MỤC LỤC
Mục
MỞ ĐẦU………………………………………………………………….
NỘI DUNG………………………………………………………………..
I. Nguyên tắc tập trung- dân chủ…………………………………………..
1. Một số quan điểm về nguyên tắc tập trung- dân chủ……………………
2. Cơ sở pháp lý và bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản
Trang
1
1
1
1
lý hành chính nhà nước……………………………………………………. 2
3. Nguyên tắc tập trung- dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước ở
Việt Nam hiện nay………………………………………………………… 3
3.1 sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp………………………………………………………… 4
3.2 sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung
ương………………………………………………………………………. 5
3.3 Việc phân cấp quản lý…………………………………………………. 5
3.4 Hướng về cơ sở………………………………………………………
7
3.5 Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương…………………………………………………………………….. 7
II Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung- dân chủ trong quản lý hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay. …………………………………………... 8
KẾT LUẬN……………………………………………………………….. 9
phải đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ đồng thời đảm bảo mở rộng
dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
Quan điểm thứ hai, cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là “sự” tập trung
“một cách” dân chủ. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân
chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần
trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao. Quan điểm này thống nhất cho rằng nguyên tắc tập
2
trung- dân chủ chủ yếu bàn về sự tập trung, chẳng qua đi sâu hơn về vấn đề “tập
trung” trên cơ sở “ dân chủ”.
Còn có quan điểm thứ ba, cho rằng tập trung dân chủ là việc thủ trưởng có toàn
quyền quyết định các vấn đề của cơ quan trên cơ sở đóng góp ý kiến của nhân
viên. Hay nói một cách khác, việc đóng góp ý kiến của cán bộ, công nhân viên, các
thành viên trong cơ quan, đơn vị chỉ có ý nghĩa tham khảo và việc quyết định
thuộc thẩm quyền của thủ trưởng.
Riêng em đồng ý với quan điểm đầu tiên, tập trung-dân chủ là sự kết hợp hài
hòa giữa tập trng và dân chủ, vì vậy, sau đây bài viết xin được phân tích theo
hướng của ý kiến này
2. Cơ sở pháp lý và bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý
hành chính nhà nước.
Về cơ sở pháp lý, nguyên tắc tập trung- dân chủ được quy định từ Điều 4 Hiến
pháp năm 1959 “ Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước
khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.” ( Điều 4) Và được kế thừa, phát
triển ở Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992, “ Quốc hội, hội đồng nhân dân và các
cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ.” ( Điều 6)
Về bản chất, nguyên tắc tập trung- dân chủ là nguyên tắc cơ bản, không những
được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước mà tổ chức của
Tóm lại về bản chất, nguyên tắc tập trung- dân chủ là sự kết hợp giữa hai yếu
tố tập trung và dân chủ, nghĩa là vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân
chủ; vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung.
3. Nguyên tắc tập trung- dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
Nguyên tắc tập trung- dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước được biểu
hiện ở những nội dung sau:
3.1 sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà
nước cùng cấp.
Hiến pháp nước ta đã ghi nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân. Người dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan
4
quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt họ trực tiếp thực hiện quyền
lực đó. Điều 6 Hiến pháp 1992 đã quy định: “ Nhân dân sử dụng quyền lực nhà
nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
nhân dân.”
Để thực hiện được chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội, một hệ thống các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa
phương đã được hình thành. Trong tổ chức và hoạt động các cơ quan hành chính
nhà nước luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Trước hết, cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong
việc thành lập, sáp nhập hay giải thể các cơ quan hành chính cùng cấp. Ở trung
ương, Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho nó quyền hành pháp. Ở địa
phương, các ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và thực hiện
hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa phương. Các cơ quan khác trong hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước ( bộ, cơ quan ngang bộ…) đều do cơ quan
động mọi khả năng về trí tuệ, lao động…để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Có
như vậy mới khắc phục được tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí làm mất đi tính chủ
độn sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của cấp dưới và địa phương.
3.3 Việc phân cấp quản lý.
Từ nghị quyết đại hội IX của Đảng, vấn đề phân cấp- phân quyền cho địa
phươgn đã được đặt thành vấn đề cấp thiết và bắt đầu đi vào thức tế bằng việc ban
hành một số pháp lệnh, nghị định cụ thể như: pháp lệnh Thủ đô; Nghị định
93/2001/NĐ-CP của Chính phủ về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho thành phố
Hồ Chí Minh;…
Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới
nhằm đạt được một cách hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành
chính nhà nước. Khi tiến hành phân cấp quản lý, đã có sự phân định rõ chức trách,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp trong bộ máy hành chính nhà nước. mỗi cấp quản
lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương tiện cần thiết để
thực hiện tốt nhẵng nhiệm vụ của cấp mình. Trong phạm vi phẩm quyền được giao
mỗi cấp quản lý được phép tiến hành những hoạt động nhất định nhằm phát huy
tính năng động sáng tạo của mình.
6
Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên
điều này chỉ thực sự được thực hiện khi việc phân cấp quản lý đảm bảo được
những yêu cầu sau đây:
-
Trung ương phải có quyền quyết định trong những lĩnh vực then chốt,
những vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối và hài hòa
của toàn xã hội, đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước trong
Do vậy trách nhiệm của mọi cơ quan nhà nước là phải tạo điều kiện thuận lợi cho
các đơn vị kinh tế, văn hóa- xã hội hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Hướng về cơ sở chính là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rông dân
chủ trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị
kinh tế, văn hóa- xã hội trực thuộc. các đơn vị đó trước hết là những tế bào của nền
kinh tế quốc dân, nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, được nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu các tài sản hợp pháp, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh,
đồng thời cũng được nhà nước hướng dẫn giúp đỡ về tinh thần, vật chất. Các đơn
vị văn hóa – xã hội của hệ thống các đơn vị cơ sở luôn được nhà nước quan tâm,
cung cấp những trang thiết bị cần thiết để hoạt động, giúp đỡ về vật chất, tinh thần
nhằm tạo ra những điều kiện tốt nhất để các đơn vị này hoạt động có hiệu quả.
Song song với những việc làm trên, nhà nước cũng có các chính sách và biện pháp
quản lý một cách thống nhaatscacs đơn vị cơ sở. Có như vậy mới thúc đẩy mọi
hoạt động của các đơn vi kinh tế, văn hóa – xã hội này phát triển một cách mạnh
mẽ theo đúng định hướng của Nhà nước.
3.5Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Các cơ quan hành chính ở địa phương đều được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc phụ thuộc hai chiều hay còn gọi là nguyên tắc song trùng trực thuộc. Sự
phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, và được pháp luật quy định một cách cụ thể.
Ở địa phương, trước hết Ủy ban nhân dân các cấp phụ thuộc vào Hội đồng
nhân dân các cấp ( mối phụ thuộc ngang). Đồng thời chúng còn phụ thuộc vào các
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên trực tiếp ( mối phụ
thuộc dọc). Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ( sửa đổi) quy định
ủy ban nhân dân là do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra…Kết quả bầu chủ tịch
ủy ban nhân dân phải được chủ tịch ủy ban nhân dan cấp trên trực tiếp phê chuẩn;
kết quả bầu các thành viên của ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng
Chính phủ phê chuẩn và ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trách nhiệm trước nhân dân và không chịu sự giám sát của nhân dân. Các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kịch liệt phê phán cơ chế tập trung quan liêu
đó. Đối với bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một nguyên tắc mới đã được vận
dụng, đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung của nguyên tắc trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước có biểu hiện rất phong phú và đa dạng, nhưng
9
thể hiện một cách khái quát ở việc phân công công việc, mối quan hệ qua lại giữa
các cơ quan nhà nước (ở trung ương cũng như ở các cấp địa phương), sự phân cấp
về thẩm quyền (nhiệm vụ, quyền hạn), mối quan hệ giữa trung ương với địa
phương, giữa các cấp địa phương với nhau. Trong từng cơ quan nhà nước, những
vấn đề nào do tập thể quyết định; những vấn đề nào do người đứng đầu quyết định;
qui định cách thức quyết định những vấn đề đó.
Không chỉ thế, nguyên tắc tập trung- dân chủ còn góp phần bác bỏ tình trạng
lạm quyền của cấp trên và cả thực tế cơ quan cấp trên “ làm thay”, “lấn sân” vào
thẩm quyền của cơ quan cấp dưới. Đồng thời cũng phủ nhận việc cơ quan cấp dưới
ỷ lại, đùn đẩy công việc cho cơ quan cấp trên, và khuyến khích cấp dưới tham gia
vào việc giải quyết các vấn đề chung, đề xuất ý kiến để giải quyết công việc một
cách hiệu quả nhất.
KẾT LUẬN
Qua việc phân tích trên đây, chúng ta phần nào hiểu được nguyên tắc tập trungdân chủ và ý nghĩa của nguyên tắc này trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt
Nam hiện nay. Vấn đề áp dụng nguyên tắc tập trung- dân chủ như thế nào trong
quản lý hành chính nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của từng cơ quan sao cho
hai mặt tập trung và dân chủ được kết hợp một cách hơp lý tối ưu, phù hợp bản
chất, đăc thù của vị trí chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan vào từng thời điểm
lịch sử cụ thể luôn luôn là vấn đề cấp bách của khoa học lý luận quản lý nhà nước
và luật hành chính. Mà các nhà làm luật cũng như cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cần nghiên cứu và dần sửa đổi sao cho phù hợp nhất.