụng kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính
sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn.
Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng nhà quản trị ngân hàng
nhanh chóng xác định những khâu, những công việc cần điều chỉnh, cũng như
hướng đào tạo và phân công tương lai, từ đó kiểm soát được những rủi ro khi
cấp tín dụng.
Một quy trình tín dụng thì gồm các bước:
- Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
- Phân tích tín dụng
- Quyết định tín dụng
- Giải ngân
- Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng.
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu
tiên của quy trình tín dụng, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp
xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng
vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là
khâu phân tích và ra quyết định cho vay. Tùy theo quan hệ giữa khách hàng và
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một
hồ sơ vay vốn cảu khách hàng. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình
tín dụng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng lớn đến uy tín
và hiệu qủa hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có hai loại sai lầm cơ bản
thường xảy ra trong khâu này:
- Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt.
- Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt.
Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân
hàng. Loại sai lầm thứ nhất dẽ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không
thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại
về uy tín và mất cơ hội cho vay.
Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định tín dụng các ngân
hàng thường chú trọng hai vấn đề đó là:
- Thu thập và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ
sở để ra quyết định.
- Trao quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng hoặc những
người có năng lực phân tích và phán quyết.
Cơ sở để ra quyết định tín dụng
Cơ sở để ra quyết định tín dụng trước hết dựa vào thông tin thu thập
và xử lý từ hồ sơ tín dụng, do giai đoạn trước chuyển sang. Kế đến, dựa vào
những thông tin khác hoặc thông tin cập nhật hóa có liên quan, thông tin đa
dạng từ nhiều nguồn khác nhau đã được cập nhật hóa, đặc biệt là các thông tin
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
đáng tin cậy từ các công ty nghiên cứu thị trường có uy tín, chẳng hạn như
thông tin cập nhật về tình hình htị trường, chính sách tín dụng của ngân hàng,
các quy định về hoạt động tín dụng của Ngân Hàng Nhà Nước, nguồn vốn cho
vay của ngân hàng, kết quả thẩm định các hình thức bảo đảm nợ vay.
Quyền phán quyết tín dụng
đồng hoặc do khoản vay đã đến hạn. Đây là khâu kết thúc của quy trình tín
dụng. Khâu này gồm các việc quan trọng cần xử lý:
- Thu nợ cả gốc và lãi
- Tái xét hợp đồng tín dụng
- Thanh lý hợp đồng tín dụng
Thu nợ: Ngân hàng tiến hành thu nợ khách hàng theo đúng những điều
khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tùy theo tính chất của khoản vay và
tình hình tài chính của khách hàng, hai bên có thể thỏa thuận và lựa chọn một
trong những hình thức thu nợ sau:
- Thu nợ gốc và lãi một lần khi đáo hạn
- Thu nợ gốc một lần khi đáo hạn và thu lãi theo định kỳ
- Thu nợ gốc và lãi theo nhiều kỳ hạn.
Nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân
hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này có
biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ.
1.3.2.4. Bảo đảm tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi
ro. Mặc dù trước khi cho vay, ngân hàng đã trải qua các khâu thu thập thông
tin, xử lý, phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vẫn
chưa thể nào loại bỏ được rủi ro tín dụng. Do vậy, bảo đảm tiền vay có thể sử
dụng như một trong những cách thức tham gia tăng khả năng thu hồi nợ và
giảm thiểu rủi ro tín dụng. Bảo đảm tín dụng hay còn được gọi là bảo đảm tiền
vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro,tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
Các hình thức bảo đảm tín dụng
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
Bảo đảm tín dụng nói chung có thể thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm
bảo đảm bằng tài sản thế chấp, bảo đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm tài sản
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đại học kinh tế quốc dân
nghĩa vụ trả nợ. Bảo lãnh có thể chia làm 2 loại chính: Bảo lãnh bằng tài sản và
bảo lãnh bằng tín chấp.
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3 là việc bên thứ 3 ( gọi là bên bảo
lãnh ) cam kết với bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi
vay không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
- Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị xã hội là biện
pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản, theo đó tổ chức đoàn thể chính trị xã hội bằng uy tín của mình bảo lãnh cho
bên đi vay
SV: Phạm Thị Hương Quản Lý Công 47
25