tìm hiểu và phân tích tình hình và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn khoáng sản thành an - Pdf 10


LỜI MỞ
ĐẦU
Khi bước vào năm thứ 2, chúng em được học thêm nhiều môn liên quan đến
chuyên ngành. Trong đó, có một môn tuy chỉ là tổng quát nhưng lại vô cùng quan
trọng, nó sẽ là nền tảng để sau này chúng em tiếp tục đi sâu vào các môn có tính
chuyên môn hơn, đó là môn “ Quản trị doanh nghiệp ” do thầy phụ trách. Vì em nhận
thấy được tầm quan trọng của môn học này đối với chuyên ngành đang theo học nên
em đã và đang rất cố gắng tiếp thu một cách đầy đủ và khoa học những kiến thức mà
thầy đã giảng dạy. Trong quá trình học tập môn này, em cảm thấy đây là môn học rất
thú vị, nó là môn học đầu tiên làm em thấy rằng em đã chọn đúng ngành học.
Sau khi hoàn tất chương trình, vì thầy muốn chúng em làm quen với việc viết
tiểu luận nên đã giao cho chúng em đề tài để viết một bài tiểu luận liên quan đến kiến
thức đã được học. Đó cũng là tình huống khó khăn nhất khi học môn này vì từ trước
đến nay em chưa từng làm quen với việc viết một bài tiểu luận. Với đề tài “ Phân tích
hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh tại một doanh nghiệp “, em đã
quyết định đi vào tìm hiểu và phân tích tình hình và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Khoáng sản Thành An.
Vì chưa từng tiếp xúc thực tế với môi trường kinh doanh tại doanh nghiệp và
sự giới hạn về kiến thức nên trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót, vậy em mong thầy sửa chữa và góp ý chân thành để em có thêm những kinh
nghiệm cần thiết cho những bài viết quan trọng sau này. Em xin chân thành cảm ơn !
PHẦN I:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1. Khái niệm, bản chất hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh
doanh
1.1.1. Khái niệm
“Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù
kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn)
để đạt được mục tiêu xác định”. Từ khái niệm khái quá này, có thể hình thành công

hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh
nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng
là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất. Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá
trị mà là một phạm trù tương đối, tức là nó chỉ được phản ánh bằng con số tương đối,
là tỉ số giữa kết quả va hao phí nguồn lực.
Về bản chất, hiệu quả và kết quả khác nhau ở chỗ kết quả phản ánh mức độ quy
mô, là cái mà doanh nghiệp đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh, và có kết quả mới tính
được hiệu quả. Như vậy hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả là khoản thu về so với
khoản bỏ ra là các nguồn lực đầu vào. Hiệu quả và kết quả có mối quan hệ mật thiết
với nhau nhưng lại có khái niệm và bản chất hoàn toàn khác nhau. Có thể nói, kết quả
là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn hiệu quả, do có
tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi nó không phải chỉ
như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần đạt.
1.2. Phân loại hiệu quả
* Hiệu quả xã hội : phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các
mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giải quyết công ăn
việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế; giảm số người thất
nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động;… Nếu
xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan giữa các kết quả (mục
tiêu) đạt được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
* Hiệu quả kinh tế : phản ánh đồng thời các mặt của quá trình sản xuất kinh
doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất, tổ chức sản xuất và quản lý, trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào,…đồng thời nó yêu cầu doanh nghiệp phải phát triển theo
chiều sâu. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và
là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong
từng thời kỳ.
1.3. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh

không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị
trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản
xuất, nâng cao uy tín,…nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện
mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Đạt hiệu quả kinh doanh và nâng
cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành
điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.4.1. Các nhân tố bên trong
1.4.1.1. Lực lượng lao động
Trong sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sáng
tạo ra công nghệ, kỹ thuật và đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra sản phẩm
mới với kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm (dịch
vụ) của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lực
lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các
nguồn lực khác (máy móc thiết bị. nguyên vật liệu,…) nên tác động trực tiếp đến hiệu
quả kinh doanh.
Ngày nay, sự phát triển khoa hoc kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế tri thức. Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học kết
tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao. Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng
rất tinh nhuệ, có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Điều này càng khẳng định vai trò
ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
1.4.1.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối
tượng lao động. Quá trình sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ
lao động. Sự phát triển của công cụ lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng

kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các doanh nghiệp
rất cần nhiều thông tin chính xác về nhu cầu thị trường hàng hóa, về công nghệ kỹ
thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh,… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần
đến thông tin về kinh nghệm thành công hay thất bại của doanh nghiệp khác ở trong
csf và quốc tế, cần biết các thông tin về chính sách thay đổi trong các chính sách kinh
tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan….
1.4.1.5. Nhân tố tính toán kinh tế
Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và hao phí
các nguồn lực để đạt được kết quả đó. Cả hai đại lượng kết quả và hao phí nguồn lực
của mỗi thời kỳ cụ thể đề khó đánh giá thật chính xác.
Kinh tế học đã khẳng định tốt nhất là sử dụng phạm trù lợi nhuận kinh tế vì lợi
nhuận kinh tế mới là lợi nhuận “thực”, kết quả được đánh giá bằng lợi nhuận kinh tế
sẽ là kết quả “thực”. Song muốn xác định được lợi nhuận kinh tế thì phải xác định
được chi phí kinh tế. Phạm trù chi phí tính toán được chi phí kinh tế mà chỉ sử dụng
phạm trù chi phí tính toán. Trên cơ sở chi phí tính toán sẽ chỉ định được lợi nhuận tính
toán.
1.4.2. Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
1.4.2.1. Môi trường quản lý
Môi trường quản lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp
luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng
tham gia kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi
trường pháp lý lành mạnh là rất quan trọng.
1.4.2.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả kinh
doanh từng doanh nghiệp. Trước hết, phải kể đến cá chính sách đầu tư, chính sách
phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu,… Các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự ưu
tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tác
động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc
ngành,vùng kinh tế nhất định.

Tổng doanh thu thuần (TR
N
)
R
E/TR
=
x 100%
Tỷ suất doanh lợi
doanh thu bán hàng
=

LN từ hoạt động BH&CCDV
Doanh thu BH&CCDV
x 100%
SSX của
vốn
kinh doanh
=
TR
N
Tổng vốn kinh doanh bình quân
x 100%
SSX của
vốn
chủ sở hữu
=
TR
N
Vốn chủ sở hữu bình quân
x 100%

chi phí tiền
lương
=
TR
N
Tổng chi phí tiền lương
trong kỳ
x 100%
Sức sinh
lợi
của chi phí
=
TE
Tổng chi phí trong kỳ
x 100%
Sức sinh lợi của
chi phí tiền
lương
=
TE
Tổng chi phí tiền lương trong kỳ
x 100%
Năng suất lao
động
=
Số lao động bình quân trong kỳ
TR
N
x 100%
Sức sinh lợi của lao

2.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty cấp thoát nước là một doanh nghiệp Nhà nước mang tính chất hoạt
động phục vụ công cộng, lấy mục tiêu kinh doanh làm mục tiêu hoạt động.
Sản xuất chính của công ty là cung cấp nguồn nước sạch phục vụ, nhằm thỏa
mãn các nhu cầu tiêu thụ của các hộ dân cư ( nhu cầu cấp nước sạch, nhu cầu sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và một số nhu cầu khác trong khu vực nội thị TP Tam Kỳ). Sản
phẩm của Công ty là một sản phẩm đặc biệt thiết yếu đối với đời sống và sức khoẻ
con người. Vì vậy đòi hỏi chất lượng phải đảm bảo.
Bên cạnh sản phẩm nước sạch, sản phẩm xây lắp các công trình cấp nước cũng
phụ thuộc rất lớn vào tốc độ phát triển đô thị thành phố Tam Kỳ.
2.2. VẬN DỤNG THỰC TẾ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH
TẠI CÔNG TY CẤP THOÁT NƯỚC TAM KỲ
2.2.1.Phân tích khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là
công việc rất quan trọng, qua đó nó cho chúng ta biết được về tình hình tái chính hiện
tại của công ty chúng ta. Phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt
được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp một cách rõ ràng và chính xác hơn, từ đó
giúp cho doanh nghiệp biết công ty mình kinh doanh có hiệu quả hay không. Bên
cạnh đó thì phân tích hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp biết được những sản
phẩm hay dịch vụ nào của doanh nghiệp cho doanh thu cao cũng như về lợi nhuận và
những sản phẩm dịch vụ nào của doanh nghiệp cho lợi nhuận không cao. Từ đó giúp
các nhà lãnh đạo có quyết định đúng đắng hơn.
Để biết rõ hơn về kết quả kinh doanh của công ty ta xem bảng sau:
Bảng 2.2.1.a. Báo cáo kết quả kinh doanh qua 3 năm 2006-2008
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu 31/12/06 31/12/07 31/12/08
1.Doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ
10.348.154.939 11.663.232.743 11.386.424.693
2.Các khoản giảm trừ 33.607.273 35.431.843 43.770.806

2007/2006 2008/2007
1 DTT SXKD 10.348.155 11.627.801 11.342.654 +1.279.646 -285.147
2 Lợi nhuận trước thuế 440.608 478.195 672.844 +37.587 +194.649
3
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu (3)=(2)/(1) (%)
4,258 4,113 5,932 -0,145 +1,819
Số liệu phân tích cho thấy: khả năng sinh lời chung từ các hoạt động của công
ty biểu hiện qua tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần trong 3 năm nhìn chung phần
tăng thêm nhiều hơn giảm đi.
Nếu trong năm 2006, cứ 100 đồng doanh thu tạo ra được 4,258 đồng lợi nhuận
trước thuế thì đến năm 2007 giảm xuống còn 4,113 đồng nhưng sang năm 2008 tăng
lên đến 5,932 đồng.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bị ảnh hưởng bởi nhân tố DTT và thu nhập
của các hoạt động khác và nhân tố lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng qua 3 năm 2006-2008
Bảng 2.2.1.c. Tỷ suất lợi nhuận của doanh thu bán hàng
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Chênh lệch
2007/2006 2008/2007
1
Doanh thu
BH&CCDV
10.348.154.939 11.663.232.743 11.386.424.693 +1.315.077.804 -267.808.050
2
LN từ hoạt
động
BH&CCDV
1.982.590.750 2.182.825.955 2.306.417.021 +200.235.205 +123.591.066
3 Tỷ suất lợi

(5) = (1) / (3) (%)
15,803 18,137 +2,334 14,77
* Sức sản xuất
Nhìn vào bảng trên ta thấy việc sử dụng vốn của công ty năm 2008 đạt hiệu
quả cao hơn năm 2007.
• Năm 2007, sức sản xuất của công ty là 15,803% nghĩa là 100 đồng vốn công
ty đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra được 15,803 đồng doanh thu.
• Năm 2008, so với năm 2007 doanh thu thuần sản xuất kinh doanh giảm
285.147 ngàn đồng tương ứng giảm 2,45%, trong khi đó tổng vốn bình quân của công
ty giảm từ 73.577.448 (ngàn đồng) xuống còn 62.538.928 (ngàn đồng) tức đã giảm
15% tương ứng với 11.038.520 (ngàn đồng); cả doanh thu và tổng vốn bình quân đều
giảm nhưng do tốc độ giảm của vốn cao hơn của doanh thu nên sức sản xuất của công
ty trong năm 2008 tăng 14,77% so với năm 2007. Tức sức sản xuất của công ty trong
năm 2008 đạt 18,137% nghĩa là 100 đồng vốn công ty tạo ra được 18,137 đồng doanh
thu.
* Sức sinh lợi
Vốn trong doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn
cho các hoạt động khác nhưng trong đó hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động
chính vì vậy ta xem xét hiệu suất sử dụng vốn trong lĩnh vực kinh doanh thuần túy
thông qua chỉ tiêu sức sinh lợi
• Năm 2007, cứ 100 đồng vốn qua quá trình sản xuất kinh doanh đem lại cho
công ty 0,65 đồng lợi nhuận.
• Đến năm 2008, cũng với 100 đồng vốn đã đem lại cho công ty 1,076 đồng lợi
nhuận tăng hơn năm 2007 là 0,426 đồng tương ứng 65,54%
Như vậy trong năm 2008 hiệu quả sử dụng vốn của công ty đã có tiến bộ, đây
là dấu hiệu tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty vì thế công ty
cần duy trì và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của mình.
2.2.2.2.Hiệu quả sử dụng chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí mà
công ty phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản

7
Sức sinh lời của
chi phí 0,046 0,043 0,063 -0,003 -6,522 +0,020 +46,512
8
Sức sinh lời của
CPTL 0,341 0,291 0,406 -0,05 -14,663 +0,115 +39,519
9
Tỷ trọng giá
thành toàn bộ
trên DTT 0,930 0,953 0,943 +0,023 +2,52 -0,011 -1,13

- Hiệu suất sử dụng chi phí
+ Năm 2006, hiệu suất sử dụng chi phí là 1,075 nghĩa là 1 đồng chi phí sẽ có
được 1,075 đồng doanh thu.
+ Năm 2007, DTT tăng hơn 1.279 triệu đồng tương ứng với 12,37% trong khi
đó chi phí tăng đến 15,2% (1.462 triệu đồng) so với năm 2006, do tốc độ tăng chi phí
lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu nên hiệu suất sử dụng chi phí thấp. Cụ thể năm
2007,1 đồng chi phí chỉ thu được 1,049 đồng doanh thu.
+ Đến năm 2008, so với 2007 công ty đã sử dụng chi phí có hiệu quả hơn.
Doanh thu thuần giảm nhưng chi phí toàn bộ giảm mạnh hơn. Cụ thể năm 2008,1
đồng chi phí thì thu được tới 1,061 đồng doanh thu.
- Sức sinh lời của chi phí
+ Năm 2006, chỉ số này là 0,046 nghĩa là 1 đồng chi phí thì thu được 0,046
đồng lợi nhuận.
+ Năm 2007, chỉ số này giảm 6,522% so với năm 2006. Trong năm này lợi
nhuận tăng 37 triệu đồng tương ứng với 8,531% trong khi đó chi phí tăng 1.462 triệu
đồng tương ứng với 15.2%, do tốc độ tăng của lợi nhuận thấp hơn chi phí nên sức sinh
lợi giảm. Cụ thể năm 2007,1 đồng chi phí thì thu được 0,043 đồng lợi nhuận.
+ Nhưng đến năm 2008, chỉ số này tăng rất nhanh 46,512% so với năm 2007.
Trong năm này lợi nhuận tăng 194 triệu đồng tương ứng 40,705% trong khi đó chi phí

7
Tỷ suất tổng quỹ lương trên
doanh thu Lần 0,196 0,194 -0,002 -1,020
* Về NSLĐ
+ Số lượng công nhân viên của công ty năm 2008 là 70 người, năm 2007 là 86
người. Như vậy năm 2008 số lượng công nhân viên của công ty đã giảm 16 người so
với năm 2007. Đây là điều hợp lý vì quy mô doanh nghiệp giảm do chia tách cho Núi
Thành. Sự giảm đi này là giảm số lượng công nhân trực tiếp sản xuất, quy mô giảm,
công nhân trực tiếp giảm nhưng lượng lao động gián tiếp không giảm, công ty cần có
sự điều chỉnh phân công lại lao động gián tiếp cho hợp lý tránh sự mất cân đối đồng
thời tránh sự lãng phí lao động.
+ Trong năm 2007, năng suất lao động của toàn bộ công nhân viên của công ty
là 135.207 (ngàn đồng/người), sức sinh lợi của lao động là 5.560 (ngàn đồng/người).
+ Trong năm 2008, năng suất lao động của toàn bộ công nhân viên của công ty
đã đạt 162.038 (ngàn đồng/ người) tăng 18,844% so với năm 2007 và sức sinh lợi của
lao động là 9.612 (ngàn đồng/người) tăng 72,878% so với năm 2007
Như vậy trong năm qua năng suất lao động bình quân năm của công ty tăng.
Công ty đã sử dụng có hiệu quả lượng lao động của mình. Có được điều này là nhờ
tuy lượng lao động và doanh thu thuần đều giảm nhưng tốc độ giảm của doanh thu
nhỏ hơn.
* Về tỷ suất quỹ lương
Để thấy rõ hơn về hiệu quả sử dụng lao động của công ty ta phải xem xét đến
tình hình quỹ lương của doanh nghiệp.
+ Năm 2007: tỷ suất quỹ lương trên doanh thu là 0,196 tức để tạo ra 1 đồng
doanh thu cần 0,196 đồng tiền lương.
+ Đến năm 2008: Tỷ suất này là 0,194 có nghĩa là cần 0,194 đồng tiền lương để
tạo ra được 1 đồng doanh thu.
Như vậy tỷ suất quỹ lương trên doanh thu của năm 2008 giảm 1.020% so với
năm 2007. Công ty đã tận dụng được sức lao động của công nhân, hiệu suất sử dụng
lao động của công ty tăng. Tuy sự giảm đi của tỷ suất này chưa cao nhưng đây là một

- Khách quan
Năm 2008 là năm nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh
tế chung của thế giới, công ty cấp thoát nước Tam Kỳ cũng không thể nằm ngoài những
ảnh hưởng đó. Trong năm đó giá phí của xăng dầu tăng cao có giai đoạn lên đến trên
19.500đồng/ lít đó cũng góp phần làm gia tăng chi phí của công ty.
Dịch vụ cấp nước của công ty có tính chất độc quyền trên địa bàn thành phố
Tam kỳ, là công ty kinh doanh nhưng cũng phải chú ý đến lợi ích xã hội mang tính
chất phục vụ nhân dân. Giá thu phí cấp nước được nhà nước quy định.
Trong năm qua có sự phân chia khu vực cấp nước, bàn giao 1 số nơi trước đây
thuộc sự quản lý của công ty cho đơn vị Núi Thành vì thế thị trường bị thu hẹp.
- Chủ quan
+ Doanh thu năm 2008 giảm 2.452% so với năm trước nhưng chi phí quản lý
doanh nghiệp lại tăng 6,11%, đây là dấu hiệu không tốt ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận
của công ty, từ đó làm giảm hiệu suất kinh doanh của công ty.
+ Quy mô công ty thu hẹp, lượng lao động giảm là hợp lý tuy nhiên công ty chỉ
giảm công nhân trực tiếp sản xuất là 16 người nhưng nhân viên gián tiếp vẫn giữ
nguyên, đây là một hạn chế. Công ty cần có kế hoạch để sử dụng lượng lao động gián
tiếp hợp lý tránh tình trạng lãng phí.
+ Trong năm 2008 việc phân bổ khoản “lỗ chênh lệch tỷ giá ” quá lớn đã tạo
sức ép cho công ty làm lợi nhuận của công ty giảm mạnh. Nguyên nhân là phân bổ
không đồng đều vào chi phí của các năm trước.
3.2. GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CẤP THOÁT NƯỚC TAM KỲ
Hiệu quả SXKD là một phạm trù tổng hợp. Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp phải sử dụng nhiều biện pháp từ việc nâng cao hiệu quả
khai thác sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản trị điều
hành, đưa ra chiến lựợc kinh doanh đúng đắn, phù hợp để nắm bắt tận dụng thời cơ
của môi trường kinh doanh, hạn chế đến mức tối đa sự tác động của các yếu tố bất lợi
đến từ môi trường kinh doanh. Xuất phát từ những phân tích trên ta đã thấy đâu là
điểm mạnh, đâu là những điểm yếu, nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của

3.3.3. Giải pháp 3: Tiết kiệm chi phí
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Công ty cần rà soát lại nội dung của từng
khoản chi, quản lý chặt chẽ hơn nữa để tiết kiệm chi phí, hạ thấp chi phí quản lý
doanh nghiệp trong doanh thu. Doanh thu của hoạt động cấp nước giảm nhưng
chi phí quản lý doanh nghiệp của hoạt động này tăng, và đây là nguyên nhân
chính làm tỷ trọng chi phí QLDN trên doanh thu của công ty tăng. Vì vậy công ty
cần đặc biệt chú ý quản lý chi phí của hoạt động này.
- Công ty cần có chính sách phân bổ chi phí “chênh lệch tỷ giá ” cho hợp lý
đồng đều giữa các năm để tránh tạo sức ép cho 1 năm nào đó.
3.3.4. Giải pháp 4: Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có
trong công ty.
- Công ty phải tăng cường hơn nữa việc đầu tư máy móc thiết bị cho sản xuất
và đảm bảo cho việc đầu tư có hiệu quả công ty phải giao cho các cơ sở chế biến lập
kế hoạch và xác định rõ nhu cầu đầu tư của mình để có trình tự ưu tiên đầu tư hợp lý,
tránh việc xây dựng, mua sắm vốn nhưng chưa sử dụng đến dễ phát sinh hao mòn hữu
hình lẫn vô hình.
- Triệt để sử dụng diện tích, nhà cửa vật kiến trúc, kho bãi, phương tiện vận
chuyển hiện có, chẳng hạn như trong thời gian trái vụ công việc sản xuất không nhiều,
công ty có thể tận dụng cho những mục đích khác như cho thuê.
- Phân cấp quản lý vốn cố định cho các phân xưởng trong từng nhà máy nhằm
nâng cao trách nhiệm vật chất của từng đơn vị để đảm bảo vốn được sử dụng tốt hơn.
- Nên tổ chức các đại lý bán hàng cho công ty, kết hợp bán nước đóng chai và
vật tư thiết bị cấp nước.
- Nên tổ chức các đội sửa chữa đến tận nơi, tận nhà của khách hàng để sữa
chữa các hư hỏng, thay các thiết bị nếu khách hàng yêu cầu.
3.3.5. Giải pháp 5: Nâng cao hiệu quả sử dụng nợ phải thu bằng sử dụng
chiết khấu thanh toán.
Chiết khấu thanh toán là khoản tiền mà Công ty giảm cho người mua khi họ
thanh toán tiền trước thời hạn. Thông qua hình thức này:
- Về phía người mua: họ có được những lợi ích do việc thanh toán trước thời hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status