GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
TẠI CÔNG TY PHÂN LÂN NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN
I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY PHÂN LÂN
NUNG CHẢY VĂN ĐIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
Bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ 21, Công ty dự kiến phát triển theo
hướng tiếp tục đẩy mạnh sản xuất PLNC, một sản phẩm truyền thống đồng thời
phát triển các loại phân hỗn hợp, nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các loại NPK-
ĐYT chuyên dùng cho từng loại cây trồng, phù hợp với từng loại đất, đáp ứng yêu
cầu của tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp.
Công ty đã đề ra mục tiêu cần đạt được trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2010
như sau:
• Đưa sản lượng phân bón của Công ty vào năm 2010 lên 300-320 ngàn tấn/năm
trong đó PLNC là 230-240 ngàn tấn/năm và phần còn lại là các loại phân bón
hỗn hợp khác trong đó ĐYT-NPK là 60-80 ngàn tấn/năm.
• Nâng cao mức thu nhập, bảo đảm công ăn việc làm cho toàn bộ cán bộ công
nhân viên.
• Từng bước hướng tới cổ phần hoá doanh nghiệp.
• Mở rộng thị trường xuất khẩu.
Trong thời gian tới, Công ty còn phải gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khi nước
ta và các nước trong ASEAN chính thức thực hiện hiệp định AFTA. Mức thuế suất
nhập khẩu đối với mặt hàng phân bón giảm xuống còn 0-5% vào năm 2003 và 0%
vào năm 2006. Công ty có thuận lợi là đưa sản phẩm PLNC thâm nhập vào thị
trường các nước ASEAN có đất đai, cây trồng phù hợp với PLNC với ưu thế về
công nghệ và nguồn tài nguyên Apatít. Tuy nhiên, việc hội nhập AFTA cũng dẫn
tới mức độ cạnh tranh trong nước tăng cao. Những loại phân bón có hàm lượng
dinh dưỡng cao được nhập khẩu với giá thấp hơn có thể cạnh tranh mạnh mẽ với
các Công ty trên thị trường trong nước.
Vì vậy để đạt được chỉ tiêu đề ra, Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển cần hoàn
thiện hoạt động kinh doanh của mình, tìm cách đáp ứng nhu cầu khách hàng một
cách cao nhất. Bên cạnh các biện pháp về công nghệ-khoa học kỹ thuật, nhân lực
thì biện pháp về tiêu thụ hàng hoá trong đó việc tiếp tục hoàn thiện chính sách
phải thu của khách hàng.
Nhu cầu tiêu dùng:
Công ty nên căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng của từng thị trường để quy định thời kỳ
tín dụng cho mỗi khách hàng kinh doanh trên thị trường đó. Tại những thị trường
mới như Hà Nam, Thái Bình, sản phẩm tiêu thụ chậm, Công ty nên quy định thời
kỳ tín dụng dài hơn cho khách hàng kinh doanh tại vùng này.
Rủi ro tín dụng:
Căn cứ vào mức độ rủi ro TDTM của từng khách hàng mà Công ty quy định thời
kỳ TDTM khác nhau. Khách hàng có độ rủi ro cao thì thời kỳ tín dụng thấp hơn.
Nếu hai khách hàng có cùng các điều kiện thì khách hàng nào có bảo lãnh của ngân
hàng hãy tài sản thế chấp có thể được hưởng thời kỳ TDTM dài hơn.
Giá trị khoản TDTM:
Nhìn chung, khối lượng mua hàng của khách hàng càng nhiều, giá trị của khoản
TDTM càng lớn thời kỳ tín dụng có thể được quy định càng dài.
Tính chất cạnh tranh:
Tính chất cạnh tranh trên thị trường phân bón ngày càng cao. Các Công ty sản xuất
kinh doanh phân bón đều quy định chính sách TDTM nhằm tăng cường khả năng
cạnh tranh. Bởi vậy, để nâng cao sức cạnh tranh của mình, Công ty nên nghiên cứu
quy định về chính sách TDTM của đối thủ cạnh tranh để đưa ra thời kỳ TDTM hợp
lý.
Như vậy, Công ty cần phải xem xét toàn bộ các yếu tố trên để từ đó đưa ra quyết
định hợp lý về thời kỳ TDTM đối với từng khách hàng.
Giá trị các khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Tổng nguồn vốn
Wd =
• Lãi suất chiết khấu tiền mặt
Các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn về cả số lượng lẫn
giá trị các khoản TDTM. Và hầu hết các doanh nghiệp này được quy định thời kỳ
TDTM là 30 ngày với mức giá bằng giá tiền ngay. Điều này dẫn đến dư nợ của
d
: tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nguồn vốn.
Tổng nguồn vốn
Vốn chủ sở hữu
Ws =
W
s
: tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn
K
d
: tỷ trọng chi phí nợ ngắn hạn.
K
s
: chi phí vốn chủ sở hữu.
Ở đây, chi phí nợ ngắn hạn của Công ty phát sinh từ chi phí của các khoản TDTM
Công ty được hưởng từ các nhà cung cấp. Chi phí này chính là các khoản chiết
khấu mà Công ty đã từ bỏ để tận dụng tối đa thời kỳ tín dụng của các nhà cung cấp.
Còn chi phí vốn chủ sở hữu của Công ty chính là tỷ suất lợi nhuận cần đạt được để
không làm giảm giá trị của Công ty, không làm giảm vốn chủ sở hữu. Do vậy Công
ty có thể sử dụng tỷ suất doanh lợi vốn.
Thứ hai, lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng,
Lãi suất chiết khấu phải đảm bảo lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng
bởi điều này sẽ là động lực thúc đẩy khách hàng vay vốn ngân hàng để thanh toán
nợ sớm nhằm hưởng khoản chiết khấu của Công ty. Lãi suất chiết khấu này cũng
không thấp hơn quá nhiều so với chi phí nguồn tài trợ để không làm mất lợi nhuận
cuả Công ty.
Thêm nữa, Công ty cần căn cứ vào mức giá tối đa mà khách hàng có thể chấp nhận
được bởi khách hàng cuối cùng của Công ty vẫn là người nông dân, rất nhạy cảm
1.2. Phân tích tín dụng
• Thu thập thông tin
Việc thực hiện chính sách TDTM là sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Để có
được chính sách TDTM hợp lý tức là đạt được mức lợi nhuận tối đa với mức rủi ro
trong giới hạn cho phép, Công ty cần xây dựng được các tiêu chuẩn tín dụng để từ