Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Tùng Thắng - Pdf 33

MỤC LỤC
Phần mở đầu…………………………………………..5
Chương I
Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
I - Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…………………8
1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh…………….…………………..8
2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh………..……………..9
3. Vai trò của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…………….………..9
a) Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản trị doanh nghiệp.
b) Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…….10
4. Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh……………...……11
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp………………………………………..……….……………...12
a) Các nhân tố bên trong……………………………………………………12
b) Các nhân tố bên ngoài. …………………………..……………………..15
II - Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh…...19
1. Hiệu quả sử dụng lao động……………...………………………………..19
2. Hiệu quả sử dụng vốn………………………….…………………………20
3. Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu…………….………………………….21
4. Các chỉ tiêu hiệu qủa kinh tế……………………………………………..22
5. Chỉ tiêu doanh lợi…………………………………………………………22
III – Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh………………………………………………………………………..23
1.Môi trường bên ngoài ………………………………………………..…..23
1.1 Môi trường pháp luật…………………………………………………...23
1.2 Môi trường chính trị……………………………………………………24
1.3 Môi trường văn hoá xã hội………………….………………………….24
1.4 Tác động thị trường………………………………………………….…24
1.5 Các yếu tố khoa học công nghệ………………………...………………25
1.6 Môi trường quốc tế……………………………………………………..26


Bùi Đức Thọ, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn
Tùng Thắng” làm báo cáo thực tập của mình và mạnh dạn đưa ra một số giải
pháp khắc phục cho những tồn tại của Công ty để góp phần nâng cao hiệu quả
3
sản xuất kinh doanh. Do thời gian thực tập và trình độ nhận thức có hạn em
mong được sự giúp đỡ, nhận xét góp ý và sửa chữa để báo cáo được hoàn thiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đưa ra lý luận chung về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp từ đó làm rõ được ý nghĩa tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp để xác định những yếu tố quyết định cũng như ảnh
hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Phản ánh thực trạng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ nói chung và thực trạng kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Tùng Thắng nói riêng, từ đó thấy được
những chuyển biến tích cực về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng
thời cũng rút ra được những mặt còn tồn tại, yếu kém gây cản trở tới việc nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và của Công
ty trách nhiệm hữu hạn Tùng Thắng trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu những lý luận và thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Nghiên cứu cụ thể thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Tùng Thắng.
4. Quan điểm nghiên cứu:
- Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tồn tại, thích
nghi với những biến đổi của thị trường cần có chiến lược sản xuất kinh doanh
thích hợp, dựa vào nội lực của mình để vươn lên nhằm đạt được mục tiêu hiệu

“ Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết
quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động
kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”.
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
- Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh
doanh có thể là cá nhân hộ gia đình, doanh nghiệp.
- Kinh doanh phải gắn liền với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối
liên hệ mật thiết với nhau đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp
đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà nước. Các mối quan hệ
này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa ra doanh
nghiệp của mình ngày càng phát triển.
- Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn. Vốn là yếu tố quyết định
cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động sản xuất
kinh doanh. Chủ thể sản xuất kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị
sản xuất, thuê lao động…
- Mục đích chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận.
2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mục tiêu lâu dài bao trùm của
các doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận.
Môi trường sản xuất kinh doanh luôn biến động đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải
có chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lý. Công việc sản xuất kinh doanh là một
nghệ thuật đòi hỏi có sự tính toán cụ thể nhạy bén, biết tìm ra vấn đề có tầm
6
1. giáo trình lý thuyết quản trị doanh nghiệp - ts nguyễn thị hồng thuỷ và pgs - ts nguyễn thị ngọc huyền. nxb
khoa học kỹ thuật, hà nội - 1999, trang 5.
chiến lược. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh luôn được gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh xét trên nhiều góc độ. Muốn hiểu được thế nào là hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần xem xét đến hiệu quả kinh tế của một
hiện tượng.
“ Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng ( hoặc quá trình ) kinh tế là một

biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả, giảm chi phí sản xuất
kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả.
Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực đầu vào, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn phạm
trù hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng nhất trong
đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế để tìm ra một giải pháp tối ưu nhất nhằm
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương diện đánh giá, phân tích
kinh tế thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng ở
mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào của doanh nghiệp
mà còn đánh giá được khả năng sử dụng từng yếu tố đầu vào của từng bộ phận
và của cả doanh nghiệp.
b) Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tài nguyên trên trái đất là hữu hạn do khai thác, sử dụng quá giới hạn
của con người nên ngày càng khan hiếm và cạn kiệt. trong khi đó dân số của
từng quốc gia, từng khu vực ngày càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ là không có giới hạn ( càng nhiều, càng đa dạng, càng chất lượng )
thì càng tốt. Do đó con người phải có sự lựa chọn kinh tế nhưng đây mới là điều
kiện cần, khi đó con người phát triển kinh tế theo chiều rộng, tăng trưởng kết
quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất. Điều kiện đủ là cùng với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc tạo ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
Có rất nhiều phương pháp khác nhau trên cơ sở những nguồn lực đầu vào nhất
định. Sự phát triển kinh tế theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế
theo chiều sâu: tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ
vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ
8
thuật công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản lý và cơ cấu kinh tế. Nói cách
khác là nhờ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề:
sản xuất mặt hàng nào; sản xuất cho ai; sản xuất như thế nào. Trên cơ sở quan
hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác doanh nghiệp phải tự đưa

người ta sử dụng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu cuối cùng
của hoạt động sản xuất cũng có những trường hợp việc sử dụng hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh như một công cụ để đo lường khả năng đạt đến mục
tiêu đã đặt ra.
5. Các nhân tố hảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
a) Các nhân tố bên trong.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được quyết
định bởi các nhân tố bên trong doanh nghiệp, đây là các yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhân tố quản lý doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chỉ đạo của bộ
máy quản lý của doanh nghiệp đó. Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp phải
tuân thủ theo kế hoạch quy định từ quá trình sản xuất, mặt hàng sản xuất kinh
doanh, huy động nhân lực, chiến lược tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường,
các công việc kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, các biện pháp cạnh tranh, các
nghĩa vụ với nhà nước....Như vậy việc thành công hay thất bại trong sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào vai trò điều hành của bộ máy quản
lý.
Bộ máy quản lý hợp lý có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với thực
tế của doanh nghiệp, có sự phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận và
từng thành viên; bộ máy quản lý năng động, nhạy bén, nắm bắt, tiếp cận thị
trường linh hoạt phù hợp, biết chớp lấy thời cơ cộng với những tấm lòng trung
10
thực, tâm huyết của đội ngũ cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp đó chính là
yếu tố quan trọng bảo đảm cho các hoạt động sản xuất doanh nghiệp của doanh
nghiệp đạt hiệu quả cao nhất.
Doanh nghiệp là một tổng thể các hoạt động (như một xã hội thu nhỏ)
trong đó có đầy đủ các yếu tố kinh tế- xã hội- văn hoá và có cơ cấu tổ chức nhất
định. Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các phòng ban, các chức vụ trong doanh

vốn, máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu là yếu tố tác động trực tiếp đến
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó doanh nghiệp muốn họat động sản xuất kinh doanh thì phải
có vốn, vốn cũng là đầu vào có vai trò then chốt đến kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có khả năng về tài chính không
những bảo đảm cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định
mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tư, bổ sung trang thiết bị, tiếp thu công nghệ
sản xuất hiện đại hơn nhằm giảm chi phí, nâng cao giá thành sản phẩm. Có khả
năng về tài chính còn nâng cao uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp, nâng cao tính
chủ động khai thác và sử dụng tối ưu đầu vào, có lợi thế trong cạnh tranh.
- Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ
thuật.
Mỗi doanh nghiệp phải biết tự làm mới mình bằng cách tự vận động và
đổi mới, tiếp nhận những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại kịp thời liên quan
đến lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Từ đó sẽ
đóng vai trò hết sức quan trọng với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh vì
nó sẽ ảnh hưởng trực thiếp đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Sản
phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật cao mới có chỗ đứng trên thị trường và
12
được mọi người tin dùng so với những sản phẩm dịch vụ khác cùng loại. Kiến
thức khoa học kỹ thuật phải được áp dụng đúng thời điểm, đúng quy trình để tận
dụng tối đa những lợi thế của nó để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ hay
tăng năng suất lao động, từ đó sẽ tạo ra những sản phẩm dịch vụ chiếm ưu thế
trên thị trường nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Vật tư nguyên liệu và các hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu
của doanh nghiệp. Đây là bộ phận đóng vai trò quan trọng đối với kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài
những yếu tố nền tảng thì nguyên liệu đóng vai trò quan trọng, nếu thiếu nó thì
hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị đình chệ. Kế hoạch sản xuất kinh doanh có
hoạt động được và có mang lại hiệu quả cao hay không phần lớn phụ thuộc vào

hơn. Ngược lại nếu một số doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình không tuân thủ theo pháp luật mà tự ý sản xuất kinh doanh bất chính
như: sản xuất hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương mại, vi phạm các quy định
về bảo vệ môi trường thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tổng thể của
xã hội sẽ bị giảm đi.
- Môi trường chính trị, văn hoá- xã hội.
Hình thức, thể chế đường lối chính trị của đảng và nhà nước quyết
định các chính sách, đường lối kinh tế chung. do đó quyết định các lĩnh vực, loại
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường chính trị ổn
định sẽ có tác dụng thu hút các hình thức đầu tư liên doanh, liên kết, nước ngoài
tạo thêm nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Ngược lại nếu môi trường thiếu ổn địnhthì những hoạt động
hợp tác sản xuất kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài hầu như không có
mà ngay cả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước cũng gặp nhiều khó khăn,
bất ổn.
14
Môi trường văn hoá xã hội là những nhân tố, những điều kiện xã hội,
phong tục tập quán, trình độ, lối sống của người dân... Đây là yếu tố trực tiếp
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm của doanh nghiệp họ làm
ra phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng ( người dân) nơi doanh nghiệp
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế là một nhân tố tác động rất lớn đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách
kinh tế của Chính phủ, tốc độ tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hàng
năm của nền kinh tế, tỷ lệ lam phát, thất nghiệp, cán cân thương mại... luôn là
các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động
trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp:

Trong xu thế cầu hoá nền kinh tế như hiện nay thì môi trường quốc tế có
sự ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các xu thế về chính sách bảo hộ hay mở cửa, sự ổn định hay biến động về chính
trị, những cuộc bạo động, khủng bố, khủng hoảng về tài chính, tiền tệ, thái độ
hợp tác làm ăn của các quốc gia, nhu cầu và xu thế sử dụng hàng hoá có liên
quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều có ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường quốc tế ổn định là cơ sở để các doanh
nghiệp tiến hành nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
II - Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Một số khái niệm:

doanh số bán
16
chi phí biến đổi lãi gộp
chi phí biến đổi chi phí cố định lợi nhuận trước thuế
tổng chi phí sản xuất thuế
lợi nhuận
thuần tuý
( lãi ròng)

- Doanh số bán: là tiền thu được từ bán hàng hoá, dịch vụ.
- Vốn sản xuất bao gồm giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình, tài
sản cố định, tài sản lưu động và tiền mặt dùng cho sản xuất kinh doanh.
- Chi phí sản xuất= chi phí ổn định+ chi phí biến đổi
- Lãi gộp là phần còn lại của doanh số bán hàng sau khi trừ chi phí biến
đổi.
- Lợi nhuận sau thuế hay lãi ròng = lợi nhuận trước thuế – các khoản
thuế.
* Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1. Hiệu quả về sử dụng lao động:

Chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trong một
thời kỳ nhất định.
2. Hiệu quả sử dụng vốn.
8
- Số vòng quay toàn bộ vốn.
sv
v
=
KD
V
TR
Trong đó: sv
v
: là số vòng quay của vốn
Chỉ tiêu này cho biết chất lượng vốn của doanh nghiệp quy được bao
nhiêu vòng trong cam ký, chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu suất sử dụng càng cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định.
h
tscđ
(%) =
G
R
Tscd
Π
Trong đó: tscđ : Tài sản cố định
h
tscd
: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
tscđ
g

quả sử dụng vốn càng lớn.
3. Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu:
9
- Vòng luân chuyên nguyên vật liệu:
sv
nvl =
DT
sd
NVL
NVL
Trong đó: sv
nvl

: Số vòng luân chuyển nguyên vật liệu.
nvl
sd
: Giá vốn nguyên vật liệu đã dùng.
nvl
dt
: Giá trị nguyên vật liệu trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng khai thác nguồn nguyên liệu, vật tư của
doanh nghiệp, giá trị chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã giảm được
chi phí cho nguyên vật liệu dự trữ rút ngắn chu kỳ chuyển tới nguyên vật liệu,
giảm bớt sự ứ đọng của nguyên vật liệu, tăng vòng quay của vốn lưu động.
4. Các chỉ tiêu về kinh tế.
- Hiệu quả kinh doanh theo chi phí kinh doanh
10

19
9. giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, gs - ts ngô đình giao, nxb khoa

ánh mức độ đạt được hiệu quả kinh doanh của số vốn mà doanh nghiệp đã sử
dụng. Đây có thể là thước đo mang tính quyết định đánh giá hiệu quả kinh
doanh.
d
vkd
(%) =
100
¦
×
Π+Π
KD
WR
V
Trong đó : d
vkd

: Doanh lợi toàn bộ vốn kinh doanh.
Π
r
: Lãi ròng.
Π
vv
: Lãi trả vốn vay.
v
kd
: Tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu doanh lợi tính cho số vốn của doanh nghiệp được tính tương tự
nhưng thay đại lượng v
kd
( vốn kinh doanh) bằng đại lượng v

Môi trường pháp luật bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật “quy định
về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động” của các loại hình doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thì phải tìm hiểu và tuân thủ theo
đúng luật pháp.
Pháp luật là cơ sở để tạo dựng môi trường hoạt động lành mạnh cho các
doanh nghiệp. Môi trường pháp luật ổn định, minh bạch và thống nhất từ trung
ương đến địa phương sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó ngoài mục đích lợi nhuận thì các danh
nghiệp sẽ quan tâm đến các mục tiêu khác để phát triển bền vững. Đường lối của
Đảng và chính sách kinh tế xã hội của đất nước cũng là yếu tố có ảnh hưởng lớn
đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh để tạo sự công bằng
cho các doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp đều phải có quyền và nghĩa vụ như
nhau
21
1.2. Môi trường chính trị:
Một môi trường chính trị ổn định là một điều kiện rất tốt để các nhà đầu tư
yên tâm làm ăn . Còn với một môi trường chính trị bất ổn, rối loạn thì không chỉ
các nhà đầu tư nước ngoài có tâm lý e ngại đầu tư vào sản xuất trong nước mà
ngay cả các nhà đầu tư trong nước cũng sẽ cảm thấy nản lòng không muốn và
cũng không dám đầu tư mạnh tay. Như vậy, sẽ gây tổn thất nặng nề cho nền kinh
tế.
1.3. Môi trường văn hoá – xã hội:
Môi trường văn hoá xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố: độ tuổi, giới tính, trình độ,
phong tục tập quán, thói quen, mức thu nhập, lối sống, niềm tin, tôn giáo... Các
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và khai thác các yếu tố này nhằm mục đích
tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Việc xác định đúng khách hàng mục tiêu và đưa ra được sản phẩm phù
hợp cũng chính là nắm bắt cơ hội để có những chiến lược kinh doanh đúng đắn

công nghệ khoa học này phải phù hợp với trình độ của lực lượng lao động trong
doanh nghiệp. Đồng thời để theo kịp với sự biến đổi liên tục của công nghệ thì
các doanh nghiệp cũng phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh. Do vậy việc áp dụng
các công nghệ phù hợp cùng với việc tổ chức lớp đào tạo nâng cao tay nghệ cho
23
lao động sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
1.6. Môi trường quốc tế:
Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương
mại thế giới (WTO), mở ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp trong nước.
Thị trường này tiềm ẩn nhiều cơ hội cũng như thách thức. Cơ hội mở ra cho các
doanh nghiệp là: nguồn vốn đầu tư sẽ tăng lên, chuyển giao và ứng dụng được
nhiều khoa học – công nghệ tiên tiến, học tập tác phong quản lý hiện đại… Bên
cạnh đó, doanh nghiệp phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ: môi
trường cạnh tranh gay gắt hơn, sự bất ổn của tình hình chính trị thế giới, yêu cầu
của khách hàng khắt khe hơn… Tất cả những điều này đều ảnh hưởng đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cho nên, các doanh nghiệp phải biết
nắm bắt những cơ hội cũng như tìm cách giảm bớt những khó khăn để đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mình, mở rộng thị trường.
2. Môi trường bên trong:
Ngoài sự tác động của môi trường bên ngoài thì mỗi sự biến đổi của các
yếu tố nội tạo doanh nghiệp cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản
xuất kinh doanh.
2.1. Trình độ quản lý và cơ cấu tổ chức:
Trong doanh nghiệp, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều do bộ
máy quản lý quyết định. Trình độ của bộ máy quản lý có tính chất quyết định đối
với sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Bộ máy quản lý hợp lý,
linh hoạt có trình độ chuyên môn cao là điều kiện thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh phát triển. Người quản lý giỏi phải biết xây dựng một kế hoạch sản
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status