tóm tắt luận án tiến sĩ Lập luận trong tiểu phầm trào phúng (trên cứ liệu tiếng việt) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN TRỌNG NGHĨA

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

LẬP LUẬN
TRONG TIỂU PHẨM TRÀO PHÚNG
(Trên cứ liệu tiếng Việt)
Chuyên ngành : Lí luận ngôn ngữ
Mã số : 62220101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
2. TS. TRẦN VĂN TIẾNG

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015


Công trình này được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh

Cán bô ̣ hướng dẫn khoa ho ̣c:
1. GS.TS. Nguyễn Đức Dân
2. TS. Trần Văn Tiếng
Cán bô ̣ phản biê ̣n đô ̣c lâ ̣p:

Cán bô ̣ phản biện Hội đồng chấm luâ ̣n án cấ p Trường:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường,
tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trào phúng bằng ngôn ngữ là một phạm trù phức tạp và đặc biệt thú vị.
Việc giải mã trào phúng chủ yếu dựa trên các nguyên tắc lập luận để chạm đến
ý nghĩa ẩn sâu bên dƣới lớp bề mặt ngôn từ. Trào phúng còn là phƣơng tiện đả
kích mạnh mẽ nhƣng lại có ý nghĩa xây dựng sâu sắc và hiệu quả cao. Vì vậy,
việc nghiên cứu đề tài „Lập luận trong tiểu phẩm trào phúng’ có ý nghĩa cả về
mặt lý thuyết và thực tiễn trong nói năng hài hƣớc hàng ngày, trong giảng dạy
và nghiên cứu tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, các phạm trù của trào phúng gồm hài hước, mỉa mai và
châm biếm đã đƣợc giới học thuật quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Một số đại
diện tiêu biểu là: Socrates (469-399) một triết gia Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với
khái niệm Mỉa mai kiểu Socrates (Socratic irony); Henri Bergson, Le rire
(1959), (Tiếng cười); Booth W. có công trình A rhetoric of irony (1974), (Phép
tu từ nói mỉa); Raskin V. với quyển The semantic mechanisms of humor
(1984), (Những cơ cấu ngữ nghĩa của hài hước). Tuy nhiên những công trình
trên thƣờng chỉ xem xét từng đối tƣợng riêng, chƣa thấy công trình nào khảo
sát bộ ba của trào phúng gồm: hài hước, mỉa mai và châm biếm trong một hệ
thống chỉnh thể. Đến năm 2007, Thomas Cathcart & Daniel Klein trong Plato
and a Platypus Walk into a Bar, bắt đầu khảo sát bộ ba trên từ góc nhìn liên
ngành với triết học, xem trào phúng là một nguyên tắc thấu thị.
Tại Việt Nam, Trƣơng Chính và Phong Châu bàn về tiếng cƣời trong văn
học trào phúng dân gian trong tác phẩm “Tiếng cười dân gian Việt Nam”
(TCDGVN, 1979); cuốn “Tiếng cười thế giới” (TCTG, 1988) do Nguyễn Đức
Dân chủ biên, đã đề cập đến vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật gây cƣời.


2
Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu về trào phúng, mỉa mai và châm biếm khá

liên hệ với các ngành văn hóa học, văn học, tâm lý học và triết học. Kết quả
phân tích sẽ đƣợc khái quát và tổng hợp thành sơ đồ, bảng biểu; dùng làm cơ
sở cho việc so sánh đối chiếu trong quá trình nghiên cứu.
Phương pháp so sánh đối chiếu: Luận án tiến hành so sánh, đối chiếu các
đặc điểm nổi bật và các phƣơng thức tạo ra trào phúng, châm biếm trong các
tiểu phẩm. Qua đó chúng tôi tổng kết những nét phổ quát và những nét riêng
về văn hóa, ngôn ngữ trong TPTP. Luận án có sử dụng một số kết quả nghiên
cứu liên ngành để làm sáng tỏ các vấn đề khảo sát.
Nguồn ngữ liệu chính của luận án là các quyển: Tiếng cười thế giới
(TCTG) của Nguyễn Đức Dân và Phạm Văn Tình (sƣu tầm và tuyển chọn),
Nxb.Văn học, 2007 (350 tiểu phẩm); Tiếng cười dân gian Việt Nam
(TCDGVN) của Trƣơng Chính và Phong Châu, Nxb. Khoa học Xã hội, 1979
(288 tiểu phẩm) và quyển Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar.. Lĩnh
hội triết học thông qua truyện cười (Plato and a Platypus Walk into a Bar…
Understanding Philosophy Through Jokes (PPWB)) của Thomas Cathcart &
Daniel Klein Nxb. Abrahams Image, 2005 (bản dịch của Tiết Hùng Thái, Nxb.
Thế Giới, 2014), (125 tiểu phẩm). Nguồn ngữ liệu quan trọng thứ 3 là các
TPTP tiêu biểu, đặc sắc trên tờ báo Tuổi trẻ cười (giai đoạn 2003 - 2013).
Luận án chỉ lựa chọn 515 tiểu phẩm tiêu biểu làm ngữ liệu. Trong quá trình
khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với một số lập luận cùng thể
loại trong văn học Việt Nam và văn học dân gian của một số nƣớc khác.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
6.1. Những đóng góp mới của luận án
-

Luận án chỉ ra khái niệm trào phúng là một nguyên tắc thấu thị. Ngƣời
lập luận có điểm nhìn xuyên suốt bản chất của hiện tƣợng cần phê


4

Về thực tiễn: Những kết quả phân tích và tổng hợp của luận án này sẽ có ích:
- Cung cấp thêm một số cơ sở cho việc phân tích diễn ngôn, đặc biệt là
các diễn ngôn châm biếm và hài hƣớc.
- Vận dụng các phƣơng pháp lập luận trào phúng và hài hƣớc vào giáo
dục sẽ làm tăng hiệu quả dạy học.


5
7. Kết cấu của Luận án
Bố cục của luận án gồm có 3 chƣơng, chƣơng 1: Cơ sở lý luận cho việc
phân tích tiểu phẩm trào phúng, chƣơng 2: Nghiên cứu vai trò của lý lẽ và vai
trò của ngôn ngữ trong lập luận trào phúng, chƣơng 3: Trình bày các phƣơng
thức lập luận, các chiến lƣợc gây hiệu quả và một số thủ thuật lập luận trào
phúng.
NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.

Lập luận thông thƣờng

Lập luận là sử dụng lý lẽ để đi đến mục đích của nói năng. Mục đích của lập
luận là giải quyết hai vấn đề: Về lý thuyết: Lập luận đi tới một cái đích về giá
trị chân lý, thƣờng thấy trong các lập luận mang tính khoa học, hàn lâm. Về
thực tiễn: Lập luận để đi tới một cái đích về tính hiệu quả, thƣờng thấy trong
các lập luận phi hình thức, những kiểu nói năng thông thƣờng hàng ngày.
Có hai kiểu lập luận cơ bản: lập luận theo diễn từ chuẩn mực và lập luận trong
ngôn ngữ.
1.2.

Lập luận trào phúng

giữa C và C‟ càng lớn thì sức gây cƣời càng cao.
Có ba yếu tố cơ bản: yếu tố bất ngờ, yếu tố phóng đại – cường điệu và
yếu tố dung tục. Yếu tố bất ngờ là những gì diễn ra ngoài sự suy đoán, phán
đoán thông thƣờng. Xét về lƣợng thông tin, yếu tố nào càng mới lạ, càng gây
bất ngờ thì lƣợng thông tin càng cao. Vì thế mà có ngƣời đã nhận xét: “Người
lịch sự là người nghe một câu chuyện cười lần thứ một trăm nhưng vẫn cứ


7
cười như lần đầu”. Cƣời là vì phép lịch sự, thực tế trong những lần nghe tiếp
theo cùng một câu chuyện thì lƣợng thông tin lúc này bằng không (theo lý
thuyết thông tin - entropy). Bất ngờ luôn hiện hữu trong LLTP. Khi yếu tố bất
ngờ không còn thì cái cƣời còn lại chỉ là cƣời xã giao. Yếu tố dung tục chiếm
42,2% trong tổng số 515 mẫu khảo sát. Yếu tố phóng đại – cường điệu xuất
hiện nhiều nhất trong TCDGVN.
1.4.

Yếu tố phúng trong lập luận
Trong phương châm hội thoại, Grice quan niệm: nói đủ, nói đúng, không

lạc đề và nói rõ ràng dễ hiểu. Tất cả các phát ngôn của chúng ta đều bị chi phối
bởi một hoặc những lẽ thƣờng nào đó. Khi một phát ngôn không tuân thủ theo
các tiêu chuẩn trên phải đƣợc hiểu theo một các khác thƣờng, đó là nghĩa của
hàm ý. Khi châm biếm, mỉa mai ngƣời ta chủ yếu sử dụng kiểu nói có hàm ý
và nói ngƣợc.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Trong chƣơng này, luận án đã xây dựng các khung khái niệm: hài hước,
mỉa mai, châm biếm nhằm mục đích làm cơ sở lý thuyết cho luận án Lập luận
trong tiểu phẩm trào phúng. Trong luận án này chúng tôi đã quan niệm cấu
trúc của một lập luận trào phúng là: Satire = humor + criticism → inspired

thông điệp trào phúng, ngƣời lập luận sử dụng một hoặc một chuỗi lý lẽ, nhằm
dẫn dắt, tạo ra những ngữ nghĩa tác động lên ngƣời nghe. Mục đích đầu tiên là
để gây sự chú ý hoặc tạo ra những bức xúc trƣớc vấn đề đƣợc nêu, từ đó dẫn
dắt ngƣời nghe đến hàm ý trào phúng. Thứ hai: Dùng lý lẽ để giả định tình
huống, nhằm tạo các tiền đề cơ sở cho kết đề. Luận án đã thống kê các lý lẽ
dùng cho mục đích này chiếm 27,1% trên tổng số ngữ liệu khảo sát, tƣơng
đƣơng 140/515 tiểu phẩm.


9
2.2. Quy tắc giải mã lập luận trào phúng
Não bộ của con ngƣời luôn có xu hƣớng tổ chức lại những dữ kiện thu
đƣợc từ quá trình tri nhận thành một cấu trúc có nghĩa. Quá trình quan sát toàn
diện và đƣa ra suy luận đƣợc Langacker (Langacker R., 1997) gọi là quá trình
phạm trù hóa. Cơ sở của nó là quá trình thu thập, củng cố và tƣơng tác giữa
các dữ kiện. Để hiểu đƣợc lập luận trào phúng, cần phải vận dụng các quy tắc
giải mã. Luận án trình bày ba quy tắc giải mã một lập luận trào phúng: 1. xác
định điểm quy chiếu, 2. xác lập topos mới và 3. hiểu lại nghĩa của lập luận.
2.2.1. Xác định điểm qui chiếu
Một lập luận trào phúng thƣờng có hai điểm quy chiếu. Điểm thứ nhất:
hiểu theo nghĩa thông thƣờng, dựa trên các bề mặt thông tin hay sự chỉ dẫn của
từ vựng; điểm thứ hai: hiểu theo nghĩa suy luận, đây là phần thông tin mà lập
luận muốn truyền đạt.
2.2.2. Xác lập các topos mới
Khác với các tiền đề logic, lẽ thƣờng không có tính tất yếu. Trong các kiểu
nói năng có hàm ý, ngƣời ta có thể dễ dàng phủ định chúng (các lẽ thƣờng hiện
hữu trên bề mặt từ ngữ, còn gọi là lẽ thƣờng cũ) để tạo ra các lẽ thƣờng mới
(trong sự suy ý). Đỗ Hữu Châu (2003) “Có những trường hợp người nói tạo
ra hàm ngôn dựa vào một lẽ thường do chính anh ta xây dựng nên.” Trong
các truyện cƣời, các tiểu phẩm trào phúng việc xác lập một topos mới hầu nhƣ

Ngụy biện là sự cố tình dùng những lý lẽ có vẻ nhƣ đúng logic nhƣng
thực ra chứa đựng sai lầm để dẫn tới một kết luận sai nhằm một mục đích nào
đó. Các thủ pháp ngụy biện sử dụng trong tiểu phẩm trào phúng: 1. đánh tráo
khái niệm, 2. đánh tráo luận đề, 3. dùng luận đề mơ hồ, 4. làm lẫn lộn, 5. Ngụy
biện dựa vào lý lẽ quyền uy và 6. Dùng ngụy biện để đáp lại ngụy biện.


11
2.3.3. Lý lẽ ngƣợc
Lý lẽ ngƣợc đƣợc sử dụng phổ biến và chiếm tỉ lệ lớn trong khối ngữ liệu
châm biếm bằng lý lẽ đã đƣợc khảo sát (42,4% trên 153 TPTP bằng lý lẽ).
Trong TPTP, sự châm biếm đƣợc hình thành theo cách viết ngƣợc: nói một
điều A có vẻ nghiêm túc nhƣng lại đƣợc độc giả hiểu thành B, là điều ngƣời
viết muốn phê phán. Thành công của một tiểu phẩm châm biếm bằng ngôn
ngữ trƣớc hết là ở cách viết có hàm ý. Ngƣời viết luôn dụng tâm sao cho độc
giả luôn tự suy ra điều tác giả muốn phê phán. Phƣơng pháp cơ bản của sáng
tác tiểu phẩm châm biếm là dùng lý lẽ ngược đời, là nói ngược. Trong đó, nói
ngƣợc theo cách nói dân gian dễ gây hiệu quả nhất.
2.4. Vai trò của ngôn ngữ trong lập luận trào phúng
Khi bàn về hài hƣớc trong ngôn ngữ, luận án đồng tình với quan niệm của
Henri Bergson. Ông đã chia hài hƣớc trong ngôn ngữ ra làm hai loại: hài hước
được mô tả bằng ngôn ngữ và hài tính do chính ngôn ngữ gây nên.
2.4.1. Trào phúng đƣợc mô tả bằng ngôn ngữ
Ngôn ngữ mô tả tình huống, kích thích trí tƣởng tƣợng, gây cƣời. Giữa
những tình huống mà ngôn ngữ mô tả có những đặc điểm chung. Henri
Begson kiến giải rằng, các tình huống này mang tính hài bởi vì ngƣời đọc với
tâm lý và logic tƣ duy thông thƣờng luôn hình dung đƣợc một tiến trình, trình
tự hoạt động bình thƣờng tiếp sau đó. Nhƣng kết thúc tiểu phẩm lại là một tình
huống khác xa dự đoán.
Cả ngƣời viết và ngƣời cảm nhận loại truyện cƣời này đều dựa trên căn

Việt hết sức đặc sắc hiếm thấy ở nhiều ngôn ngữ khác. Những kiểu cƣời này
không chuyển sang các ngôn ngữ khác đƣợc.
Trong tiếng Việt mỗi tiếng là một từ. Số lƣợng các tiếng không nhiều. Nhƣng
những khái niệm thì vô hạn và ngày càng xuất hiện thêm nhiều khái niệm mới.
Do vậy một mặt có rất nhiều từ đồng âm, mặt khác cần tạo ra những từ ghép,


13
phổ biến là từ ghép đôi, để diễn đạt những khái niệm mới. Có hai kiểu ghép cơ
bản, ghép đẳng lập (vai trò hai tiếng nhƣ nhau) và ghép chính phụ (vai trò hai
tiếng khác nhau). Mỗi loại từ ghép lại tạo ra một kiểu chơi chữ riêng. Trật tự
từ là phƣơng tiện ngữ pháp quan trọng nhất trong tiếng Việt. Nhiều trƣờng hợp
đảo trật tự là nghĩa khác hẳn. Do vậy, tiếng Việt tận dụng những từ gần âm,
đồng nghĩa, những lối nói ngƣợc, nói lái… để chơi chữ. Luận án đã trình bày 5
khả năng của tiếng Việt có thể tạo ra kiểu trào phúng đặc trƣng. 1. Khả năng
tách từ ghép; 2. Khả năng chêm xen giữa các cặp đôi; 3. Dùng lối nói vần; 4.
Dùng hiện tƣợng đồng âm, gần âm và 5. Dùng những cụm từ hô - ứng.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
Cũng nhƣ tiếng cƣời hài, tiếng cƣời trong TPTP luôn chịu ảnh hƣởng của
văn hóa, sự nhận thức và yếu tố dân tộc. Cốt lõi của một lập luận trào phúng là
nói thế nào để có sự hài hƣớc và ngƣời ta không hiểu theo nghĩa hiển ngôn. Để
giải mã một lập luận trào phúng, chúng tôi đề xuất 3 qui tắc: Xác định điểm
qui chiếu, xác lập lẽ thường mới và hiểu lại nghĩa của lập luận
Trong khi hành chức, lý lẽ trong lập luận trào phúng đảm đƣơng chức năng: Sử
dụng lý lẽ để dẫn giải, đưa đến kết luận và sử dụng lý lẽ để giả định tình
huống.
Dựa vào thuộc tính của lý lẽ, luận án phân hệ thống lý lẽ trong TPTP
thành 3 loại chính. Thứ nhất là lý lẽ ngộ biện: tận dụng sự đa trị và tính mơ hồ
trong ngôn từ, ngƣời ta đƣa ra các lý lẽ có hình thức của một lập luận. Kì thực,
các lý lẽ đó chỉ qui chiếu trong tình huống trào phúng và chỉ mang nét nghĩa

Aristote đã đề cập đến ba nhân tố phải đạt đƣợc để lời nói của mình có thể
thuyết phục đƣợc ngƣời nghe: Thứ nhất là Logos: nhân tố lý lẽ, muốn thuyết
phục đƣợc phải có lý lẽ. Thứ hai là Pathos: nhân tố xúc cảm. Lời nói có lý thôi
chƣa đủ để thuyết phục, nó phải gây đƣợc tình cảm, thiện cảm của ngƣời tiếp
nhận. Thứ ba là Ethos: nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lý dân tộc, văn hóa
của ngƣời tiếp nhận. Lập luận trào phúng mà công cụ của nó là hài hƣớc, cũng
tuân thủ đầy đủ ba yếu tố trên. Nhận định của Henri Bergson trong tác phẩm
Tiếng Cười (Le Rire, 1900): Hài hƣớc là biểu hiện của một sự thỏa hiệp ngầm.


15
Ông viết: “Dù ta tin là có sự chân thành đến đâu đi nữa, tiếng cười cũng luôn
che giấu một ẩn ý thỏa hiệp, gần như một ẩn ý đồng tình với những kẻ vui cười
khác”. Nhận định này trùng khớp với quan niệm thứ ba của Aristote – Ethos.
3.2.

Phƣơng thức lập luận cơ bản trong tiểu phẩm trào phúng
LLTP chủ yếu gây bất ngờ trong nhận thức của ngƣời tiếp nhận để tạo ra

khoái cảm nhận biết, khoái cảm phát hiện dẫn tới khoái cảm thắng lợi và bật
cƣời. Vận dụng logic của tƣ duy, ngƣời viết truyện cƣời thƣờng sử dụng những
lý lẽ thông thƣờng trƣớc đó, nhằm tạo ra một sự “phẳng lặng” trong nhận thức,
rồi đột ngột đổi hƣớng ở cuối truyện, sao cho càng gây đƣợc bất ngờ, thú vị
càng tốt. Sức gây cƣời của câu chuyện phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố này.
Chúng tôi gọi nó là: Phương pháp gây bất ngờ - lạ hóa. Luận án tổng hợp
thành 7 phƣơng thức lập luận.
3.2.1. Phƣơng thức gài bẫy
Phƣơng thức này thƣờng đƣợc vận dụng trong những tiểu phẩm có tình
huống đối thoại giữa ngƣời A và ngƣời B. Ở đó A đƣa ra một tiền đề, mà tiền
đề đó thƣờng dƣới dạng câu hỏi; B tham gia vào tiền đề đó theo một trật tự

truyện cƣời, ngƣời ta ƣa dùng phƣơng thức qui nạp này vào việc tạo ra các mối
quan hệ logic mang tính phóng đại. Sự phóng đại quá mức tạo nên bất ngờ,
trùng hợp và hài hƣớc.
3.2.5. Phƣơng thức định nghĩa
Định nghĩa là sử dụng từ ngữ để giải thích, làm rõ nghĩa của một khái
niệm hay một sự tình nào đấy. Sự định nghĩa trong lập luận có thể hoàn toàn
tuân thủ các phƣơng pháp luận trong khoa học nhằm thể hiện sự nhất quán,
chính xác và thuyết phục. Tuy nhiên, cũng có thể dùng các kiểu định nghĩa
mang tính chấp nhận đƣợc trên cơ sở các lẽ thƣờng hay các thói quen văn hóa.


17
Trong ngữ liệu khảo sát, phƣơng thức định nghĩa chiếm 94/515, tƣơng đƣơng
18,25%. Định nghĩa trào phúng không phải là định danh một khái niệm mà là
sự so sánh ẩn dụ chứa hàm ý trào phúng. Qua định nghĩa, ngƣời ta chuyển tải
thông điệp mỉa mai, châm biếm hay một lời khuyên, một lời chỉ trích, biện
minh cho một thói hƣ tật xấu hay một bài học kinh nghiệm.
3.2.6. Phƣơng thức chơi chữ
Chơi chữ trong hài hƣớc và châm biếm chuyên khai thác sự đa nghĩa và
sự trùng lặp các vỏ âm thanh của từ ngữ để tạo ra yếu tố bất ngờ, hài hƣớc để
phục vụ cho mục đích trào phúng. Không phải tất cả các hiện tƣợng chơi chữ
đều có chứa sự khôi hài. Hài hƣớc chỉ xuất hiện dƣới những hình thức nhƣ
châm biếm, vận dụng sự độc đáo của các cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ngữ
nghĩa, hay logic để kích thích trí tuệ gây cƣời. Thủ pháp chơi chữ chủ yếu
xoay quanh hai trục: trục âm thanh và trục ngữ nghĩa.
3.2.7. Phƣơng thức hỏi – lập luận
Phƣơng pháp hỏi là một nghệ thuật lập luận. Khi phân loại câu theo mục
đích phát ngôn, các nhà Việt ngữ học thƣờng phân thành 4 loại: câu tƣờng thuật,
câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh và câu cảm thán. Trong TPTP, câu hỏi
đƣợc xem nhƣ một dạng lập luận đặc biệt. Xét về mục đích (theo Lê Đông,

tích các diễn ngôn trào phúng. Có thể tóm tắt SSTH nhƣ sau: Để một lập luận
đƣợc xem nhƣ một truyện cƣời, tức có tính hài thì phải đảm bảo hai điều kiện
cơ bản: Thứ nhất: Diễn ngôn phải luôn có hai kịch bản khác biệt nhau, từng
bộ phận hay toàn thể kịch bản phải tồn tại tƣơng ứng theo quan hệ sóng đôi.
Thứ hai: Hai kịch bản phải đối lập hay tƣơng phản nhau theo nghĩa rất đặc
biệt. Chính sự đối lập nghĩa đặc biệt này là chất liệu làm phát sinh tính hài của
diễn ngôn.
Trong đối thoại, đôi khi ngƣời nói dẫn ngƣời nghe đi vào những vùng
thông tin hầu nhƣ chẳng ăn nhập với điều định nói. Ngƣời nghe thƣờng vẫn
phải chấp nhận hiện tƣợng này với một tâm lý chờ đợi, chờ đợi một điều mới
lạ, thú vị nào đó. Ngƣời nói thƣờng có chuẩn bị sẵn các ý kế tiếp để liên kết


19
một cách có logic với luồng thông tin “xa đề” mà mình vừa tạo ra. Chiến lƣợc
nói năng nhƣ vậy gọi là Chiến lược tạo thông tin dư.
3.4.

Một số thủ thuật lập luận trào phúng
Luận án trình bày 5 thủ thuật bao gồm: 1. Thủ thuật tách khỏi, 2. Thủ

thuật phản đối xứng, 3. Thủ thuật đảo ngƣợc, 4. Thủ thuật sử dụng yếu tố
trung gian và 5. Thủ thuật đồng nhất các sự kiện.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3
Trong chƣơng này, luận án trình bày 7 phƣơng thức và 5 thủ thuật lập
luận trong tiểu phẩm trào phúng. Lập luận thông thƣờng là dùng lý lẽ để thuyết
phục; lập luận trào phúng là dùng lý lẽ để gây hiệu quả hài hƣớc, lạ hóa và qua
đó chuyển tải nội dung châm biếm – mỉa mai. Ba yếu tố cơ bản làm cho một
lập luận hiệu quả là Logos - nhân tố lý lẽ, thứ hai là Pathos - nhân tố xúc cảm
và thứ ba là Ethos - nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lý dân tộc, văn hóa của

gây cƣời. Hài đƣợc xem là công cụ; còn mỉa mai, châm biếm là những thông
điệp mà lập luận trào phúng mong muốn chuyển đến đối tƣợng của mình.
Một lập luận trào phúng thành công, trƣớc hết phải gây đƣợc tiếng cƣời.
Luận án đã trình bày và kiến giải ba bƣớc cơ bản để gây cƣời: mào đầu, dẫn
dắt và đột ngột chuyển hướng lập luận. Trong đó, quá trình chuyển hƣớng cần
phải đảm bảo các yếu tố: bất ngờ, thú vị (hấp dẫn, kích thích sự hiếu kì), yếu tố
hợp lý, yếu tố trí tuệ và yếu tố mới lạ. Luận án đã mô hình hóa các bƣớc lập
luận gây cƣời bằng sơ đồ 1.1. Theo đó, một lập luận sẽ mào đầu bằng một điều
A rồi dẫn dắt đến một điều B hoàn toàn phù hợp với logic suy luận và các lẽ
thƣờng, tất yếu ngƣời nghe sẽ suy luận đến kết luận C. Nhƣng kết luận của lập
luận trào phúng không đến C mà là đến C‟, là một điều hoàn toàn bất ngờ và


21
vƣợt ra ngoài sự dự đoán của ngƣời nghe. Biên độ giữa C và C‟ càng lớn thì
tiếng cƣời càng mạnh.
2. Lập luận trong các tiểu phẩm trào phúng là loại lập luận bất thƣờng và
ngƣợc đời. Để hiểu đƣợc các lập luận kiểu này đòi hỏi phải có quá trình giải
mã chúng. Luận án trình bày ba nguyên tắc để giải mã loại lập luận này là: 1.
Xác định điểm quy chiếu: Trong một lập luận trào phúng luôn tồn tại hai điểm
quy chiếu, điểm thứ nhất nằm ở bề mặt ngôn từ, tức nghĩa đen; điểm thứ hai là
nghĩa suy luận. 2. Xác lập lẽ thƣờng mới: Ngƣời lập luận tự tạo ra một lẽ
thƣờng mới cho mình. 3. Hiểu lại nghĩa của lập luận.
3. Về hai thuật ngữ mỉa mai và châm biếm tức phần phúng, có rất nhiều
quan điểm về sự phân biệt giữa hai thuật ngữ này. Trên cơ sở khảo sát các câu
gốc có sử dụng hai thuật ngữ này trong hơn 20 tác phẩm văn học lớn nhỏ của
một số tác giả chuyên viết về hiện thực phê phán, chúng tôi rút ra một số nhận
xét về những điểm tƣơng đồng và dị biệt của hai khái niệm trên nhƣ sau.
Điểm tương đồng: Thứ nhất, khi gán cho đối tƣợng một thuộc tính
ngƣợc lại với bản chất của đối tƣợng thì sẽ hiểu thành mỉa mai, châm biếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status