1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cách thức con
người tác động vào tự nhiên , môi trường để tạo ra của cải vật chất đảm bảo
cuộc sống mưu sinh. Tuy nhiên sinh kế của mỗi tộc người khác nhau không
hoàn toàn giống nhau, trong một nước sinh kế tộc người thể hiện trình độ phát
triển của quốc gia đó.
Nước ta là nước đang phát triển, tỉ lệ nghèo đói còn khá cao nhất là các
dân tộc thiểu số phân bố tới 3/4 diện tích lãnh thổ, ở vùng xa xôi hẻo lánh.
Các chiến lược ổn định phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của nước ta
trong đó có vấn đề sinh kế tộc người luôn được Đảng đặt lên hàng đầu. Thực
tế cho thấy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi trong mấy chục
năm qua là thành tựu thực hiện của chính sách dân tộc.
Thực trạng các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang ngày càng phát
triển, khẳng định mục tiêu mà Đảng ta hướng tới và con đường Đảng đã lựa
chọn cho các dân tộc thiểu số là hết sức đúng đắn.
Để thực hiện mục tiêu xã hội nhanh chóng xóa đói giảm nghèo, ổn
định cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội. Đảng đã áp dụng nhiều chính
sách mang tầm chiến lược đối với vùng miền núi và dân tộc thiểu số.
Nhưng thực tế một số chương trình chính sách do còn thiếu tính lí luận và
thực tiễn nên chưa đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy nghiên cứu
một cách cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội của các dân tộc trong quá trình
chuyển đổi hiện nay là rất cấp thiết.
Trong những năm gần đây cùng với công nghiệp hóa – hiện đại hóa,
quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch đang được đẩy mạnh ở miền núi có
nhiều tiềm năng và các dân tộc thiểu số. Vì vậy không tránh khỏi những tác
động tới giá trị văn hóa, xã hội và sinh kế của các dân tộc nơi đây. Trên cơ sở
3
Các nhà kinh tế lại nhìn hoạt động kinh tế của đồng bào các dân tộc
thiểu số trong tình trạng kém phát triển, còn lạc hậu.Vì vậy cần đưa tiến bộ
khoa học kĩ thuật, cũng như đầu tư các giống mới chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi, tăng năng suất. Cũng như chú ý phát triển kinh tế hàng hóa ở
miền núi gắn với chiến lược con người.
Một số tổ chức và các cá nhân nghiên cứu tình hình kinh tế của các dân
tộc miền núi để đầu tư nhằm khai thác tiềm năng đem lại lợi nhuận.
Như vậy, vấn đề này đã được phản ánh một cách khái quát trong từng
nhóm dân tộc, tập trung trong các tài liệu nghiên cứu khá phong phú.
Người Dao ở nước ta đứng vào hàng thứ 6 so với các dân tộc thiểu số ở
Miền Bắc, sinh kế của người Dao được phản ánh dưới khía cạnh các hình thái
kinh tế bao gồm nông nghiệp, kinh tế phụ gia đình, mua bán và trao đổi hàng
hóa. Nhưng chủ yếu là hoạt động sinh kế truyền thống như trong bài “Tri
thức địa phương trong sử dụng thuốc nam của người Dao đỏ” của tác giả Trần
Thị Hồng Hạnh đăng trên tạp chí Dân tộc học số 5 (2002), đề cập tập quán
lên rừng lấy thuốc nam về chữa bệnh cho gia đình cũng như cho cộng đồng
làng bản, là tập quán có từ lâu đời của tổ tiên người Dao. Nhưng nay trong
quá trình chịu sự tác động của du lịch hiện nay lấy thuốc nam để bán cho
khách du lịch thành phổ biến, trở thành một nghề kiếm thêm thu nhập thì
chưa nghiên cứu nào đề cập tới.
Gần đây nhất nghiên cứu của Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai
Lan về “Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa” cũng đề cập tới khía cạnh
những tác động kinh tế - xã hội của du lịch đối với dân tộc thiểu số ở Sa Pa
trong đó có cả đối tượng là người Dao đỏ ở Tả Phìn. Ngoài ra, cũng phải kể
tới luận văn “Tác động của du lịch lên đời sống một số tộc người ở Sa Pa Lào
Cai” của Trần Thị Huệ (2004). Trong trường hợp này các dân tộc thiểu số đều
bị đặt vào vị trí là khách thể bị động trước làn sóng du lịch, mới nảy sinh
nào? Nó đã được tiếp nhận theo chiều hướng nào, bằng cách nào?
5
+ Những hệ quả của quá trình chuyển đổi sinh kế ra sao, đặt ra cơ hội và
thách thức gì mà tộc người phải đối diện để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay?
Những kết quả nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi một xã – Tả
Phìn (Sa Pa).
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc thu thập và sử lí các nguồn tài liệu thành văn và không
thành văn về tộc người Dao đỏ, các bài báo, tài liệu, sách, công trình nghiên
cứu có liên quan tới đề tài. Tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản
của Dân tộc học – Nhân học đó là điền dã Dân tộc học bao gồm :
+ Phương pháp điều tra thu thập thông tin từ các hộ gia đình bằng bảng
hỏi, các hộ có thành viên tham gia hoạt động du lịch và thu nhập từ sinh kế
mới.Một số tổ chức, nhóm xã hội ở địa phương như Câu lạc bộ Thổ cẩm,
Công ty tắm thuốc dân tộc Dao đỏ.
+ Tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu đối với các đối tượng khác
nhau như trưởng thôn, những người bán hàng thổ cẩm cho khách du lịch,
người già, lãnh đạo địa phương là người dân tộc và cán bộ huyện nằm vùng,
hội phụ nữ để có thông tin cần thiết và cụ thể nhất về hoạt động kinh tế cũng
như sự hòa nhập vào nhịp độ phát triển du lịch mạnh mẽ của người Dao đỏ
nơi đây.
+ Phương pháp quan sát tham dự - phương pháp kinh điển trong
nghiên cứu Dân tộc học cũng được sử dụng tối đa. Vì muốn hiểu và thu
thập thông tin xác thực nhất về cuộc sống của người Dao đỏ trong hoàn
cảnh hiện nay thì không gì hơn là cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia các
hoạt động hàng ngày của họ. Vì vậy tôi đã đến ở tại một gia đình người
Dao đỏ ở đội 1 – Sả Xéng –Tả Phìn , từ đó giúp tôi định hướng và tiếp
1.1. Huyện Sa Pa
Sa Pa là huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai cách Lào Cai 38km, cách Hà
Nội 400km về phía Tây Bắc Việt Nam.Ở tọa độ địa lí 22 007’04’’ đến 22028’48’’
vĩ độ bắc và từ 103043’28’’ đến 104004’15’’ kinh độ đông với diện tích tự nhiên
của huyện là 67.864ha.
+ Phía Bắc giáp huyện Bát Sát
+ Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng
+ Phía Nam giáp huyện Văn Bàn
+ Phía Tây giáp huyện Than Uyên, Phong Thổ (Lai Châu)
Sa Pa nằm ở chân núi Phan xi păng với đỉnh cao 3.143m, có khu bảo
tồn thiên nhiên Hoàng Liên là một trong những khu vực đầu tiên được ghi
trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam được chính thức chuyển thành vườn
quốc gia Hoàng Liên theo quy định số 90/2002/QĐ-TTG của thủ tướng chính
phủ với tổng diện tích 29.845ha.
8
Vị trí xã Tả Phìn trên bản đồ
HÌNH 1.1 : BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN SA PA
9
Xét về vị thế kinh tế, Sa Pa là lãnh thổ trung chuyển quan trọng của 2
vùng địa lí kinh tế Tây Bắc và Đông Bắc qua đèo Hoàng Liên, có hành lang
kinh tế quan trọng Hòa Bình-Sơn La-Điện Biên và Hà Nội-Vĩnh Phúc- Yên
Bái- Lào Cai- Trung Quốc. Sa Pa còn gần các điểm du lịch hấp dẫn thuộc
tuyến du lịch Điện Biên- Mường Lay- Lai Châu, cửa khẩu quốc tế Lào Cai và
phù hợp với các loại cây trồng. vì vậy mà cây trồng chính là lúa, ngô, đậu
tương, cây làm thuốc ( thảo quả, đỗ trọng, sa nhân), cây ăn trái (mận, đào, lê),
hoa. Đây là thế mạnh phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Bảng 1.1: Tổng sản lượng lương thực cây có hạt một số năm
Năm
2001
2005
Lúa
Ngô
Tổng/ Tấn
6521
1200
7721
9500
1300
12100
(Nguồn :Báo cáo chương trình ĐHĐB Huyện Sa Pa)
Bình
quân
người/năm
190
277
Tỷ lệ % hộ đói nghèo
2002
26,6 (Tiêu chí cũ)
2003
16,1 ( Tiêu chí cũ)
2004
10,98 (Tiêu chí cũ)
2005
48,7 ( Tiêu chí mới)
2006
34,9 ( Tiêu chí mới)
(Nguồn: Ban nội vụ huyện Sa Pa, tháng 4 / 2008)
Bảng1. 4: Tỷ lệ đói nghèo của các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006
Dân tộc
Số hộ
Tỷ lệ %
Kinh
25
1
Tày
108
4,3
Mông
1819
72,8
Dao
444
17,7
Giáy
21
6
Dân tộc
Tỷ lệ %
Mông
52,3
Dao
25,3
Kinh
14,1
Tày
5,8
Giáy
1,6
Xá Phó
1,2
( Nguồn: UBND huyện Sa Pa, 4 / 2008)
Sự đa dạng thành phần dân tộc khiến cho Sa Pa đa dạng sắc màu văn
hóa kết hợp với tài nguyên thiên nhiên phong phú là một thế mạnh để Sa Pa
đẩy mạnh phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực: Nông – Lâm nghiệp,
Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ - Du lịch theo phương châm “Lấy kinh tế
Nông – Lâm nghiệp làm trọng tâm, đẩy mạnh phát triển công nghiệp – xây
dựng và coi du lịch – dịch vụ là then chốt” ( UBND huyện Sa Pa).
Thực hiện phương châm này dưới sự lãnh đạo của Đảng các dân tộc
huyện Sa Pa đang cùng nhau chung sức phát triển kinh tế từng bước thoát
khỏi đói nghèo, nâng cao đời sống, tăng thu nhập.Trong những năm gần đây
chính sách đầu tư cho đồng bào các dân tộc đã tạo động lực cho họ phát triển
kinh tế, tự vươn lên không còn tình trạng đốt phá rừng sống du canh du cư,
cuộc sống ngày càng ổn định.
Bảng1. 6: Bảng thống kê số hộ kinh doanh nhà nghỉ ở một số xã
STT
1
Tên Thôn
Số hộ tham gia kinh
Bản Hồ
doanh (đv :Hộ)
29
14
2
Tả Van
28
3
Thanh Phú
4
4
Sa Pa kỉ niệm 103 năm có tên Sa Pa. Kể từ đó tới nay trải qua nhiều năm
tháng Sa Pa ngày nay đã và đang thay da đổi thịt ( Từ một huyện nghèo dần
tiến tới 1 huyện giàu có) nhiều nhà hàng, khách sạn, chợ phiên, làng du lịch
sinh thái đang được hình thành.
15
Ngay sau khi chiếm được Sa Pa năm 1886, chúng đã đặt ách thống trị
tại mảnh đất giàu tiềm năng này.Từ đó tới năm 1954 người Pháp cũng phát
triển hệ thống nông nghiệp chăn nuôi và cây ăn quả Á nhiệt đới đặc sản trên
đồn điền Viô (nông trường Sa Pa ngày nay), Pheniét, Tắkkô, Magne. Nhưng
cộng đồng dân tộc thiểu số không được hưởng lợi từ sự phát triển này. Đời
sống của người dân vẫn chủ yếu là canh tác nương rẫy, theo phương thức du
canh du cư.
Thời kì hợp tác hóa nông nghiệp : 1954-1970 hoạt động nương rẫy
vẫn là hình thức chính. Nhóm người Kinh, Tày, Giáy có hệ thống sản xuất
cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (bông, lạc cố định) còn người
Mông, Dao, Xá Phó vẫn sống du canh du cư. Chính sách cải cách ruộng đất
trong giai đoạn này làm xuất hiện tổ đổi công và hợp tác hóa nông nghiệp.
Bao gồm :6 xã Thanh Phú, Lao Chải, Bản Khoang, Tả Phìn, Trung Trải và
Thị trấn (1958). Hệ thống ruộng bậc thang tiếp tục phát triển và tăng diện
tích dưới tác động của nghị quyết II (1962) và nghị quyết III (1963), mạnh
nhất là ở Lao Chải và Sa Pả từ 510 ha (1952) tăng lên 776 ha (1965). Diện
tích rừng được người Mông và Dao sử dụng phát triển Thảo quả ở Tả Van,
Tả Giàng Phình,Tả Phìn, San Sả Hồ, Bản Khoang với tổng diện tích là
8,1ha (1960) quy đổi.
Thời kì củng cố hợp tác xã (1970-1986) với chính sách xây dựng
vùng kinh tế mới và vùng chuyên canh củng cố hợp tác xã (1971) và nghị
quyết TW phát triển lâm nghiệp đã làm tăng diện tích trồng Thảo quả lên 400
giáp với các đơn vị hành chính cấp xã trong và ngoài huyện Sa Pa:
Phía Đông giáp Trung Chải – Sa Pa
Phía Nam giáp Sa Pả - Sa Pa
Phía Tây giáp Bản Khoang – Sa Pa
Phía Bắc giáp Phìn Ngang – Bát Sát
17
Nằm ở độ cao trung bình 1300m nên khí hậu của Tả Phìn nằm trong
phông chung của khí hậu huyện Sa Pa mang đặc tính khí hậu gió mùa trên núi
có mùa đông rét, mùa hè mát, nhiệt độ trung bình từ 15-16 0c, độ ẩm tương đối
cao 86%, lượng mưa trung bình 2901mm/năm, với chế độ mưa này đáp ứng
nhu cầu về nước sinh hoạt và hoạt động sản xuất của người dân.
Ngoài những yếu tố thời tiết chung Sa Pa còn có những hiện tượng thời
tiết đặc biệt
thường xuyên xuất hiện : Sương mù, băng giá,dông,mưa
phùn,sương muối, mưa đá và tuyết. Mặc dù có tác động xấu tới cuộc sống và
hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người nơi đây nhưng mặt khác nó lại
tạo cho Sa Pa nói chung và Tả Phìn nói riêng càng thêm sức sống hấp dẫn lạ
thường.
Tả Phìn cách trung tâm thị trấn không xa (12km về phía Đông bắc), gần
quốc lộ 4D nên Tả Phìn có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế thương mại dịch vụ và sớm được đưa vào khai thác theo tuyến du lịch làng bản Sa Pa – Tả
Phìn – Sa Pa .
B¶n ®å hµnh chÝnh HuyÖn Sa Pa - Lµo Cai
Kinh 71 người / 23 hộ
Nhìn chung dân cư phân bố rải rác, phân tán theo từng cụm nhỏ, đa số
dân tộc ở đây sống định canh định cư. Người Mông phân bố trên sườn gần
đỉnh và đỉnh đồi núi, người Dao là cụm cư dân phân bố xung quanh chân đồi
núi, dưới thung lũng gần nguồn nước, chủ yếu là các hộ thuần nông tham gia
hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, người Kinh phân bố xung quanh trục
đường giao thông chính và khu vực trung tâm xã (thôn Sả Xéng), phần lớn họ
từ đồng bằng lên đây làm ăn sinh sống, các hộ này tham gia hoạt động sản
20
xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp như giáo viên, y tá, buôn bán nhỏ, bán
hàng ăn. …..
Mỗi dân tộc mang một sắc màu văn hóa, phong tục tập quán riêng đặc
trưng tạo nên một Tả Phìn không chỉ hấp dẫn du khách bởi khí hậu trong lành,
cảnh quan kì thú mà còn phong phú về màu sắc trang phục, ngôn ngữ, nét văn
hóa truyền thống của các dân tộc. Chính sự kết hợp hài hòa giữa con người
với thiên nhiên đã trở thành nguồn tài nguyên có giá trị phục vụ phát triển du
lịch, làm đòn bẩy cho các ngành kinh tế khác - ngành kinh tế trọng tâm nông
- lâm nghiệp của địa phương.
Trong những năm qua nhờ thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội , các dự án hỗ trợ và đầu tư Tả Phìn ngày càng lớn mạnh và ổn
định thu được nhiều thành tựu về mọi mặt.
Do đặc điểm của địa hình và khí hậu nên cây trồng chủ yếu của Tả Phìn
là Lúa và Ngô. Lúa được trồng với diện tích lớn, theo số liệu điều tra năm
2003 tổng diện tích lúa của xã là 394,9 ha (bình quân 655m 2/ người. Nương
rẫy trồng ngô 200,7 ha (bình quân 416m 2/ người). Lúa chỉ canh tác một vụ
vào tháng 4, tháng 5 khi có đủ điều kiện về nước và nhiệt độ. Năm 2007 xã
gieo cấy được7223 kg giống năng suất 40 tạ / ha và 800 kg ngô năng suất 20
Loại cây
Diện tích (đơn vị ha)
Lúa
177,8
Ngô
125
Chè
8,61
Thảo quả
55
Khoai
10
Đao giềng
2
Rau + su su
16
Đậu
9
Đậu tương
0,6
Lanh
1,4
Xuyên khung
0,5
Đào
19
Mận
13
Lê
28,5
1.3.1. Khái quát chung
Người Dao là cộng đồng dân tộc thiểu số ở nước ta có số lượng khoảng
trên 20 vạn người đứng vào hàng thứ 6 so với các dân tộc thiểu số ở miền bắc,
chiếm 1,17% dân số toàn miền bắc, sống xen kẽ với các dân tộc khác như
Mông, Mường, Thái, Tày, Nùng, Kinh…cư trú ở các tỉnh vùng cao biên giới,
vùng sâu, vùng xa : Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu…
Người Dao cư trú trên cả 3 vùng : Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp
nhưng tập trung chủ yếu ở vùng giữa. Trong đó vùng núi cao hiểm trở có độ
cao trung bình từ 800-1000m ( có nơi cao tới 2000m) của các tỉnh vùng cao
Tây Bắc : Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu là địa vực người Dao đỏ cư trú đông
hơn cả.
Lịch sử di cư của người dao sang Việt Nam được xác định là từ thế kỉ
XII, XIII cho tới những năm 40 của thế kỉ XX bằng 2 con đường ( đường thủy
và đường bộ ), nguồn gốc từ Trung Quốc.
Ở nước ta người Dao được chia làm 7 ngành :
+ Dao đỏ ( Dao cóc ngáng, Dao sừng, Dao dụ lạy, Dao Quế lâm, Dao
đại bản).
+ Dao quần chẹt ( Dao Sơn dầu)
23
+ Dao tiền (Dao Đeo tiền)
+ Dao lô gang ( Dao Thanh phán)
+ Dao quần trắng
+ Dao Thanh y
+ Dao tuyển.
Người Dao ở Lào cai thuộc 3 ngành : Dao đỏ, Dao tuyển, Dao họ. Dân
tộc Dao đỏ Lào Cai có gốc ở Vân Nam ( Trung Quốc ) chuyển cư sang vào
cuối thế kỷ XIII, địa điểm cư trú đầu tiên ở làng Tòng Sành, Chu Quang Hồ
trưởng trong dòng họ. Người chồng, người cha làm chủ gia đình, con trai có
quyền thừa kế tài sản để nối dõi tông đường.
Tôn ti trật tự và những cấm kị trong gia đình được quy định chặt chẽ,
con dâu không được ngồi ngang hàng với bố chồng, nếu ăn cùng mâm thì con
dâu phải đứng ăn, đợi khi bố chồng ăn xong đứng dậy đi ra ngoài mới được
ngồi.
Người Dao có nguồn gốc từ Vân Nam (Trung Quốc) chịu ảnh hưởng
bởi tư tưởng Khổng giáo, hầu hết người Dao có tục thờ cúng tổ tiên, thờ bàn
Vương (người được coi là ông tổ của dân tộc mình). Bàn thờ được đặt ở nơi
linh thiêng không được quay lưng về phía bàn thờ, vì như vậy bị coi là thái độ
thiếu tôn kính với tổ tiên.
Trong một năm người Dao đỏ có những kiêng kị nhất định : Ngày 20/1
– âm lịch (kiêng gió thổi), ngày 1/2 (kiêng rượu, sợ chim ăn lúa), ngày 2/2
(kiêng chuột, sợ chuột ăn lúa), ngày 1/3 (kiêng sấm sét), ngày 14/3 (kiêng
nước,kiêng lũ lụt).
Một năm người Dao đỏ ở Tả Phìn cúng rất nhiều lần, theo cô Lý Tả
Mẩy ở đội I – Xả Séng thì trong năm bắt buộc có 4 lần cúng : Tết âm lịch
cúng 1 lần, qua tết âm lịch cúng 1 lần, tết thanh minh và rằm tháng 7. Ngoài
ra còn có lễ cúng phát sinh như khi có người trong gia đình đau ốm hoặc trâu
bò ốm chết.
25
Nhà của người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa thuộc kiểu nhà trệt (nhà nền
đất giống như của người Kinh), do điều kiện khí hậu lạnh ở trên núi cao mà
nhà của họ thường làm thấp để tránh gió. Nhà làm bằng gỗ có 3 cửa, 1 cửa
chính và 2 cửa phụ ở 2 bên đầu hồi, nhà có gác rộng ở phía trên bắc lên bởi
thang bằng cây gỗ Pơ mu dùng đựng đồ và thóc ngô thu hoạch được.
Nhà thường có 2 gian,1 gian bếp và 1 gian tiếp khách. Nhà có 3 bếp : 1