Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Động lực học chất điểm trong bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí 10 THPT - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ ĐÌNH HÓA

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI
TẬP PHẦN NHIỆT THPT BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI VẬT LÝ

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Vật lí
Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:PGS. TS: PHẠM THỊ PHÚ

NGHỆ AN, 2015


LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Phạm Thị Phú, người đã
định hướng đề tài và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau
Đại học, khoa Vật lý Trường Đại học Vinh cùng tất cả các thầy cô giáo đã tham gia
giảng dạy trong quá trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy
học bộ môn Vật lý khóa 21 tại Trường Đại học Vinh.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban giám hiệu, tổ Vật lý trường THPT Anh
Sơn 3, Anh Sơn, Nghệ An - nơi tôi đang công tác, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những
người luôn cổ vũ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này.

Nhà xuất bản

SGK

Sách giáo khoa

THPT

Trung học phổ thông

PPDH

Phương pháp dạy học

BGD & ĐT

Bộ giáo dục và đào tạo

HSG

Học sinh giỏi

GDTrH

Giáo dục trung học

TTD

Trước tác động


Sử dụng bài tập vật lý là một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng
cao chất lượng bộ môn. Đối với học sinh, giải các loại bài tập vật lý là một trong
những biện pháp phát huy và rèn luyện tính tích cực, tự lực, tư duy thực nghiệm,
phương pháp tư duy khoa hoc... vì khi giải bài tập, giúp hình thành kiến thức và kỹ
năng mới cho học sinh, giúp học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức một cách sinh
động, phong phú. Khi giải bài tập học sinh phải thực hiện các thao tác tư duy để tái
hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng, HS
phải phán đoán, suy luận để tìm ra lời giải từ đó phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS. Bài tập còn là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá kiến thức,
kỹ năng của học sinh trong quá trình học vật lý.
Nhiệt học là phần có nội dung và vị trí đặc biệt trong chương trình vật lý phổ
thông, Nếu học sinh học tốt phần kiến thức này thì có thể giải thích được rất nhiều
hiện tượng trong tự nhiên, hiểu rõ được nguyên tắc vận hành của các thiết bị, động
cơ kỹ thuật trong thực tế . Nếu trang bị cho học sinh hệ thống lý thuyết, những bài
tập luyện tập và sáng tạo nó sẽ tạo tiền đề cho HS phát triển toàn diện được khả
năng của mình. Vì vậy tôi chọn đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập


phần nhiệt THPT bồi dưỡng học sinh giỏi vật lý”
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần nhiệt THPT bồi dưỡng học sinh
giỏi vật lý nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy và bồi dưỡng
niềm yêu thích vật lý học cho học sinh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Học sinh khá giỏi vật lý lớp 10
+ Bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý 10 THPT.
- Phạm vi nghiên cứu: Lý thuyết và bài tập phần Nhiệt học trung học phổ thông.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập luyện tập và sáng tạo đa dạng có nội

- Về mặt lý luận:
+ Đề tài góp phần đổi mới nội dung và phương pháp trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi theo hướng dạy học – đánh giá – tự đánh giá
- Về thực tiễn:
+ Xây dựng được hệ thống 30 bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo đa dạng
có nội dung giáo khoa, nội dung thực tế, nội dung kỹ thuật để bồi dưỡng HSG lớp
10 phần nhiệt học.
+ Thiết kế 3 phương án sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng để bồi dưỡng
HSG: Kiểm tra phát hiện, đánh giá. Bài học luyện tập giải bài tập trên lớp, tự học
ở nhà, cụ thể hóa qua 6 tiến trình dạy học theo ý tưởng của đề tài.
8. Cấu trúc luận văn
Mở đầu.
Nội dung gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi
Vật lý (20.trang)
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần nhiệt học dùng cho bồi
dưỡng học sinh giỏi Vật lý trường THPT (45 trang)


Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (13 trang)
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Phụ lục.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG HỌC


SINH GIỎI VẬT LÝ
1.1. Mục tiêu giáo dục của nước ta

- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lý trong đời sống và trong sản xuất.
- Các phương pháp nhận thức phổ biến dùng trong vật lý.
b. Phát triển tư duy khoa học ở học sinh: Rèn luyện những thao tác hành
động, phương pháp nhận thức cơ bản, nhằm chiếm lĩnh những kiến thức vật lý, vận
dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này.
c. Trên cơ sở kiến thức vật lý vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho học
sinh thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao
động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động.
d. Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh, làm
cho học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của máy
móc được dùng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân. Có kỹ năng dử dụng những
dụng cụ vật lý, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, ký năng lắp ráp thiết bị để thực
hiện các thí nghiệm vật lý, vẽ biểu đồ, xử lý các số liệu đo đạc để rút ra kết luận.
Những kiến thức kỹ nằn đó giúp cho học sinh sau này có thể nhanh chóng thích ứng
với hoạt động lao động sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Những nhiệm vụ trên không tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau,
hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đào tạo ra con người hài hòa, toàn diện.
Đối với việc bồi dưỡng HSG môn vật lý ở trường THPT các nhiệm vụ nêu
trên càng phải chú trọng, nâng cao hơn về chất lượng và tính hiệu quả.
1.2. Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn vật lý THPT
Với mục tiêu chung là “Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án phát triển hệ thống
trường THPT chuyên giai đoạn 2010 - 2020, tạo sự chuyển biến rõ nét trong việc
thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu, tạo nguồn đào tạo
nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài của đất nước.”
Nhân tài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn vinh của xã hội. Những
nước văn minh đều là những nước bồi dưỡng và sử dụng được nhiều nhân tài.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có những chủ trương mới về công tác bồi dưỡng



giáo khoa. Giáo viên làm nổi bật vai trò của môn vật lý trong đời sống, bồi dưỡng


tác phong, phương pháp nghiên cứu và thói quen tự học cho học sinh.
Nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi được chú trọng bởi các phần sau:
Nghe thuyết trình những kiến thức bổ sung cho nội khóa, giải các bài tập nâng
cao; học chuyên đề Vật lý; tham quan thực hành và ứng dụng vật lý.
+ Lớp phổ thông chuyên vật lý:
Hiện nay ở nước ta đang tập hợp những học sinh giỏi vật lý ở trường phổ thông
thành những lớp đặc biệt, giao cho một số trường đại học hoặc các trường chuyên
phụ trách. Những lớp này được gọi là những lớp phổ thông chuyên vật lý.
Mục đích của những lớp học này là phát hiện những học sinh có năng lực về
Vật lý, bồi dưỡng các em phát triển tốt về mặt này trên cơ sở giáo dục toàn diện,
góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, một số có thể trở thành
nhân tài đất nước. Để thực hiện tốt mục đích đào tạo lớp chuyên Vật lý,
chương trình các môn học ở các lớp này được Bộ giáo dục và Đào tạo quy định là
chương trình phân hóa phổ thông có thêm một số giờ Vật lý và ngoại ngữ.
Trong đó chú trọng những ứng dụng thực tiễn của Vật lý học, tăng cường một số
yếu tố về lôgic học, bổ sung một số yếu tố về Vật lý học hiện đại…
1.2.2. Bồi dưỡng học sinh giỏi vật lý
1.2.2.1. Khái niệm học sinh giỏi vật lý
HSG một môn học nào đó là HS đạt và vượt chuẩn kiến thức và kỹ năng của
môn học đó. Đối với môn vật lý, HSG phải là HS nắm kiến thức, kỹ năng của môn
học ở mức độ phân tích, tổng hợp đánh giá. Có tư duy logic, tư duy toán học, tư duy
vật lý tốt, có niềm đam mê vật lý học, tự học, tự tìm tòi sáng tạo.
Ở nước ta trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc phổ thông có hai khái niệm
HSG đó là HSG toàn diện và HSG môn học các cấp. HSG toàn diện là HS có điểm
tổng kết trung bình môn từ 8,0 trở lên trong đó môn toán hặc văn phải trên 6,5
điểm, các môn còn lại trên 5,0 điểm.
HSG môn học các cấp là học sinh đạt và vượt điểm chuẩn trong kỳ thi HSG

Về cơ cấu tổ chức ở bậc học THPT các tỉnh đều có hệ thống trường chuyên
nhằm tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, cho đất nước. Ngoài
trường THPT chuyên thì các trường THPT bình thường vẫn thành lập các lớp chọn
theo năng khiếu của học sinh, trong các lớp chọn lại tuyển chọn đội tuyển HSG để


có chế độ bồi dưỡng riêng biệt theo chế độ thời gian và kiến thức.
Hằng năm ở các cấp đều tổ chức các kỳ thi HSG để công nhận danh hiệu
HSG cho học sinh có năng khiếu chuyên môn và qua đó thành lập các đội tuyển để
dự thi các cấp cao hơn như cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc
tế. Vì vậy việc thành lập đội tuyển HSG và tổ chức bồi dưỡng HSG là một trong
những nhiệm vụ quan trọng ở trường THPT.
Mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG và HS tài năng nhìn chung
các nước đều khá giống nhau. Có thể nêu lên một số điểm chính sau đây:
- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí
tuệ của học sinh.
- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo
- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời
- Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh về sự tự chịu trách nhiệm
- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng
góp xã hội
- Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
1.2.3.4. Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi vật lý ở nước ta và tỉnh Nghệ An
Trong những năm gần đây vẫn đề BDHSG đã được Đảng, nhà nước các ban
ngành quan tâm chú trọng. Ở các tỉnh có hệ thống trường chuyên, ở các trương
THPT không chuyên có hệ thống lớp chọn. Hằng năm liên tục có các kỳ thi tuyển
chọn HSG các cấp từ cấp trường, cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế.
Tuy nhiên kết quả đạt được của các kỳ thi HSG của các trường trong cùng
một tỉnh, của các tỉnh trong kỳ thi quốc gia thì hoàn toàn khác nhau. Bởi lẽ để đạt
được thành quả cao của các kỳ thi HSG theo chúng tôi nó phụ thuộc rất nhiều yếu

Năm thi

Thành tích
HC Vàng

HC Bạc

HC Đồng

2012

2

1

2

2013

2

1

2

2014

3

2

2013

1

2

4

1

2014

0

4

4

1

Tuy nhiên tất cả các học sinh tham gia đội tuyển HSG Vật Lý tỉnh Nghệ An
đều là HS của trường THPT chuyên Phan Bội Châu.
Trong kỳ thi chọn HSG cấp tỉnh ở Nghệ An hằng năm thì số đội tuyển HSG
Vật lý của các trường có thành tích có nhiều xáo trộn giữa các năm. Điều đó chứng
tỏ ngoài trường chuyên thì các trường THPT không chuyên công tác BDHSG chưa
có tính ổn định cao. Lý do đó chúng tôi đã tìm hiểu thì có nhiều nguyên nhân, mà
một trong những nguyên nhân dẫn tới kết quả trên là công tác BDHSG chưa được
xây dựng thành một hệ thống xuyên suốt cho các năm. Việc tổ chức BD còn mang
tính tự phát của GV được giao trách nhiệm BD, nên việc xây dựng , sử dụng tài
liệu, lên các phương án dạy bồi dưỡng chưa đực chú trọng mà còn mang nặng cảm

Dựa vào tính chất của tư duy trong quá trình giải bài tập chia thành 2 loại:
Bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo.
Dựa vào nội dung bài tập có thể chia bài tập làm 3 loại: Bài tập lý thuyết( có
nội dung giáo khoa), bài tập thực tế, bài tập kỹ thuật.
Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này, với mục đích bài tập sử dụng cho việc
bồi dưỡng HSG vật lý phần nhiệt học chung tôi chọn cách phân loại theo 3 loại
chính là:
+ Bài tập nâng cao kiến thức: là những bài tập bổ túc thêm cho học sinh
những kiến thức nâng cao vượt chuẩn
+ Bài tập luyện tập nâng cao: Là những bài tập rèn luyện kỹ năng sử dụng
các phương pháp quen thuộc để giải bài toán tổng hợp nhiều kiến thức, phải vận
dụng nhiều kiến thức định luật, kiến thức có khi liên bài, liên chương, liên phần


hoặc liên môn. Những bài tập được dùng để rèn luyện cho HS kỹ năng áp dụng
được những kiến thức xác định để giải bài tập theo một khuôn mẫu đã có, loại bài
tập này không đòi hỏi nhiều tư duy sáng tạo từ HS.
+ Bài tập sáng tạo: Là loại bài tập để bồi dưỡng tư duy sáng tạo và đòi hỏi
phải trả lời các câu hỏi “Làm thế nào” tương tự sáng chế trong sáng tạo khoa học kỹ
thuật. Đây là loại bài tập rất đặc trưng của môn vật lý đòi hỏi người giải cần có tính
nhạy bén sáng tạo, óc quan sát, trí tưởng tượng, trực giác kỹ thuật…
Các bài tập luyện tập nâng cao và bài tập sáng tạo đều bao hàm các dạng bài
tập theo cách phân chia dựa vào các tiêu chí trên như: Bài tập định tính, bài tập định
lượng, bài tập đồ thị, bài tập thí nghiệm…..
1.3.4. Bài tập Vật lý với việc bồi dưỡng học sinh giỏi
1.3.4.1. Tiêu chí bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi
Bài tập giữ một vai trò to lớn trong việc rèn luyện bồi dưỡng HSG, phát triển
năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vậy lý. Bởi vì chính bài tập giúp cho
học sinh trong việc khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ trong việc đào sâu và xây
dựng các mối liên hệ giữa các bộ phận kiến thức với nhau. Nhờ đó mà kiến thức vật

thuật…. Theo V.G Ra-zu-mốp-xki dựa theo sự tương tự giữa quá trình sáng tạo
khoa học với tính chất của quá trình tư duy trong giải các bài tập sáng tạo, chia bài
tập sáng tạo thành hai loại
Bài tập nghiên cứu: đòi hỏi trả lời câu hỏi “Tại sao?” tương tự với “phát
minh” trong sáng tạo khoa học kỹ thuật.
Bài tập thiết kế: đòi hỏi trả lời câu hỏi “Làm thế nào?” tương tự với “ sáng
chế” trong sáng tạo khoa học kỹ thuật.
Sự phân loại trên có tính khái quát cao nên khó vận dụng trong dạy học. Các
câu hỏi “Tại sao?” và “như thế nào?” cũng thường xuất hiện ở những bài tập luyện
tập. Để dễ vận dụng trong thực tiễn dạy học chúng tôi cho rằng nên kết hợp cách
phân loại này với cách phân loại theo các phẩm chất của tư duy sáng tạo. Tư duy
sáng tạo bộc lộ các phẩm chất: tính mềm dẻo, tính linh hoạt, tính độc đáo và tính
nhạy cảm. Bốn phẩm chất này có tính độc lập tương đối ở một mức độ nào đó, có
thể khai thác trong dạy học các bài tập sáng tạo nhằm bồi dưỡng tư duy sáng tạo
cho học sinh. Từ đó chúng tôi đề xuất các dấu hiệu nhận biết bài tập sáng tạo như
sau:


Dấu hiệu 1: Bài tập có nhiều cách giải
Đây là dạng phổ biến trong hệ thống bài tập sáng tạo cho học sinh thói quen
suy nghĩ không rập khuôn, máy móc. Thường xuyên cho học sinh làm việc với dạng
bài toán này làm cho học sinh nhận thức rằng: khi xem xét một vấn đề cần nhìn từ
nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau, từ đó có nhiều con đường đạt đến mục
đích và chọn ra con đường nào hiệu quả nhất.
Dấu hiệu 2: Bài tập có hình thức tương tự nhưng nội dung biến đổi.
Đây là những bài tập có nhiều hơn một câu hỏi, ở câu hỏi thứ nhất là một bài
tập luyện tập, các câu hỏi tiếp theo có hình thức tương tự, nhưng nếu vẫn áp dụng
phương pháp giải như trên sẽ dẫn đến bế tắc vì nội dung câu hỏi đã có sự thay đổi
về chất.
Phương thức để soạn thảo dạng bài tập này gồm 2 bước:

khác nhau tuỳ thuộc vào các thiết bị thí nghiệm đã cho hay tự tìm kiếm.
Dấu hiệu 4: Bài tập cho thiếu, thừa hoặc sai dữ kiện
Đây là dạng bài tập mà người ra đề cố ý cho thừa dữ kiện, hoặc thiếu dữ
kiện, hoặc sai dữ kiện. Việc đòi hỏi học sinh phải nhận biết và chứng minh được dữ
kiện “có vấn đề” là mục đích của bài tập. Tính sáng tạo ở đây là học sinh phải nhận
ra sự không bình thường của bài toán, chỉ ra được mâu thuẫn giữa các dữ kiện và có
thể đề xuất các cách điều chỉnh dữ kiện để được bài toán thông thường. Việc phân
tích kết quả nhận được, đối chiếu kết quả với các dữ kiện bài toán đã cho trong
trường hợp bài toán cho thừa dữ kiện quan trọng hơn chính quá trình giải.
Dấu hiệu 5: Bài tập nghịch lý và ngụy biện
Bài tập nghịch lý và ngụy biện là những bài tập trong đó đề bài chứa đựng
một sự ngụy biện nên đã dẫn đến nghịch lý: kết luận rút ra mâu thuẫn với thực tiễn
hoặc mâu thuẫn với những nguyên tắc, định luật vật lý đã biết. Tuy nhiên nếu chỉ
nhìn nhận các yếu tố này một cách hình thức thì có thể nhầm tưởng rằng chúng phù
hợp với các định luật vật lý và logic thông thường. Song khi xem xét một cách cặn
kẽ, có luận chứng khoa học, dựa trên các định luật vật lý thì mới nhận ra sự nghịch
lý và ngụy biện trong bài toán.
Bài tập nghịch lý và ngụy biện là những bài tập được soạn thảo dựa trên
những suy luận sai lầm về tri thức vật lý của học sinh trong những biểu hiện đa
dạng của các sự kiện, hiện tượng, quá trình vật lý,…Các bài toán nghịch lý và ngụy


biện về vật lý là những bài tập loại đặc biệt mà phương pháp giải chung nhất là
phân tích và tìm ra nguyên nhân của sự hiểu sai và vận dụng sai các khái niệm, định
luật và lý thuyết vật lý.
Do nguyên nhân của những sai lầm tiềm ẩn trong các nghịch lý và ngụy biện
luôn đa dạng cho nên các bài toán thuộc loại này bao giờ cũng chứa đựng nhiều yếu
tố mới, bất ngờ, dễ kích thích óc tò mò tìm hiểu của người giải.
Các bài tập nghịch lý và ngụy biện có tác dụng bồi dưỡng tư duy phê phán,
phản biện của học sinh, giúp cho tư duy có tính độc đáo nhạy cảm, đặc biệt các bài

cách vận dụng những hiểu biết tư duy giải bài tập vật lý để xem xét việc giải bài tập
cụ thể này. Mặt khác phải xuất phát từ mục đích sư phạm cụ thể cho việc giải bài
tập để xác định được kiểu hướng dẫn phù hợp. Nói cách khác là cơ sở khoa học để
suy nghĩ những hành động cụ thể cần thực hiện và trình tự thực hiện các hành động
đó để đạt kết quả mong muốn. Những hành động này được coi là những hành động
sơ cấp phải được học sinh hiểu và nắm vững.
1.4.1. Bài học luyện tập bài tập tại lớp [23]
Bài học tại lớp của tiết bồi dưỡng HSG là loại tiết học khó dạy, song một số
giáo viên chưa chú ý làm việc một cách nghiêm túc: Không có kế hoạch cụ thể,
thậm chí có khi còn không chuẩn bị, không có bài tổng hợp, chỉ có những bài trong
sách giáo khoa, sách bài tập, học sinh chỉ giở ra chép bởi có lúc bài thầy chữa
không có gì khác sách. Thêm nữa phương pháp làm việc trên lớp còn rất tẻ nhạt:
Thầy gọi một học sinh lên chữa, rồi nhận xét rồi lại chuẩn bị bài khác, dưới lớp sẽ
có nhiều học sinh không chú ý. Để đảm bảo có một tiết dạy hiệu quả giáo viên cần
phải chú ý theo các bước sau.
a) Chọn bài tập điển hình
Trong giờ chỉ nên chọn chữa những bài tập điển hình cho từng loại tức là
điển hình về phương pháp phân tích, hướng phát triển, cách áp dụng các định luật
cách nhận xét biện luận chặt chẽ... thông qua việc giải bài này học sinh có được
phương pháp giải cho từng loại, trên cơ sở đó có thể tự giải các bài khác. Không
nên chữa bài quá dễ hoặc quá khó (tức là bài phức tạp quá về tính toán rất mất thời
gian và sẽ làm nhẹ bản chất Vật lí của bài toán đặt ra).
b) Chữa bài tập tương tự


Để khắc phục tình trạng kém hứng thú của học sinh ở trên lớp khi chữa bài
mà họ đã làm ở nhà, thầy giáo có thể chữa bài tập khác tương tự với bài đã ra ở nhà
bằng cách đổi các số liệu hoặc đổi ẩn số của bài ở nhà thành dữ kiện ở bài chữa và
ngược lại. Với biện pháp này, ít nhiều thầy sẽ lôi cuốn được học sinh cùng mình
chữa bài tập mới, đồng thời theo dõi sửa chữa được cả bài tập đã làm ở nhà.

Qua thực tế dạy bồi dưỡng HSG Vật lí ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy
giờ học trên lớp không có đủ lượng thời gian để giáo viên mở rộng, nâng cao kiến
thức cũng như rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Do đó bên cạnh việc tổ
chức các chuyên đề thì một trong những biện pháp tốt nhất để rèn luyện kỹ năng
giải bài tập cho học sinh để học sinh có thể thường xuyên được luyện giải nhiều
dạng bài tập khác nhau, cũng như tiếp xúc với các dạng bài tập có tính chất mở rộng
và nâng cao, để từ đó học sinh có thể vận dụng một cách linh hoạt các cách giải
từng dạng bài tập đó là : “Hướng dẫn học sinh giải bài vật lí ở nhà.”
Việc học sinh tự học ở nhà có một ý nghĩa lớn lao về mặt giáo dục và giáo
dưỡng. Nếu việc học ở nhà của học sinh được tổ chức tốt sẽ giúp các em rèn luyện
thói quen làm việc tự lực, giúp các em nắm vững tri thức, có kỹ năng, kỹ xảo.
Ngược lại nếu việc học tập ở nhà của học sinh không được quan tâm tốt sẽ làm cho
các em quen thói cẩu thả, thái độ tắc trách đối với việc thực hiện nhiệm vụ của mình
dẫn đến nhiều thói quen xấu làm cản trở đến việc học tập.
Công việc học tập của học sinh ở nhà có những đặc điểm riêng sau:
+ Tiến hành trong một thời gian ngắn, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo
viên, mặc dù đấy là công việc do chính giáo viên giao cho học sinh phải tự mình
hoàn thành, tự kiểm tra công việc mình làm.
+ Công việc này được thực hiện tuần tự theo hứng thú, nhu cầu và năng lực của
học sinh.
+ Dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh khác.
Có thể coi quá trình học tập của học sinh ở nhà bao gồm các giai đoạn :
Trước hết phải nhớ lại những điều đã học ở lớp sau đó rèn luyện sáng tạo.
Mỗi giai đoạn có một nội dung công việc cụ thể.
Việc học tập của học sinh ở nhà phụ thuộc phần lớn vào việc dạy học trên
lớp của giáo viên. Vì vậy giáo viên cần phải căn cứ vào tình hình tiếp thu kiến thức
của học sinh mà giao cho các em những công việc có tính chất bổ sung phục hồi tài
liệu đã học như : nghiên cứu sách giáo khoa, vẽ hình ….



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status