SKKN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỂ DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
TRƯỜNG THPT LÊ QUẢNG CHÍ



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỂ DẠY
HỌC TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA
THẠCH LAM THEO ĐẶC TRƯNG THỂ
LOẠI

Họ và tên: Nguyễn Thị Lệ Thanh
Địa chỉ: Trường THPT Lê Quảng Chí
Thị xã Kỳ Anh - Tỉnh Hà Tĩnh

Thị xã Kỳ Anh, tháng 10 năm 2015

1


A – ĐẶT VẤN ĐỀ
I – Lí do chọn đề tài
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang bước vào công cuộc đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục. Trước xu thế đó, mỗi người giáo viên phải thay đổi tiên
phong để làm cho công cuộc đổi mới đạt hiệu quả. Một trong những công việc
cần làm ngay đó là đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng hiện đại hoá, tiếp
cận với các phương pháp dạy học tiến bộ trên thế giới. Bộ Giáo dục đã chỉ ra
rằng: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tự
sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê
học tập và ý chí vươn lên"
Với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục đã đánh giá lại vai trò của

2


soạn sách lại chọn tác phẩm, bởi ở nó chứa đựng những đặc trưng của văn xuôi
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy vẫn còn
không ít giáo viên chưa định hình được vấn đề này; học sinh chưa biết dùng tri
thức của bài để tiếp nhận tác phẩm văn học khác. Từ lí luận dạy học đến thực
tiễn giảng dạy tại trường THPT, tôi quyết định chọn đề tài: Xây dựng hệ thống
câu hỏi để dạy – học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo đặc trưng
thể loại. Thông qua đề tài này có thể đánh giá được vai trò mở đầu của tác
phẩm, giúp học sinh và giáo viên nắm được phương pháp để tiếp cận những tác
phẩm văn học cùng thời kì một cách dễ dàng, khoa học và có hệ thống hơn. Đặc
biệt là biết cách xây dựng bài học qua hệ thống câu hỏi hợp lí.
II – Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống câu hỏi để dạy học truyện ngắn theo
đặc trưng thể loại
2. Phạm vi nghiên cứu: truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
III – Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1. Mục tiêu của đề tài: Đề tài đặt ra vấn đề hệ thống câu hỏi để dạy – học
tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại. Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, qua
truyện ngắn Hai đứa trẻ người viết muốn rút ra một số kinh nghiệm để giảng
dạy phần văn xuôi 1930 – 1945 tốt hơn, phù hợp với xu hướng đổi mới phương
pháp dạy học hiện nay.
2. Nhiệm vụ của đề tài
- Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học truyện ngắn
- Tìm hiểu những đặc trưng thể loại của truyện ngắn, cụ thể là truyện
ngắn giai đoạn 1930 – 1945 để vận dụng vào việc xác định hướng tiếp cận tác
phẩm.
- Đưa ra một số nội dung cần lưu ý khi dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ
của Thạch Lam.

Chương II – Hệ thống câu hỏi để dạy – học truyện ngắn Hai đứa trẻ theo
đặc trưng thể loại
Chương III – Thực nghiệm sư phạm

4


B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1. Vài nét cơ bản về câu hỏi trong dạy học
1.1.1. Khái niệm câu hỏi trong dạy học
Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt một yêu cầu, một “mệnh
lệnh” của giáo viên, đòi hỏi học sinh cần giải quyết nội dung kiến thức bài học.
Mục đích của việc đặt câu hỏi trong dạy học: giúp giáo viên thực hiện việc
giảng bài, nhằm luyện tập, thực hành, nhằm hướng dẫn tổ chức học sinh học,
nhằm khích lệ và kích thích suy nghĩ, nhằm đánh giá học sinh.
1.1.2. Vai trò cuả việc đặt câu hỏi trong dạy học
- Đối với học sinh: Đặt câu hỏi được sử dụng như một phương tiện để tổ
chức, hướng dẫn quá trình nhận thức; câu hỏi giúp học sinh lĩnh hội tri thức một
cách có hệ thống, tránh tình trạng ghi nhớ máy móc và tạo không khí học tập
sôi nổi.
- Đối với giáo viên: Đặt câu hỏi giúp giáo viên đánh giá được năng lực
của học sinh, giúp người dạy có thông tin phản hồi từ phía người học để có
những điều chỉnh phù hợp. Việc đặt câu hỏi còn nâng cao tầm hiểu biết của
giáo viên bởi vì hỏi cũng là một cách bổ ích cho việc giáo viên đi sâu vào việc
hiểu bài học.
1.1.3. Thiết kế câu hỏi trong dạy học
- Nguyên tắc thiết kế
+ Quán triệt mục tiêu dạy học

+ Yếu tố thứ nhất là chất lượng của câu hỏi, thể hiện ở phạm vi kiểm tra
kiến thức cho học sinh rộng, huy động được nhiều thao tác, nhiều hoạt động
tâm lý, trí tuệ của học sinh và giáo viên.
+ Yếu tố thứ hai là chất lượng của câu trả lời, thể hiện ở việc học sinh
phải đáp ứng được ba khía cạnh: tính cụ thể, tính logic hệ thống và lập luận có
minh chứng thuyết phục. Tính cụ thể biểu hiện ở việc người nghe biết chính xác
những gì học sinh nói. Tính hệ thống đòi hỏi học sinh trả lời đầy đủ và logic các
ý của phương án trả lời. Sự đánh giá kèm theo minh chứng yêu cầu học sinh
diễn giải, đưa ra các lý lẽ, lập luận có sức thuyết phục.
+ Yếu tố thứ ba là khả năng lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học.
1.1.5. Những yêu cầu khi xây dựng câu hỏi trong dạy học môn Ngữ văn
- Phân loại câu hỏi: Mục đích của việc đặt câu hỏi là phải làm nổi bật
đặc trưng bộ môn Ngữ văn nói chung cũng như đặc trưng kiểu bài phân tích tác
phẩm nói riêng. Từ mục đích đó, ta có thể xác định được hệ thống câu hỏi cho
kiểu bài này thường như sau:
+ Hệ thống câu hỏi tìm những chi tiết liên quan đến nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm
+ Hệ thống câu hỏi bộc lộ cảm nhận, cảm xúc của học sinh từ những chi
tiết của tác phẩm
+ Hệ thống câu hỏi phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh.
- Yêu cầu về nội dung:
+ Câu hỏi khai thác được đặc sắc nổi bật thể loại tác phẩm.
+ Câu hỏi có tính dẫn dắt, gợi mở để học sinh khám phá vẻ đẹp về nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm.
+ Câu hỏi khai thác được cảm nhận và sự đa dạng trong tiếp nhận của
học sinh và có khả năng phân hóa học sinh
- Yêu cầu về hình thức
+ Cấu trúc ngắn gọn, rõ ràng, trực tiếp
+ Câu hỏi được diễn đạt hấp dẫn, kích thích năng lực tư duy của học sinh
- Yêu cầu về phương pháp sử dụng:

lớp lang từ đầu đến cuối truyện. Các sự kiện càng gay cấn, nổi bật càng tạo kịch
tính, sức hấp dẫn cho truyện (Chí Phèo - Nam Cao)
Về kết cấu: Tuy dung lượng nhỏ nhưng truyện ngắn có thể có những kết
cấu linh hoạt. Kết cấu truyện ngắn không gồm không gian, thời gian nhiều tầng
bậc, nhiều tuyến, mà được tổ chức theo kiểu tương phản, liên tưởng. truyện
ngắn có thể có các kiểu kết cấu sau đây:Kết cấu vòng tròn (đầu cuối tương
ứng): Chí Phèo (Nam Cao); Kết cấu theo trục thời gian: Truyện được kể theo
thời gian, theo diễn biến của dòng sự kiện: Chữ người tử tù(Nguyễn Tuân); Kết
cấu tâm lý: Truyện được kể men theo dòng tâm lý nhân vật, làm sáng rõ nội tâm
nhân vật và tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện: Đời thừa (Nam Cao); Kết cấu
đồng hiện: Nhà văn miêu tả sự kiện, quan sát tình huống ở các địa điểm khác
nhau trong cùng một thời điểm. Kiểu kết cấu này đem lại khả năng mở rộng
dung lượng cho tác phẩm: Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi); Kết
cấu trùng phức (kết cấu truyện lồng trong truyện): Người kể chuyện đứng ra
ngoài, đóng vai trò là đạo diễn để tổ chức diễn biến câu chuyện qua lời kể, qua
đó hoàn thiện chân dung nhân vật; Kết cấu mở: Truyện kết thúc nhưng cái kết

7


còn để ngỏ, mở ra những khả năng liên tưởng rộng lớn: Chí Phèo (Nam
Cao) Vợ nhặt (Kim Lân)
Về nhân vật: Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là người phát ngôn cho
tư tưởng của nhà văn. Do đó, xây dựng nhân vật là điểm quan trọng của truyện
ngắn. Nhân vật truyện ngắn ít hơn tiểu thuyết và thường bắt buộc phải được xây
dựng theo nguyên tắc điển hình hóa. Nhân vật phải được đặt trong một hoàn
cảnh cụ thể, vừa mang tính chung phổ quát vừa mang tính riêng độc đáo. Trong
truyện ngắn, nhân vật là một mảnh nhỏ của thế giới, là hiện thân cho một trạng
thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người, phát
ngôn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tư tưởng nhà văn.

buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội. Bên cạnh những nét chung đó thì
truyện ngắn lãng mạn có đặc thù riêng như: chất trữ tình tha thiết, thế giới nội
8


tâm được khai thác một cách tinh vi, thế giới thiên thơ mộng, tình yêu lứa đôi,
môn hình muôn vẻ. Do đó truyện ngắn lãng mạn thường giàu chất thơ, hấp dẫn,
làm đắm say lòng người.
Về đặc trưng nghệ thuật, trong truyện ngắn lãng mạn thường sử dụng
hình thức độc thoại nội tâm để bật nổi được những xúc cảm, rung động thẩm
mỹ, và cả những giằng xé nội tâm của nhân vật. Bên cạnh đó nhà văn cũng
thường sử dụng các biệt pháp tương phản, cường điệu, lí tưởng hóa...
Với quan niệm: Cái bình thường sẽ là cái chết của nghệ thuật truyện
ngắn lãng mạn với lí tưởng đưa người đọc vượt lên cái tầm thường, cái bình
thường để vươn tới những ước mơ lớn lao, vỹ đại....
Về truyện ngắn hiện thực: trào lưu văn học nghệ thuật lấy hiện thực xã
hội và những vấn đề có thực của con người làm đối tượng sáng tác nhằm cung
cấp cho người đọc những bức tranh chân thực, sống động, quen thuộc về cuộc
sống, về môi trường xã hội xung quanh.
Đặc điểm về nội dung của truyện ngắn hiện thực: Quan tâm đến sự thật
đời sống xã hội, muốn phản ánh nó một cách chân thật, khách quan, vì thế rất
chú ý đến cái thường thấy, cái quen thuộc có tính phổ biến, của cuộc sống; Nó
có tham vọng đi tìm chân lí, bản chất và qui luật nằm ở bề sâu các hiện tượng.
Nó phân tích lí giải để soi sáng những chân lí ấy.
Đặc điểm về nghệ thuật: xây dưng những tính cách điển hình, có tính
khái quát tổng hợp rất cao, nhưng rất chân thực và sinh động, có cá tính riêng
độc đáo nhưng lại như đầy rẫy trong xã hội. Qua đó ta hiểu được bản chất của
con người và xã hội. Qua nghệ thuật điển hình hoá, nó phát hiện ra mối quan hệ
giữa có tính qui luật giữa hoàn cảnh và tâm lí, tính cách con người; Khuynh
hướng tư tưởng là đấu tranh cho nền dân chủ và cho chủ nghĩa nhân đạo. Cảm

người xưa. Thứ hai phát hiện cách khắc họa nhân vật của nhà văn: trực tiếp
(qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ) hay gián tiếp (qua nhân vật khác,
qua lời bình luận của nhân vật khác hoặc đám đông).
Xác định được tình huống truyện. Dạy truyện ngắn là phải bật lên được tình
huống truyện, định danh và ý nghĩa của nó. Ngoài các yếu tố đó ra thì làm cho học sinh
cảm và hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật của là một yêu cầu qua trọng.
Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật của truyện là đi tìm cái hay trong lời kể,
như sự linh hoạt đan xen giữa lời và lời tả, sức mạnh gợi tả của ngôn từ, cách sử
dụng từ ngữ, câu văn để làm hiện lên cảnh, việc và người, đem lại xúc mạnh
cho người đọc.
2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.1. Thực tế sử dụng câu hỏi đạt hiệu quả trong dạy học
Thực tế giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc thể loại trong nhà
trường THPT
Bộ sách giáo khoa hiện hành, được áp dụng trong nhà trường THPT hiện
nay là một sách có sự đổi mới, với tinh thần tích hợp kiến thức, kĩ năng. Nghĩa
là mỗi bài luôn có sự tổng hợp, liên đới nhiều kiến thức. Tuy nhiên, trên thực tế
thì sự tích hợp trong giảng dạy còn ít, học sinh chưa sự liên kết các thức đã học
một cách linh hoạt. Đa số còn máy móc, thậm chí còn học lệch, khi thi cử, hoặc
làm bài kiểm tra ít đạt được điểm cao.
Do đặc thù giảng dạy ở nhà trường THPT nên truyện ngắn chiếm một tỉ
lệ khá cao trong chương trình. Nhìn chung đa số giáo viên đã biết khắc sâu
những kiến thức cơ bản về tác phẩm cho học sinh: nôi dung tư tưởng, đặc điểm
nhân vật... Tuy nhiên khi học sinh được hỏi Em hiểu gì về thể loại truyện ngắn
qua một số tác phẩm đã học? hoặc khi đưa ra những câu hỏi đi nghệ thuật để
phát hiện nội dung, thì còn mơ hồ, lúng túng, chưa hiểu vấn đề. Học sinh đa số
chỉ nắm được những vấn đề cụ thể, nhỏ trong tác phẩm, chưa có cái nhìn bao
quát tổng thể, nên khi gặp những đề thi mang tính tổng hợp hoặc so sánh là làm
chưa tốt.
Về phía giáo viên, qua phiếu điều tra thăm dò cho thấy: giáo viên biết về

trong chặng đường nửa đầu thế kỉ XX. Tác phẩm của ông đem đến cho văn xuôi
nước nhà một phong cách mới, góp phần làm phong phú hơn diện mạo văn học
nước ta trong quá trình chuyển mình đi lên con đường hiện đại hóa. Thạch Lam
- Tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân, sinh năm
1909. Ông sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh gia đình bắt đầu sa sút về kinh tế.
Thuở nhỏ có thời gian ông chuyển về sống ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải
Dương, một phố huyện nhỏ, nơi Thạch Lam gắn bó nửa cuộc đời mình, và cũng
chính nơi đây đã để lại dấu ấn sâu sắc trong sáng tác của ông, từ cảnh vật thiên
nhiên đến cuộc sống con người.
Thạch Lam bắt đầu hoạt động văn học từ 1932, thành viên của Tự lực
văn đoàn. Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Ông đã
để lại một số tác phẩm chính như: Gió đầu mùa (1937); Nắng trong vườn
(1938); Sợi tóc (1942); Tiểu thuyết Ngày mới (1939); Tập tiểu luận Theo dòng
(1941); Tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (1943). Thạch Lam mất vì
bệnh lao năm 1942 tại Hà Nội.
Nhìn chung về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Thạch Lam vẫn
còn nhiều khía cạnh để ta bàn bạc, chia sẻ. Trong phạm vi đề tài này, người viết
chỉ điểm qua một số nét cơ bản để có khám phá sáng tác của ông ở thể loại
truyện ngắn,
1.2. Quan niệm văn chương của Thạch Lam
Trong bài giới thiệu tập truyện ngắn Gió đầu mùa xuất bản trước cách
mạng tháng Tám, Thạch Lam viết : "Đối với tôi văn chương không phải là một
cách đem đến cho người đọc sự thoát ly trong sự quên, trái lại văn chương là
một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi
một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và
phong phú hơn". Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn
học" của Thạch Lam. Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch
Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó.
Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, được coi là một trong những
cây bút chính của nhóm ấy, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chảy

đó là một dụng ý nghệ thuật, thông qua đó ông dựng lên một bức tranh hiện
thực và gửi gắm tấm lòng đồng cảm, xót thương của mình đến với con người.
Ngôn ngữ trong sáng tác của Thạch Lam chủ yếu thiên về tả và bộc lộ
cảm xúc. Ông tả cảnh thiên nhiên hay tâm trạng con người rất tinh tế, nhẹ
nhàng như những vần thơ. Bởi vậy cho nên Trần Ngọc Dung bàn về phong cách
truyện ngắn Thạch Lam đã nhận xét: "Mỗi truyện ngắn của ông là một bài thơ
trữ tình đầy xót thương... nó tạo nên một tâm hồn rất đỗi Việt Nam của Thạch
Lam"
Như vậy thông qua tìm hiểu vài nét về phong cách nghệ thuật của Thạch
Lam, ta cần phải lưu ý khi dạy tác phẩm Hai đứa trẻ theo đặc trưng thể loại. Ở
đó không thể lấy nguyên lí thuyết về truyện ngắn vào phân tích tác phẩm mà
cần phải sự hài hòa giữa chất trữ tình và yếu tố tự sự, giữa đặc trưng văn học
lãng mạn và văn học hiện thực...
2. Đặc trưng thể loại của truyện ngắn Hai đứa trẻ
2.1. Hai đứa trẻ - với đặc trưng của truyện ngắn lãng mạn
Hai đứa trẻ là truyện ngắn tiểu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch
Lam: bình dị, nhẹ nhàng, tinh tế mà thâm thúy. Chất lãng mạng đầu tiên thể
hiển ở cốt truyện. Là tác phẩm tự sự nhưng truyện ngắn này dường như không
có chuyện, chẳng có xung đột xung đột, chẳng có gì gay cấn cả. Hai đứa trẻ chỉ
13


là một mảng đời thường, bình lặng của một phố huyện nghèo từ lúc chiều
xuống cho đến lúc đêm khuya, với hương vị, màu sắc và âm thanh quen thuộc:
tiếng trống thu không cất lên trên một chiếc chòi nhỏ, một ráng chiều ở phía
cuối chân trời, một mùi vị âm ẩm của đất, tiếng chó sủa, tiếng ếch nhái, tiếng
muỗi kêu vo ve... những âm thanh của mấy con người bé nhỏ, thưa thớt, một
quán nước chè tươi, một gánh hàng phở, một vãn cảnh chợ chiều với vỏ nhãn,
vỏ thị, rác rưởi và những đứa trẻ con nhà nghèo lom khom cúi tìm nhặt nhạnh,
một đoàn tàu đêm lướt qua... và nỗi buồn mơ hồ với khao khát đến tội nghiệp

lại đắm mình trong những mơ tưởng xa xôi để "sống giữa bao nhiêu sự xa xôi
không biết" mà chuyến tàu ấy gợi lên trong tâm hồn cô.
Trong Liên luôn mang lòng trắc ẩn đối với những cảnh ngộ đáng thương:
Bản thân cô đang sống một cuộc sống nghèo khó, Liên cũng thấm thía sâu sắc
14


cảnh nghèo và buồn mà cô đang phải trải qua, song không vì thế mà Liên đóng
kín tâm hồn đối với con người và cuộc sống quanh mình. Nhìn những đứa trẻ
nghèo đang nhặt nhạnh, tìm kiếm trên bãi chợ, Liên thấy "động lòng thương"
tuy chính chị cũng không có gì để cho chúng. Sẵn có một tấm lòng thơm thảo,
Liên đã rót đầy hơn vào cút rượu của bà cụ Thi điên dù trong em không phải
không có cảm giác sờ sợ rất tự nhiên ở một đứa trẻ khi phải đối diện với một
người không hoàn toàn bình thường. Chính những tình cảm ngỡ như rất giản dị
ấy lại làm cho người ta cảm động như được "thanh lọc tâm hồn" để trở về với
những gì tự nhiên thuần khiết nhất.
Đặc trưng của văn học lãng mạn là: biểu hiện cái nhìn chủ quan của nhà
văn trước cuộc đời và hình tượng nhân vật ít nhiều mang phảng phất bóng dáng
cái tôi tác giả. Thạch Lam đã thể hiện cái tôi của mình ẩn kín sau nhân vật.
Dường như, ông đã viết truyện ngắn "Hai đứa tre" bằng chính những trải
nghiệm tuổi thơ ở phố huyện Cẩm Giàng. Đọc truyện, không thể không nhận
thấy cái tình âu yếm mà Thạch Lam dành cho nhân vật. Cái tình âu yếm ấy một
mặt xuất phát từ cái nhìn nhân hậu, yêu thương mà người lớn dành cho lứa tuổi
này, một mặt là do nhà văn đã hoá thân vào nhân vật, là sự ám ảnh của tuổi thơ
gắn liền với phố huyện Cẩm Giàng. Sự cộng hưởng của những cảm xúc này để
tạo cho những trang viết Thạch Lam một sự hoà quyện giữa chất thực và chất
thơ để tạo thành một sức hút da diết, bền lâu của tác phẩm.
Có người đã từng cho rằng: truyện ngắn Hai đứa trẻ là một trong những
tác phẩm tiểu biểu cho văn xuôi lãng mạn Việt Nam. Chúng ta biết rằng dụng
nghệ thuật miêu tả tương phản là yêu cơ bản của văn học lãng mạn. Bởi nó làm

Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một tác phẩm giàu chất thơ. Làm nên chất
thơ, chất lãng mạn đó, là sự hội tụ nhiều yếu tố, trong đó ngôn ngữ kể chuyện
đóng một phần rất quan trọng. Thạch Lam đã sử dụng bút pháp trữ tình đặc sắc
trong lời kể, giọng kể. Một cách viết hoà hợp sự trong sáng, chính xác và dịu
dàng, hoà hợp sự kín đáo và giản dị như một lời thủ thỉ vừa phải, êm đềm nhỏ
nhẹ nhưng có thể phân biệt được từng âm vị. Thạch Lam ít dùng những chữ to
tát, những nhịp điệu gấp gáp vội vàng, lời văn của ông nhuần nhuyễn, tinh tế để
phô diễn những trạng thái, những cảm xúc trong tâm hồn. Câu văn của Thạch
Lam nhiều thanh bằng gợi một nhịp điệu chậm buồn nhưng có sức lan toả.
Chẳng hạn khi miêu tả vẻ trầm buồn nhưng cũng rất đỗi nên thơ của phố huyện,
Thạch Lam đã viết: "Chiều, chiều rồi, một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng
ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào…" Hay miêu tả cảnh
đêm tối sau khi chuyến tàu đi qua: "Đêm tối vẫn bao bọc xung quanh, đêm của
đất quê, và ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng". Thạch Lam đã sáng
tạo ra một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng để biểu đạt cái xao động của sự sống
khẽ vang lên trong không gian, thời gian tĩnh mịch để diễn tả cái thanh thoát,
dịu hiền của tâm hồn Liên: êm ả, yên lặng, thong thả, gượng nhẹ, nhỏ xíu, yên
tĩnh, mơ hồ, miên man, tĩnh mịch … Những từ ngữ này liên kết với nhau như
một dải lụa nhẹ bay để tạo một dư âm sâu lắng trong tâm hồn người đọc.
Văn phong Thạch Lam rất bình dị: Câu văn ngắn, nhịp văn chậm rãi,
thong thả. Dù diễn tả cái náo nức bên trong, cái sôi động của ước mơ, Thạch
Lam vẫn rất nhẹ nhàng, vẫn tự nén ngòi bút. Chuyến tàu rực sáng vụt qua, Liên
xúc động mạnh khi kỉ niệm xưa dồn dập hiện về "Hà Nội xa xăm, Hà nội sáng
rực, vui vẻ và huyên náo". Đây là một trong số ít những câu văn kết hợp lối
trùng điệp và những thanh trắc tạo điểm nhấn và ngay câu sau Thạch Lam viết
ngắn hơn, nhẹ hơn, như ghìm giữ lại niềm xúc động: "Con tàu như đem một
chút thế giới khác đi qua". Thạch Lam thường sử dụng kiểu cú pháp đẳng lập,
đều đều, nhịp độ khoan thai điềm tĩnh mà vẫn gây những chấn động nhẹ nhàng,
thấm thía chính là ở độ nén của cảm xúc mà nhà văn tạo ra trong những câu
văn.

Hiện thực xã hội được nhà văn hình tượng hóa qua các hình thức nghệ
thuật như : Không thời gian nghệ thuật, nhân vật, kết cấu…Đúng như có nhà
phê bình đã nhận xét : truyện ngắn Hai đứa trẻ có thể gói gọn trọng một chữ
TÀN. Thời gian TÀN, không gian TÀN và những kiếp người TÀN.
Về không - thời gian nghệ thuật. Có thể nói không gian nghệ thuật trong
Hai đứa trẻ là không gian của bóng tối. Những khoảng tối của không gian và thời
như chụp lên cuộc đời và tâm tưởng các nhân vật. Đặc điểm không gian trong
sáng tác của Thạch Lam là không gian đời thường, bình dị, nơi gắn liền với
những sinh hoạt của cộng đồng, của con người. Trong Hai đứa trẻ đó là không
gian ở một ga tàu, nơi phố huyện nghèo Cẩm Giàng. Đó là không gian có thật,
không gian của hiện thực. Diện mạo phố huyện được Thạch Lam tái hiện là một
khung cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya. Hàng ngày, những cái
ồn ào của buổi sáng làm không khí bị nhoè đi trong nắng như đến chiều thì cái bộ
mặt thật của phố huyện hiện ra với tất cả những cái tiêu điều, xác xơ, tàn lụi.
Thạch Lam đã chọn một phiên chợ tàn để nói lên được tất cả bộ mặt của phố
huyện. Chợ là nơi biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong
mĩ tục của làng quê. Người ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên
đông vui tấp nập. Thạch Lam đã chọn ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều
của phố huyện. Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đã tả những phế
17


phẩm còn lại của buổi chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay vơi của
phố huyện. Tả những con người cuối cùng trao đổi với nhau rồi bước vào các
ngỏ tối. Rác chỉ là những thứ phế thải vớ vẫn “rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn
và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn còn ra bòn mót, nhặt nhạnh.
Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém lắm, đã yếu lắm rồi. Người bán
trông vào người mua và ngược lại nhưng chỉ là sự vô vọng, lẩn quẩn, trông chờ
vào sự vô vọng. Mùi vị toả ra trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để
nói tới sự nghèo nàn. Đó là mùi bã mía, vỏ bưởi, vỏ thị, đất ẩm, mùi khói, mùi

thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng: từ hình ảnh mẹ con chị Tí, bác Siêu,
bà cụ Thi… cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về
muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo… Tất cả họ không được Thạch Lam miêu
tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân,… nhưng có lẽ nhờ thế mà số phận họ hiện lên
18


càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ giống
như những cái bóng lầm lũi, lặng lẽ trong cái bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả
phố huyện. Những con người nghèo khổ, thân phận bé mọn, hèn kém ấy mỗi
người một nghề, một cảnh ngộ đã góp vào bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện
chiều tà đến đêm khuya những nét sinh hoạt của cuộc sống. Nhưng đây không
phải nét sinh hoạt bình thường mà là cuộc mưu sinh chật vật, khốn cùng, mòn
mỏi.
Dựng lại bức tranh phố huyện nghèo với những chi tiết chân thực về thời
gian và không gian và cuộc sống con người như thế, ngòi bút Thạch Lam đậm
chất hiện thực không thua kém bất cứ cây bút nào của dòng hiện thực phê phán
cùng thời. Cùng với yếu tố hiện thực văn Thạch Lam thấm thía chất trữ tình
lãng mạn. Tất cả các chi tiết, sự việc, tâm trạng nhân vật trong bức tranh phố
huyện đều được cảm nhận bằng tấm lòng chia sẻ, cảm thông của nhân vật Liên,
một mảnh hồn của nhà văn hóa thân vào rất tự nhiên, tinh tế. Đây là hình ảnh
thu nhỏ của biết bao làng quê, thị trấn, thị xã, phố huyện trên đất nước Việt
Nam thời kì thực dân Pháp đô hộ. Viết về cảnh đời, kiếp người tàn tạ, đói nghèo
như thế, Thạch Lam biểu hiện một nỗi xót thương thấm thía. Ông không chỉ sẻ
chia những đau khổ của con người, nhất là những tầng lớp dưới đáy xã hội mà
còn đồng tình với họ, hi vọng, đợi chờ một ngày mai tươi sáng đến với cuộc đời
của họ. Giá trị nhân đạo nhân văn của Thạch Lam là ở chỗ đó. Buồn thương
nhưng không tuyệt vọng, bế tắc.
3. Hệ thống câu hỏi để dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ theo đặc
trưng thể loại

- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng vận dụng những kiến thức về đặc trưng thể
loại của truyện ngắn lãng mạn và hiện thực vào đọc hiểu tác phẩm
- Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh có khả năng sử dụng kiến thức
về đặc trưng thể loại truyện lãng mạn và hiện thực để tìm hiểu truyện ngắn Hai
đứa trẻ và một số tự sự cùng thời kì.
- Cách thức dạy học: Giáo viên có thể sử dụng ở phần hướng dẫn học sinh
củng cố và luyện tập sau bài học.
- Ví dụ:
Truyện này vừa mang chất hiện thực, vừa mang chất trữ tình. Điều này
được thể hiện như thế nào?
Hai đứa trẻ có vị trí như thế nào trong sự nghiệp sáng tác của Thạch Lam?
Theo anh chị truyện ngắn Hai đứa trẻ có tác dụng như thế nào đối với độc
giả thời nay?
3.1.4. Câu hỏi phân tích
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng phát hiện những kiến thức bị che lấp hoặc chỉ
ra được mối liên hệ kiến thức trong một vấn đề.
- Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh có khả năng nhìn nhận, phát
hiện vấn đề bị che khuất hoặc đánh lừa. Chỉ ra được mối liên hệ của kiến thức
trong một vấn đề từ đó phát triển được tư duy logic.
- Cách thức dạy học: Giáo viên có thể sử dụng ở những bài thi đề kiểm tra.
- Ví dụ:
Phân tích nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ để thấy được tấm lòng
của nhà văn Thạch Lam?
Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tà để thấy được chất thơ trong
giọng văn của Thạch Lam
Phân tích hình ảnh bóng tối và ánh sáng trong tác phẩm Hai đứa trẻ để thấy
được đặc trưng của truyện ngắn Thạch Lam?
3.1.5. Câu hỏi tổng hợp
- Mục tiêu: Kiểm tra khả năng tổng hợp kiến thức của học sinh. Khái quát,
nâng cao kiến thức từ những cái đã có.

của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học”.
Anh, chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua tác phẩm Hai đứa trẻ, hãy chứng
minh ý kiến đó.
3.2. Hệ thống câu hỏi cảm thụ
3.2.1. Câu hỏi hình dung tưởng tượng
Với hệ thống câu hỏi này giáo viên từng bước dẫn dắt học sinh vào thế
giới hình ảnh, nhân vật, chi tiết của tác phẩm bằng cảm nhận rất riêng của các
em. Từ những câu hỏi hình dung tưởng tượng học sinh không những nắm được
kiến thức một cách tự nhiên mà còn có thể sáng tạo trên nền kiến thức mà giáo
viên hướng dẫn
Ví dụ :
- Từ những chi tiết về âm thanh, hình ảnh được miêu tả trong truyện,
anh (chị) có hình dung như thế nào về bức tranh phố huyện lúc chiều tàn?
- Nếu được thay lời nhân vật Liên để nói lên một mơ ước, anh (chị) sẽ
nói điều gì?
- Nếu như tiếng còi tàu không xuất hiện mỗi lúc về đêm, anh (chị) thử
hình dung xem cuộc sống của con người nơi đây sẽ như thế nào?
3.2.1. Câu hỏi cảm xúc

21


Để trong quá trình phân tích, học sinh có thái độ “nhập cuộc”, giáo viên
phải để cho các em có cơ hội bày tỏ cảm xúc, tình cảm của mình đối với tác
phẩm. Tất nhiên, ta chỉ hướng học sinh đến những nội dung chính của tác
phẩm. Trong trường hợp đưa ra những câu hỏi cảm xúc, một mặt, để kích thích
các em bộc lộ cảm xúc, mặt khác giáo viên phải thăm dò các trạng thái tình cảm
của các em để có hướng điều chỉnh cho phù hợp. phải nhạy cảm để nhận ra
những rung động từ các yếu tố nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đem tới.
Chẳng hạn các em phải cảm nhận được cái cảm giác man mác buồn khi nghe

Tiếp theo là những câu hỏi với yêu cầu cao hơn, đó là các em phải có khả
năng phân tích, lí giải các vấn đề thuộc nội dung và nghệ thuật của truyện. Có
nhiều vấn đề để hỏi nhưng cần chú ý nhiều đến nhân vật Liên, một nhân vật
được xem là linh hồn, cảm hứng của truyện. Gợi ý để học sinh hiểu được những
22


nét tính cách của Liên như: có tâm hồn, biết động lòng trước nỗi đau của người
khác, biết suy nghĩ, trầm tư trước cuộc sống hiện tại, biết ước mơ một cuộc
sống tươi sáng... Tập trung hướng cho học sinh khai thác các chi tiết nghệ thuật
mang cảm xúc của nhà văn như hình ảnh bóng tối; ngọn đèn ở gian hàng chị Tí;
giọng văn nhẹ nhàng, câu văn ngắn gọn, giản dị…để các em nhận ra tấm lòng
của nhà văn, một tấm lòng nhân ái, bao la. Từ những vấn đề cụ thể, hướng học
sinh đi đến sự hiểu biết khái quát như chủ đề, giá trị tư tưởng của truyện…Điều
đặc biệt là giúp học sinh nhận ra phong cách nghệ thuật tiêu biểu của truyện
này, đâu là chất hiện thực và đâu là chất trữ tình.
Ví dụ:
- Anh (chị) có nhận xét gì về cảnh vật lúc chiều tàn nơi phố huyện?
- Ý nghĩa của việc tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần hình ảnh bóng tối?
- Qua những dòng suy nghĩ miên man của nhân vật Liên, anh (chị) có
nhận xét gì về đời sống tâm hồn của nhân vật này?
- Lối diễn đạt và cách sử dụng câu văn của tác giả trong truyện này có
gì đáng chú ý?
- Vì sao hai chi em Liên thức và chờ đợi chuyến tàu đêm?
- Hình ảnh ngọn đèn dầu chị Tí và bóng đêm ở nhiều dạng xuất hiện.
Tại sao? (câu hỏi của thầy Nguyễn Viết Chữ)
- Qua truyện, anh (chị) cảm nhận được tấm lòng của nhà văn ra sao?
- Tác phẩm đã gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc sống của người lao
động nghèo ở nông thôn Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng 8-1945?
- Truyện này vừa mang chất hiện thực vừa mang chất trữ tình. Điều này

tiện cho việc hình dung còn trên thực thế giảng dạy giáo viên phải vận dụng
linh hoạt để giờ học đạt hiệu quả cao.

24


CHƯƠNG III – THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1. Thiết kế giáo án thể nghiệm:

HAI ĐỨA TRẺ
- Thạch Lam A - Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn
qua cảm nhận của hai đứa trẻ.
- Niềm xót xa, thương cảm của nhà văn trước cuộc sống quẩn quanh, tù
đọng của những người lao động nghèo nơi phố huyện và sự trân trọng nâng
niu những khát vọng nhỏ bé nhưng tươi sáng của họ.
- Tác phẩm đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất
thơ; là truyện tâm tình với lối kể thủ thỉ như một lời tâm sự.
2. Kỹ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích tìm hiểu tác phẩm theo đặc
trưng thể loại truyện
3. Thái độ: Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng yêu thương con
người
B - Chuẩn bị:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Đọc kĩ văn bản trong sách giáo khoa và nghiên cứu kĩ sách Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11 để xác định đúng yêu
cầu và hệ thống tri thức cơ bản, tri thức trọng tâm của bài giảng.
- Sưu tầm một số tranh ảnh minh họa cho bài giảng như ảnh Thạch Lam,
mộ Thạch Lam, ảnh minh họa văn bản… Tìm đọc một số tác phẩm khác của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status